CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN THỪA KẾ 1. Khái niệm về di sản và di sản thừa kế 1.Khái niệm về di sản Khái niệm di sản trong Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: Di sản là "Tài sản (tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, các thu nhập hợp pháp khác) của người chết để lại, gồm: những tài sản thuộc sở hữu của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác, quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Người chết không những để lại các quyền về tài sản (như quyền đòi nợ, quyền đòi bồi thường thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khoẻ.) mà còn có thể để lại cả những nghĩa vụ về tài sản (như phải trả nợ, phải trả công lao động hoặc bồi thường thiệt hại). Tuy nhiên, người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản mà mình đã nhận được.
Trong trường hợp vợ hoặc chồng chết thì một nửa tài sản chung của vợ chồng thuộc về di sản của người chết (được quy định tại điều 637 Bộ luật dân sự)". Bên cạnh đó Từ điển luật học cũng đưa ra định nghĩa: Di sản là "Tài sản mà người đã chết để lại, bao gồm: 1. Tài sản mà người đã chết chủ sở hữu, gồm có: a. Tài sản riêng như: tư liệu sinh hoạt (vd.
Quần áo, chăn màn, giường tủ, máy thu thanh, máy thu hình, vv.); tư liệu sản xuất, vốn sản xuất hoặc kinh doanh hợp pháp; nhà ở; tài sản được thừa kế, tặng cho; tiền mua trái phiếu; tiền tiết kiệm gửi ngân hàng hoặc quỹ tín dụng; các thu nhập khác (vd. Tiền công lao động, tiền nhuận bút, tiền thưởng, tiền trúng xổ số, vv. Phần tài sản của người đã chết trong khối tài sản chung với người khác (vd. Sở hữu chung một ngôi nhà, một cơ sở sản xuất, kinh doanh, vv.
Những quyền về tài sản do người chết để lại (vd. đòi nợ, đòi tài sản cho thuê hoặc cho mượn, chuộc lại tài sản đã cầm cố, đòi bồi thường thiệt hại trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng,. Quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật." Theo quy định tại Điều 634 Bộ luật dân sự năm 2005: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với 4 người khác.” Di sản thừa kế có thể là hiện vật, tiền, giấy tờ trị giá được thành tiền, quyền tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản. Việc xác định di sản thừa kế mà người chết để lại căn cứ vào giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với khối tài sản đó.
Đối với trường hợp di sản thừa kế là tài sản thuộc sở hữu chung thì việc xác định tài sản chung của người để lại di sản có thể dựa trên những thỏa thuận đã có từ trước hoặc căn cứ vào văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Di sản thừa kế là tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Di sản chỉ bao gồm những tài sản mà một người có, không bao gồm nghĩa vụ tài sản mà người đó để lại. – Các di sản cụ thể: + Hiện vật + Quyền tài sản được quyền chuyển giao + Tiền + Giấy tờ có giá … – Tài sản riêng trong quan hệ vợ chồng bao gồm tài sản người đó có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản đã được chia riêng cho vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình, đồ dùng, tư trang cá nhân.
– Tài sản của người chết trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng: gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. – Tài sản của người chết trong khối tài sản chung theo phần với những người khác. Ví dụ: phần tài sản của người chết trong những tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung, tài sản do người chết góp vốn sở hữu chung với những người khác, tài sản chung theo phần của con cái với bố mẹ, tài sản chung theo phần của người đang sinh sống như vợ chồng với người khác 5 Như vậy có rất nhiều cách định nghĩa cho di sản nhưng tựu chung lại có thể thấy di sản là phần tài sản thuộc sở hữu khi còn sống của người chết để lại, trong đó tài sản ở đây bao gồm cả các quyền tài sản của người chết để lại. Khái niệm về di sản thừa kế Các quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 mới chỉ nêu ra khái niệm về di sản chứ chưa có quy định về di sản thừa kế, mà hai khái niệm di sản và di sản thừa kế không phải đồng nhất.
Theo tìm hiểu, tác giả nhận thấy trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành chưa có bất kỳ văn bản nào đề cập tới khái niệm di sản thừa kế. Vậy khái niệm di sản thừa kế là gì? Muốn xác định di sản thừa kế, nhận dạng được đặc điểm, phân loại và xác định các thành phần di sản thừa kế của người đã chết để lại. thì trước hết phải nhận dạng và hiểu được di sản thừa kế là gì? Tài sản thuộc quyền sở hữu của người đã chết sẽ trở thành di sản khi nào? Từ những căn cứ nào mà người chết có được tài sản đó?. Từ khái niệm về di sản được quy định tại Điều 634, Bộ luật dân sự năm 2005 ta có thể mở rộng thành khái niệm về di sản thừa kế: Di sản thừa kế là tài sản của người chết để lại, di sản thừa kế bao gồm phần tài sản của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Di sản thừa kế có thể là hiện vật, giấy tờ có giá, quyền tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản. Tuy nhiên với khái niệm như trên vẫn chưa thể hiện rõ bản chất của việc chuyển giao quyền tài sản từ người chết tới những người được hưởng đi sản thừa kế. Để xác định được như thế nào là di sản thừa kế cần dựa trên các bình diện chung nhất thể hiện bản chất pháp lý của di sản thừa kế từ khái niệm của nó. Khái niệm di sản thừa kế phải thể hiện được các yếu tố sau: - Thứ nhất là tài sản đó phải có giá trị.
- Thứ hai là tài sản đó phải thuộc quyền sở hữu của người đã chết. - Thứ ba là tài sản sẽ được chuyển dịch cho những người có quyền hưởng di sản. - Thứ tư là sự dịch chuyển di sản phải nằm trong sự bảo hộ pháp lý của Nhà nước. 6 Từ những yếu tố cần thiết để nhận diện di sản thừa kế, chúng ta có thể có được một khái niệm cơ bản chung nhất về di sản thừa kế như sau: “Di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại, là đối tượng của quan hệ dịch chuyển tài sản của người đó sang cho những người hưởng thừa kế, được Nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện.
Đặc điểm của di sản thừa kế Quan hệ thừa kế là một loại quan hệ đặc biệt trong hệ thống các quan hệ dân sự, nó mang các đặc điểm cơ bản của quan hệ dân sự. - Quan hệ thừa kế chỉ phát sinh khi người để lại di sản đã chết. Quan hệ dân sự phát sinh khi có sự kiện pháp lý xảy ra, quan hệ thừa kế chỉ xảy ra khi có người chết đi để lại di sản cho người khác thừa hưởng theo quy định của pháp luật. Khi một người chết đi, tài sản mà họ có được khi còn sống trở thành di sản và được đem chia thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật quy định.
- Di sản thừa kế chỉ bao gồm tài sản, các quyền tài sản được xác lập dựa trên căn cứ hợp pháp mà người chết để lại cho những người hưởng thừa kế. Không phải tất cả các loại tài sản mà người chết để lại đều được coi là di sản thừa kế. Việc xác định một tài sản này là di sản phải có đầy đủ các căn cứ chứng minh tài sản này thuộc quyền sở hữu của người chết khi người này còn sống. Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Di sản có thể là tài sản chung của người để lại di sản với nhiều chủ thể khác nên để xác định được phần di sản thuộc về người chết không dễ dàng. - Di sản do người chết để lại bao gồm cả nghĩa vụ mà người đó khi chết đi chưa thực hiện thì chỉ được thực hiện trong phạm vi di sản thừa kế của người đó để lại. Không phải tất cả các di sản thừa kế mà người chết để lại đều là quyền được hưởng lợi từ tài sản khi còn sống của họ để lại. Di sản còn bao gồm cả các nghĩa vụ mà người chết khi còn sống chưa thực hiện xong.
7 Điều 637 Bộ luật dân sự 2005 quy định về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, cụ thể là: "1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế. Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác".
- Những người hưởng thừa kế có quyền nhận hoặc từ chối nhận di sản của người chết để lại. Thừa kế là một quan hệ pháp luật dân sự, vì vậy ý chí của người thừa kế có quyền định đoạt nhận di sản hay không nhận di sản. Điều 642 Bộ luật dân sự 2005 quy định về việc từ chối nhận di sản thừa kế như sau: “1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.