Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I: Phân tích cơ cấu thuốc Bệnh viện YHCT Điện Biên 2019 - Đào Thị Huyền

Phân tích cơ cấu thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Điện Biên năm 2019 trong luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I tại Đại học Dược Hà Nội 2020

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I

2020

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan phân tích cơ cấu thuốc tại Bệnh viện YHCT Điện Biên

Phân tích cơ cấu thuốc là hoạt động then chốt trong quản lý dược bệnh viện. Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Điện Biên năm 2019 nhằm đánh giá toàn diện danh mục thuốc sử dụng. Bệnh viện có quy mô 150 giường bệnh, phục vụ chủ yếu bệnh nhân khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền kết hợp y học hiện đại. Khoa Dược chịu trách nhiệm cung ứng, bảo quản, cấp phát thuốc. Khoa còn triển khai hoạt động dược lâm sàng, thông tin tư vấn sử dụng thuốc và cảnh giác dược. Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích ABC và VEN để phân loại thuốc theo giá trị sử dụng và mức độ cần thiết. Đây là cơ sở khoa học quan trọng giúp tối ưu hóa công tác quản lý, đảm bảo cung ứng thuốc hợp lý, hiệu quả cho người bệnh.

1.1. Đặc điểm tình hình bệnh viện năm 2019

Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Điện Biên là cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh chuyên khoa y học cổ truyền. Năm 2019, bệnh viện thực hiện chức năng khám chữa bệnh bằng phương pháp y học cổ truyền kết hợp y học hiện đại. Bệnh viện có mô hình bệnh tật đa dạng, tập trung chủ yếu vào các bệnh mãn tính như đau lưng, viêm khớp, tai biến mạch máu não phục hồi chức năng. Khoa Dược đóng vai trò trung tâm trong chuỗi cung ứng thuốc từ khâu lập kế hoạch, mua sắm, bảo quản đến cấp phát cho nhu cầu điều trị.

1.2. Tính cấp thiết của nghiên cứu phân tích cơ cấu thuốc

Việc phân tích cơ cấu thuốc giúp đánh giá mức độ sử dụng thuốc hợp lý tại bệnh viện. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học về cơ cấu nhóm thuốc theo giá trị và tính cần thiết. Kết quả phân tích là cơ sở để điều chỉnh danh mục thuốc, tối ưu hóa chi phí và nâng cao chất lượng điều trị. Đặc biệt trong bối cảnh nguồn lực y tế còn hạn chế, phân tích ABC/VEN giúp ưu tiên nguồn lực cho nhóm thuốc thiết yếu, đảm bảo quyền lợi người bệnh.

II. Phân tích kết quả cơ cấu thuốc theo phương pháp ABC VEN

Kết quả phân tích ABC/VEN tại Bệnh viện YHCT Điện Biên năm 2019 cho thấy cơ cấu thuốc rõ ràng. Nhóm thuốc thiết yếu (E) chiếm tỷ trọng áp đảo với 90,4% tổng giá trị sử dụng và 163 khoản mục, chiếm 81,1% tổng số khoản mục. Nhóm thuốc cấp cứu (V) xếp thứ hai với 5,7% tổng giá trị sử dụng và 14,4% tổng số khoản mục. Nhóm thuốc không cần thiết (N) có giá trị sử dụng thấp nhất, chỉ 3,9% tổng giá trị và 4,5% tổng số khoản mục. Khi phân tích theo ma trận ABC/VEN, thuốc nhóm E tiếp tục thống trị ở cả ba hạng A, B, C. Cụ thể hạng A có 35 khoản mục thuốc E trong tổng số 40 khoản mục. Hạng B có 38 khoản mục thuốc E trong 46 khoản mục. Kết quả phản ánh việc sử dụng thuốc tập trung vào nhóm thiết yếu.

2.1. Phân tích nhóm thuốc thiết yếu và cấp cứu

2.2. Phân tích nhóm thuốc không cần thiết và cơ cấu hạng ABC

III. Phương pháp nghiên cứu phân tích cơ cấu thuốc tại bệnh viện

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp thu thập số liệu hồi cứu. Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ danh mục thuốc hóa dược, thuốc đông y và thuốc từ dược liệu sử dụng tại Bệnh viện YHCT tỉnh Điện Biên năm 2019. Phương pháp phân tích ABC dựa trên nguyên lý Pareto 80/20, phân loại thuốc thành ba hạng theo giá trị sử dụng giảm dần. Hạng A chiếm khoảng 10% số khoản mục nhưng 70% giá trị. Hạng B chiếm 20% số khoản mục và 20% giá trị. Hạng C chiếm 70% số khoản mục nhưng chỉ 10% giá trị. Phương pháp VEN phân loại thuốc thành ba nhóm: V cấp cứu, E thiết yếu, N không cần thiết. Việc kết hợp hai phương pháp tạo thành ma trận ABC/VEN cho phép đánh giá đa chiều cơ cấu thuốc sử dụng.

3.1. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

3.2. Xây dựng ma trận ABC VEN và phân loại thuốc

IV. Kết luận và ứng dụng kết quả phân tích cơ cấu thuốc

Nghiên cứu phân tích cơ cấu thuốc tại Bệnh viện YHCT Điện Biên năm 2019 đạt được mục tiêu đề ra. Kết quả cho thấy danh mục thuốc sử dụng tập trung vào nhóm thiết yếu, phản ánh tính hợp lý trong công tác quản lý dược. Nhóm thuốc E chiếm ưu thế cả về số lượng khoản mục và giá trị sử dụng. Nhóm thuốc không cần thiết chiếm tỷ trọng thấp, chứng tỏ hiệu quả của quy trình lựa chọn thuốc. Bệnh viện cần tiếp tục duy trì và phát huy kết quả đạt được. Đồng thời cần tăng cường giám sát nhóm thuốc hạng A thuộc tiểu nhóm AE để kiểm soát chi phí. Công tác dược lâm sàng và cảnh giác dược cần được đẩy mạnh nhằm nâng cao an toàn, hiệu quả điều trị cho người bệnh.

4.1. Kiến nghị và đề xuất cho công tác quản lý dược

4.2. Ý nghĩa của nghiên cứu trong thực tiễn bệnh viện

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Đào thị huyền phân tích cơ cấu thuốc đã sử dụng tại bệnh viện y học cổ truyền tỉnh điện biên năm 2019 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i hà nội 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện 1. Khái niệm Danh mục thuốc đã sử dụng là kết quả của cả quá trình cung ứng thuốc: Lựa chọn, mua sắm, cấp phát và sử dụng. Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng để thấy được một số những tồn tại, bất cập, những nội dung chưa hợp lý.

Từ đó điều chỉnh giúp cho hoạt động cung ứng thuốc của Bệnh viện được hoàn thiện hơn. Một số quy định về sử dụng thuốc hiện nay Hiện nay có rất nhiều thông tư, quy định và đề án về sử dụng thuốc được thực hiện. Bộ Y tế đã xây dựng đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” ban hành kèm theo Quyết định số 4824/QĐ-BYT ngày 3/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Với mục tiêu tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước chiếm 22% ở tuyến Trung ương, 50% ở tuyến tỉnh và 75% ở tuyến huyện.

Cùng với các giải pháp, Bộ Y tế cũng từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nhiều quy định để ưu tiên khuyến khích phát triển ngành công nghiệp dược trong nước như: Luật Đấu thầu năm 2013, Luật Dược năm 2016 đã quy định danh mục không chào thầu thuốc nhập khẩu trên cơ sở nhóm tiêu chí kỹ thuật khi thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp. Cụ thể, Bộ Y tế cũng đã ban hành các Thông tư (Thông tư 01/2012, Thông tư 36/2013,Thông tư 11/2016, Thông tư 15/2019) quy định một nhóm thầu riêng cho các thuốc trong nước sản xuất trên dây chuyền đạt WHO-GMP để khuyến khích sản xuất, sử dụng thuốc trong nước. Mới đây, Bộ Y tế cũng đã ban hành Thông tư số 03 ngày 28/3/2019 về danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và 3 khả năng cung cấp tăng 7 lần từ 146 thuốc (năm 2016) lên 640 thuốc (năm 2019) sản xuất trong nước, không chào thầu thuốc nhập khẩu. Về phía cơ sở y tế và thầy thuốc, việc triển khai Đề án đã được Lãnh đạo UBND tỉnh/thành phố, các Sở Y tế, các bệnh viện quan tâm, chỉ đạo sát sao.

Tại nhiều bệnh viện, lãnh đạo bệnh viện chỉ đạo xây dựng danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện với chính sách ưu tiên thuốc sản xuất trong nước. Nhiều địa phương, bệnh viện đạt kết quả ấn tượng về sử dụng thuốc sản xuất trong nước và đạt mục tiêu của Đề án. Chương trình phát triển y dược cổ truyền với y dược hiện đại đến năm 2030 cũng được quan tâm bằng nhiều quyết định và văn bản chỉ đạo. Quyết định số 2166/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 của Thủ Tướng Chính phủ về việc Ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020.

Cùng hàng loạt các thông tư khác. Năm 2018 Bộ Y tế ban hành Thông tư số 19/2018/TT-BYT ngày 30/8/2018 ban hành danh mục thuốc thiết yếu [19] thay thế Thông tư 40/2013/TT-BYT, cho thấy chủ trương nâng cao vị thế, đẩy mạnh việc sử dụng dược liệu, vị thuốc YHCT, và tận dụng lợi thế của Việt Nam để phát triển và sử dụng thuốc trong nước. Một trong những văn bản mới nhất được ban hành là Thông tư 13/2018/TT -BYT ngày 15/5/2018 Quy định về chất lượng dược liệu, thuốc đông y thuốc từ dược liệu. Do đó chất lượng dược liệu,vị thuốc YHCT sử dụng trong Bệnh viện đã được quan tâm, kiểm tra, giám sát chặt chẽ hơn.

Đối với Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Điện Biên việc áp dụng Thông tư 05/2015/TT- BYT ngày 17 tháng 3 năm 2015 ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ Bảo hiểm y tế là căn cứ để đơn vị phân nhóm thuốc điều trị, tính toán tỷ lệ hư hao sau bảo quản, cân chia được áp dụng để thanh toán chi phí 4 sử dụng thuốc với Bảo hiểm xã hội cũng như hướng dẫn sử dụng một số thuốc thanh toán có điều kiện như tam thất, nhân sâm, linh chi… Với tất cả những giải pháp đồng bộ trên, tỷ lệ giá trị và số lượng thuốc sản xuất trong nước sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã tăng dần qua từng năm. Một số phương pháp phân tích danh mục thuốc Trong các thống kê nhiều năm gần đây cho thấy, tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện thường chiếm 60% ngân sách của bệnh viện. Để công tác sử dụng thuốc tránh những bất cập, nhà quản lý cần có những biện pháp cải thiện. Một số công cụ để đánh giá thực trạng vấn đề sử dụng thuốc trong bệnh viện hiện nay là phương pháp phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị, phân tích ABC, phân tích VEN, phân tích ma trận ABC/VEN [4].

Từ đó HĐT&ĐT xác định các vấn đề, nguyên nhân liên quan đến sử dụng thuốc và lựa chọn các giải pháp can thiệp phù hợp [4]. Phân tích danh mục thuốc theo nhóm điều trị Phân tích nhóm điều trị kết hợp với việc tính chi phí sử dụng thuốc giúp xác định những nhóm điều trị có mức sử dụng thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất. Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, phương pháp này sẽ gợi ý những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý. Ngoài ra phương pháp này sẽ chỉ ra những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể.

Qua đây, HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế. Từ đó tiến hành phân tích cụ thể hơn cho mỗi nhóm điều trị chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí hiệu quả cao [4]. Phương pháp phân tích ABC 5 - Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách. Đây là phương pháp tiếp cận hiệu quả để quản lý thuốc dựa trên nguyên lý Pareto “số ít sống còn và số nhiều ít có ý nghĩa”.

Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu sử dụng thuốc cho chu kỳ một năm hoặc ngắn hơn để ứng dụng cho một hoặc nhiều đợt đấu thầu, từ các kết quả phân tích thu được, các giải pháp can thiệp được đưa ra nhằm điều chỉnh ngân sách thuốc cho một hoặc nhiều năm tiếp theo [4]. - Phân tích ABC là một công cụ mạnh mẽ trong lựa chọn, mua, phân phối và sử dụng thuốc hợp lý để có được bức tranh chính xác và khách quan về sử dụng ngân sách thuốc. - Phân tích ABC có nhiều lợi ích: Trong lựa chọn thuốc, phân tích được thuốc nhóm A, có chi phí cao, các thuốc này có thể được thay thế bằng các thuốc rẻ hơn; trong mua hàng, dùng để xác định tần xuất mua hàng: Mua thuốc nhóm A nên thường xuyên hơn, với số lượng nhỏ hơn, dẫn đến hàng tồn kho thấp hơn, bất kỳ giảm giá của các loại thuốc nhóm A có thể dẫn đến tiết kiệm đáng kể ngân sách. Do nhóm A chiếm tỷ trọng ngân sách lớn nên việc tìm kiếm nguồn chi phí thấp hơn cho nhóm A như tìm ra dạng liều hoặc nhà cung ứng rẻ hơn là rất quan trọng.

Theo dõi đơn hàng nhóm A có tầm quan trọng đăc biệt, vì sự thiếu hụt thuốc không lường trước có thể dẫn đến mua khẩn cấp thuốc với giá cao. Phân tích ABC có thể theo dõi mô hình mua tương tự như quyền ưu tiên trong hệ thống y tế. * Các bước phân tích ABC: - Liệt kê các sản phẩm thuốc. - Điền các tông tin sau mỗi sản phẩm thuốc: + Đơn giá của sản phẩm (sử dụng giá cho các thời điểm nhất định nếu sản phẩm có giá thay đổi theo thời gian).

+ Số lượng tiêu thụ của các sản phẩm thuốc tại bệnh viện. 6 - Tính số tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm. - Tổng số tiền sẽ bằng tổng của lượng tiền cho mỗi sản phẩm thuốc. - Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền.

- Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần. - Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm; bắt đầu với sản phẩm số 1, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách. - Phân hạng sản phẩm như sau: + Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 - 80 % tổng giá trị tiền; + Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 - 20 % tổng giá trị tiền; + Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5 - 10 % tổng giá trị tiền. - Thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10 - 20% tổng số sản phẩm, hạng B chiếm 10 - 20% và còn lại là hạng C chiếm 60 - 80% [4].

Phương pháp phân tích VEN Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn [4]. Theo thông tư số: 21/2013/TT-BYT ban hành ngày 08 tháng 8 năm 2013 quy định về tổ chức và hoạt động của HĐT&ĐT trong bệnh viện [4], trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau: + Nhóm V (Vital) là nhóm thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện. + Nhóm E (Essential) là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện. 7 + Nhóm N (Non-Essential) là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc.

Phương pháp phân tích VEN được sử dụng chủ yếu để thiết lập quyền ưu tiên cho việc lựa chọn, mua và sử dụng trong hệ thống cung ứng, hướng dẫn hoạt động quản lý tồn trữ và quyết định giá thuốc phù hợp. Phân tích VEN được sử dụng trong lựa chọn thuốc như sau: Thuốc tối cần và thuốc thiết yếu nên ưu tiên lựa chọn, nhất là khi ngân sách thuốc hạn hẹp. Thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện ở Việt Nam trong những năm gần đây 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ