MỞ ĐẦU Nguồn nhân lực được dùng để mô tả cho cả hai khái niệm gồm những người làm việc trong một công ty hoặc tổ chức và bộ phận chịu trách nhiệm quản lý tất cả vấn đề liên quan tới người lao động, những người đại diện cho một trong những nguồn lực giá trị nhất trong bất kì doanh nghiệp hay tổ chức nào. Đây là yếu tố quyết định cho mọi cơ quan, tổ chức trong việc đạt được các mục tiêu đề ra [53]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), nhân lực y tế là tất cả những người tham gia vào các hoạt động nâng cao sức khỏe của người dân. Nhân viên y tế (NVYT) bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: bác sĩ, điều dưỡng, y tế công cộng, dược sĩ, kỹ thuật viên những người quản lý và nhân viên khác: kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý.
Họ có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân [88]. Tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực y tế là vấn đề mà nhiều khu vực trên thế giới phải đối mặt. Theo báo cáo số lượng NVYT tính đến năm 2020, một nửa các quốc gia thành viên của TCYTTG có ít hơn 2 bác sĩ trên 1.000 dân số, 65% quốc gia có ít hơn 5 điều dưỡng và nữ hộ sinh trên 1. Hiện tại, ngành y tế Việt Nam cũng không nằm ngoài tình trạng thiếu hụt nhân lực y tế.
Năm 2020, với 9 bác sĩ và 11 điều dưỡng phục vụ 10.000 dân, Việt Nam thuộc nhóm các nước có số lượng bác sĩ và điều dưỡng thấp hơn chỉ số trung bình của các nước có thu nhập thấp và trung bình thấp của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương [65]. Sự hài lòng đối với công việc là những cảm xúc và đánh giá tích cực đối với công việc [70]. Sự hài lòng là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và năng suất của nguồn nhân lực [56]. Không thể có một hệ thống y tế hoạt động hiệu quả nếu không có một lực lượng lao động hài lòng [80].
Một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy sự hài lòng trong công việc của NVYT đảm bảo duy trì đủ nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế [45], [64], [73]. Trước hết, sự hài lòng trong công việc tác động trực tiếp đến NVYT. Những bác sĩ có mức độ hài lòng với công việc cao hơn thì kiệt sức ít hơn [71], giảm căng thẳng, gia tăng hứng. 2 thú với công việc và tham gia vào quá trình ra quyết định của cơ quan [85].
Sự hài lòng công việc có mối liên quan đến ý định rời bỏ môi trường làm việc hiện tại. Sự hài lòng công việc càng thấp thì khả năng nghỉ việc càng cao [59]. Một số nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa sự hài lòng của NVYT và sự hài lòng của người bệnh [44], [50]. Nghiên cứu tại Mỹ năm 2004 cho thấy, những bệnh nhân có triệu chứng đau và trầm cảm được điều trị bởi bác sĩ hài lòng cao với công việc thì xếp loại dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cao hơn [50].
BV huyện Bình Chánh là BV tuyến huyện, được xếp loại là BV hạng II, trực thuộc Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM). BV có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho người dân trên địa bàn huyện và vùng lân cận. Từ năm 2019, Uỷ ban Nhân dân huyện Bình Chánh đã ban hành quyết định BV huyện Bình Chánh thực hiện tự chủ tài chính [37]. Tháng 9/2018, BV huyện Bình Chánh vừa khánh thành và đưa vào hoạt động cơ sở mới với qui mô 340 giường bệnh và 26 khoa/phòng [2].
Vì thế, BV huyện Bình Chánh cần đảm bảo đội ngũ NVYT để đáp ứng với nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Tuy nhiên, năm 2019 có tới 45 NVYT nộp đơn xin thôi việc và chỉ trong sáu tháng đầu năm 2020, đã có 31 nhân viên nghỉ việc [3]. Hàng năm, BV có những báo cáo đánh giá sự hài lòng của NVYT theo quy định của Bộ Y tế [9]. Năm 2019, BV huyện Bình Chánh có kết quả hài lòng trong NVYT đạt 55% [1].
Dựa trên những báo cáo này, BV đã có những điều chỉnh để giải quyết vấn đề nghỉ việc của nhân viên, tuy nhiên số lượng nhân viên nghỉ việc vẫn khá cao [3]. Việc đánh giá sự hài lòng với công việc của NVYT tại BV là hết sức cần thiết trong công cuộc đổi mới và phát triển BV. Vì thế, nghiên cứu này thực hiện với kỳ vọng đánh giá lần nữa tỉ lệ hài lòng với công việc của NVYT tại BV huyện Bình Chánh và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của NVYT dựa trên những gợi ý từ các nghiên cứu trong và ngoài nước. Nghiên cứu giúp cho Ban lãnh đạo BV hiểu được tâm tư, nguyện vọng và sự hài lòng với công việc của nhân viên cũng như có thêm bằng chứng khoa học để đưa ra những giải pháp khắc phục và chiến lược quản lý nguồn nhân lực phù hợp.
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Tỉ lệ hài lòng với công việc của NVYT tại BV huyện Bình Chánh là bao nhiêu? Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng với công việc của NVYT tại BV huyện Bình Chánh là gì? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát Xác định tỉ lệ và các yếu tố liên quan tới sự hài lòng với công việc của NVYT tại BV huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021. Mục tiêu cụ thể 1. Xác định tỉ lệ hài lòng với công việc của NVYT tại BV huyện Bình Chánh năm 2021 theo thang đo JSS (Job Satisfaction Survey). Xác định mối liên quan giữa đặc điểm dân số xã hội, đặc điểm công việc, đặc điểm cơ sở vật chất và sự hài lòng với công việc của NVYT tại BV huyện Bình Chánh năm 2021.
4 DÀN Ý NGHIÊN CỨU Đặc điểm dân số xã hội Giới tính Tuổi Tình trạng hôn nhân Sống chung với gia đình Khoảng cách từ nơi ở đến bệnh viện Chuyên môn đào tạo Bằng cấp cao nhất Hài lòng với công việc (Thang đo JSS) Đặc điểm công việc Đặc điểm cơ sở vật chất Số năm công tác trong ngành y Thiết bị tại khoa/phòng Số năm công tác tại bệnh viện Nguồn lực tại khoa/phòng Vị trí công tác Khuôn viên bệnh viện Phạm vi hoạt động Cách bố trí bệnh viện Kiêm nhiệm Số lần trực trong tháng Số lần thuyên chuyển công tác. Nhân viên y tế 1. Khái niệm về nhân viên y tế Theo TCYTTG, NVYT là tất cả những người tham gia vào các hoạt động nâng cao sức khỏe của người dân. NVYT bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: bác sĩ, điều dưỡng, y tế công cộng, dược sĩ, kỹ thuật viên, những người quản lý và nhân viên khác: kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý,.Tuy nhiên, những người quản lý và các nhân viên khác thường bị lãng quên trong các cuộc thảo luận về lực lượng y tế.
Họ được ví như xương sống vô hình của các hệ thống y tế và nếu họ không có mặt đủ số lượng với các kỹ năng thích hợp, hệ thống không thể hoạt động được. NVYT góp phần quan trọng và quyết định việc thực hiện chức năng của hầu hết các hệ thống y tế [87]. Theo định nghĩa của Bộ Y tế Việt Nam ―NVYT là toàn bộ số lao động hiện đang công tác trong các cơ sở y tế (kể cả công và tư, kể cả biên chế và hợp đồng)‖. Việc phân loại các NVYT tại Việt Nam dựa trên các tiêu chí về giáo dục và đào tạo nghề, quy định về chuyên môn y tế và các hoạt động, nhiệm vụ liên quan trong công việc [7].
Tình hình nguồn nhân lực y tế thế giới và Việt Nam 1. Thực trạng nguồn nhân lực y tế trên thế giới Dựa trên số liệu thống kê của quốc gia, các nguồn giám sát về lao động năm 2006, WHO ước tính có khoảng 59,2 triệu NVYT chính thức được trả lương trên toàn thế giới. Họ làm việc tại những cơ sở y tế và trong những cơ sở không phải là y tế (các công ty, trường học). Nhiệm vụ chính của NVYT là cải thiện sức khỏe thông qua các chương trình y tế hoạt động bởi các tổ chức chính phủ hoặc phi chính phủ.
Theo báo cáo, nhân viên cung cấp dịch vụ y tế chiếm khoảng 2/3 tổng số nguồn nhân lực y tế toàn cầu, còn lại là những người quản lý và nhân viên khác [87]. Số lượng nhân viên y tế ở các khu vực trên thế giới năm 2006 Tổng số Nhân viên cung cấp Ngƣời quản lý và Khu vực nhân viên y tế dịch vụ y tế nhân viên khác theo WHO Mật độ/ % tổng Số % tổng Số lượng Số lượng 1.000 dân số NVYT lượng số NVYT Châu Phi 1.000 25 Đông Đông Nam 7.000 23 Bình Dương Châu Âu 16.000 33 (Nguồn: World Health Organization, 2006 [87]) Theo báo cáo số lượng NVYT tính đến năm 2020, một nửa các quốc gia thành viên của WHO có ít hơn 2 bác sĩ trên 1000 dân số. Cũng theo báo cáo này, có ít hơn 5 điều dưỡng và nữ hộ sinh trên 1000 dân số ở 65% quốc gia. Số lượng NVYT được phân bổ không đồng đều trên toàn thế giới.
Các quốc gia có nhu cầu tương đối thấp thì số lượng NVYT cao, trong khi những quốc gia có gánh nặng bệnh tật lớn phải làm việc với lực lượng lao động y tế ít ỏi [89]. Tình hình nguồn nhân lực y tế Việt Nam Năm 2013, Việt Nam có 419.542 nhân viên làm việc trong hệ thống y tế nhà nước. Trong đó, gần 85% là những người cần có chứng chỉ hành nghề khi làm việc, bao gồm: bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên và còn lại là các nhân viên phục vụ khác như dược sĩ, kỹ sư, kế toán, công nhân kỹ thuật,…[34]. Số lượng nhân viên y tế tại Việt Nam trong 5 năm (2009-2013) Nhân lực y tế 2009 2010 2011 2012 2013 Bác sĩ 56.083 Thạc sĩ và cử nhân y tế công 461 650 925 1.999 Điều dưỡng đại học 2.981 Kỹ thuật viên 13.046 Dược sĩ trung học và kỹ thuật 38.328 viên dược Điều dưỡng trung học 64.369 Hộ sinh đại học, cao đẳng và 23.837 trung học Điều dưỡng sơ học 8.339 Hộ sinh sơ học 1.561 Đại học và sau đại học khác 15.752 Cao đẳng và trung học khác 9.237 (Nguồn: Tổ chức Y tế thế giới, 2018 [34]) Dựa trên số liệu mới nhất vào năm 2016, Việt Nam có tổng cộng 77.432 điều dưỡng và nữ hộ sinh [89].
Số bác sĩ phục vụ năm 2012 là 7,34/10.000 dân đến năm 2013 tăng lên 7,61/10.