Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bảo quản thuốc Thuốc là loại hàng hoá đặc biệt, có nguồn gốc rất đa dạng, để điều trị và dự phòng các bệnh tật. Đặc tính của thuốc liên quan đến tính chất lý hoá và cấu trúc hóa học của thuốc, chỉ cần một vài thay đổi nhỏ trong cấu trúc hóa học của thuốc cũng có thể ảnh hưởng lớn đến hoạt tính của thuốc và làm thay đổi tác dụng của thuốc trong cơ thể. Vì vậy, thuốc nếu bảo quản không tốt, không đúng rất dễ bị hư hỏng trong quá trình tồn trữ, lưu thông và sử dụng.
Điều này không chỉ gây thiệt hại về mặt kinh tế mà quan trọng hơn là có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khoẻ của người dùng. Mục tiêu của công tác bảo quản thuốc là nhằm “Đảm bảo đủ, kịp thời thuốc có chất lượng, giá cả hợp lý cho công tác phòng và chữa bệnh cho cộng đồng” mà Chính sách thuốc Quốc gia đã đề ra [33]. Công tác bảo quản không chỉ có ý nghĩa về mặt chuyên môn, đảm bảo chất lượng thuốc, mà còn có ý nghĩa về mặt kinh tế xã hội của một quốc gia giúp sử dụng nguồn thuốc có hiệu quả, kinh tế nhằm giảm chi phí khám chữa bệnh từ ngân sách, cũng như của bệnh nhân. Ở nước ta, khí hậu nhiệt đới ẩm là điều kiện không thuận lợi trong công tác tồn trữ.
Điều kiện kho tàng và các trang thiết bị phục vụ cho công tác bảo quản thuốc chưa đầy đủ. Vì vậy công tác bảo quản càng quan trọng và cần được quan tâm nhiều hơn. Những yếu tố môi trường ảnh hưởng đến chất lượng, tác hại thuốc và các biện pháp bảo quản Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng thuốc trong quá trình bảo quản có thể kể đến là yếu tố vật lý, hoá học, sinh học như nấm mốc, vi khuẩn, các loại côn trùng. 4 Các yếu tố trên không những làm thuốc giảm, mất tác dụng điều trị mà còn tạo ra những sản phẩm phân hủy có hại.
Thuốc chưa hết hạn dùng đã bị hỏng, phải hủy bỏ không sử dụng được. Các biện pháp khắc phục các yếu tố ảnh hưởng từ môi trường nhằm bảo đảm chất lượng thuốc [36]. Các yếu tố vật lý 1. Độ ẩm Độ ẩm không khí là yếu tố gây ảnh hưởng nhiều nhất trong việc làm giảm chất lượng của thuốc, gây hư hỏng cho các loại thuốc, hóa chất dễ hút ẩm - giảm tính ổn định của thuốc.
Do vậy, chống ẩm cho thuốc cần được chú ý trong suốt quá trình bảo quản. Một số khái niệm về độ ẩm: - Độ ẩm tuyệt đối: là lượng hơi nước thực tế đang có trong một đơn vị thể tích không khí của môi trường. - Độ ẩm cực đại: là lượng hơi nước tối đa mà một đơn vị thể tích không khí có thể chứa được trong một điều kiện nhiệt độ và áp suất nhất định. - Độ ẩm tương đối: là tỷ lệ phần trăm giữa độ ẩm tuyệt đối và độ ẩm cực đại.
Độ ẩm tương đối càng thấp thì không khí càng khô hanh, ngược lại độ ẩm tương đối càng cao thì không khí càng ẩm ướt. Trên thực tế, nếu độ ẩm tương đối nhỏ hơn 30% sẽ rất khô hanh và không khí rất ẩm ướt khi lớn hơn 70%. - Nhiệt độ điểm sương: là nhiệt độ ở đó khối không khí chưa bão hòa hơi nước trở thành bão hòa hơi nước với điều kiện hàm ẩm không thay đổi. Hay nói cách khác, khi độ ẩm tuyệt đối vượt quá độ ẩm cực đại sẽ xảy ra hiện tượng đọng những giọt nước nhỏ (động sương) thì nhiệt độ lúc đó được gọi là nhiệt độ điểm sương.
5 Tác hại của độ ẩm - Độ ẩm không khí là yếu tố có ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng thuốc và dụng cụ y tế trong quá trình bảo quản. Độ ẩm không khí cao hay quá thấp đều có ảnh hưởng không tốt đến chất lượng thuốc bảo quản. - Tác động của độ ẩm cao có thể gây ra thủy phân một số thuốc mang nhóm chức dễ bị thủy phân hóa như: ester, amid, hydrazid,. Độ ẩm cao làm phân hủy các thuốc dễ hút ẩm (chất đông khô, thuốc sủi bọt.), vón cục thuốc bột, các viên bao đường, viên nang sẽ bị chảy dính.
Độ ẩm không khí cao làm tăng trưởng vi khuẩn, ẩm mốc và làm loãng hay giảm nồng độ một số thuốc, hoá chất như siro, glycerin, cồn cao độ, acid sulfuric. Độ ẩm không khí tăng ảnh hưởng đến lý tính của các dược phẩm ngậm nước, thúc đẩy các quá trình hóa học như thủy phân tạo ra sản phẩm phân hủy, tạo ra các thay đổi bên ngoài (màu sắc, mùi vị) và làm giảm nồng độ hoạt chất dẫn đến việc thuốc giảm hoặc mất tác dụng. Ngược lại nếu độ ẩm không khí giảm thường kèm theo sự tăng nhiệt độ sẽ làm giảm hàm lượng nước kết tinh trong thuốc. Do đó làm tăng nồng độ chế phẩm đồng thời thay đổi lý tính (các dạng kết tinh, độ hòa tan).
Các biện pháp chống ẩm Nguyên tắc chung là muốn chống ẩm phải áp dụng mọi cách nhằm hạ thấp lượng hơi nước có trong không khí, có nhiều biện pháp để làm giảm độ ẩm môi trường bảo quản, trong số đó các phương pháp thường được áp dụng trong các kho dược là: - Thông gió tự nhiên: Đây là cách làm đơn giản, tiết kiệm nhất, dễ thực hiện nhất và có thể áp dụng rộng trong công tác bảo quản. - Thông gió nhân tạo: Hiện nay, do trình độ phát triển của khoa học công nghệ, người ta chế tạo được nhiều máy móc thiết bị chống ẩm hiện đại như quạt hút, 6 quạt gió, máy hút ẩm, máy điều hòa nhiệt độ,. Việc sử dụng các thiết bị này có ưu điểm là chủ động mọi thời tiết, tuy nhiên nhược điểm là phụ thuộc vào trang thiết bị. - Dùng chất hút ẩm: Ngoài các phương pháp thông gió để chống ẩm, người ta còn dùng các chất hút ẩm để chống ẩm.
Phương pháp này chỉ được áp dụng khi bảo quản thuốc trong phạm vi không gian bảo quản hẹp như hòm, tủ, hộp,… không áp dụng được với kho có không gian rộng. Nhiệt độ Đối với thuốc và dụng cụ y tế, bảo quản trong điều kiện nhiệt độ quá cao hay quá thấp đều có ảnh hưởng không tốt. Tuy nhiên, nhiệt độ cao thường có tác hại nhiều hơn. Nhiệt độ cao làm biến đổi hình thức cảm quan và cả thành phần hóa học của thuốc với các biểu hiện như mất nước kết tinh trong các dạng thuốc hydrat hóa, làm bốc hơi một số thuốc ở thể lỏng dễ bay hơi hay hoá chất bị thăng hoa như cồn, ether, tinh dầu, long não,… làm thay đổi trạng thái như nóng chảy thuốc đạn, cao xoa,… Nhiệt độ cao làm hư hỏng một số loại thành phẩm như cồn thuốc, cao thuốc, thuốc tạng liệu, thuốc viên, vaccin, kháng sinh,… Ngoài ra nhiệt độ tăng cao còn tạo thuận lợi cho các vi sinh vật chịu nhiệt phát triển.
Về phương diện hoá học nhiệt độ cao xúc tác và làm tăng tốc độ các phản ứng phân hủy thuốc. Trong quá trình bảo quản, nhiệt độ môi trường bảo quản quá thấp cũng là yếu tố làm hư hỏng một số thuốc như: các loại thuốc ở dạng nhũ tương dễ bị tách lớp, một số thuốc tiêm dễ bị kết tủa. Đặc biệt nhiệt độ lạnh gây ra những biến đổi như tái kết tinh, hóa rắn, kết thành khối hoạt chất, tá dược. Tác động của sự biến đổi nhiệt độ đột ngột có thể phá vỡ bao bì.
Có nhiều cách chống nóng cho thuốc, một cách đơn giản là thông gió để chống nóng. Cũng có thể áp dụng biện pháp chống nóng bằng cách ngăn không 7 để nắng chiếu trực tiếp vào thuốc bằng các vật liệu cách nhiệt như chiếu cói, rơm rạ, cỏ khô, rèm cửa,… để che chắn trần, cửa kho để chống nóng, bảo vệ thuốc. Chống nóng bằng máy: Đây là biện pháp chủ động có nhiều ưu điểm. Nếu có điều kiện trang bị máy điều hoà nhiệt độ để bảo quản một số thuốc dễ hỏng ở nhiệt độ cao hoặc sử dụng tủ lạnh, kho lạnh để bảo quản một số thuốc dễ hỏng ở nhiệt độ thường.
Ánh sáng (có những tác động khác nhau đối với dược phẩm) - Với các hoạt chất quang hoạt ánh sáng xúc tác các phản ứng hóa học bằng cách tạo ra gốc tự do, thúc đẩy các quá trình phân hủy thuốc, làm biến màu sắc của thuốc. - Với các hoạt chất không quang hoạt khi có thêm chất xúc tác ánh sáng cũng làm thúc đẩy các quá trình oxy hóa, phân hủy chúng. Biện pháp tránh ánh sáng: + Không để thuốc, hoá chất tiếp xúc với ánh sáng trực tiếp. + Sử dụng bao bì trực tiếp có màu, không cho ánh sáng xuyên qua (thủy tinh mờ) hoặc bọc giấy đen.
Khu vực đóng gói phải tiến hành ở nơi thích hợp, trên bao bì phải ghi ký hiệu chống ánh sáng và ánh nắng. Yếu tố hoá học Không khí là một hỗn hợp gồm nhiều loại khí, hơi khác nhau như oxygen, ozon, carbonic, oxyd carbon, lưu huỳnh dioxyd, hơi nước và các khí khác. Đa số các loại khí hơi có trong không khí đều có ảnh hưởng không tốt đến chất lượng thuốc, hoá chất và dụng cụ y tế (trừ khí nitơ). Không khí có thể tác động lên tất cả những quá trình phân hủy thuốc bao gồm cả hoạt chất, tá dược và các chất phụ gia dược phẩm.
Hơi nước trong không khí thúc đẩy phản ứng thủy phân. Khí oxy và ozon có trong không khí là yếu tố chính gây ra các phản ứng oxy hoá gây hư hỏng thuốc, nguyên liệu. Khí carbonic gây hiện tượng carbonat hoá như là tủa nước vôi 8 và dung dịch kiềm. Một số khí hơi khác như khí Clo, SO2, NO2 ,… khi gặp không khí ẩm có thể tạo thành các acid tương ứng làm hỏng thuốc và đồ bao gói.
Biện pháp giảm thiểu tác động của các loại khí có hại là dùng gói kín, cách ly thuốc, hoá chất, dụng cụ y tế với môi trường bên ngoài. Yếu tố sinh học 1. Nấm mốc, vi khuẩn Đối với thuốc, nấm mốc và vi khuẩn làm giảm chất lượng rất nhanh, do trong quá trình sinh trưởng và phát triển chúng tiết ra các chất gây hỏng thuốc như các chất độc, chất điện giải và acid vô cơ, hữu cơ, … đặc biệt là các dạng thuốc như cao lỏng, siro, potio,… Nấm mốc và vi khuẩn còn làm hư hỏng dược liệu thảo mộc, động vật và bao bì đóng gói làm bằng bìa, giấy, chất dẻo,… Các điều kiện thích hợp cho sự phát triển của nấm mốc và vi khuẩn là độ ẩm từ 70% trở lên, nhiệt độ 20 - 25oC và thức ăn giàu dinh dưỡng.