Chương 1: Cơ sở lý luận về đi sản thừa kế. Chương 2: Qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành về di sản thừa kế. Chương 3: Thực trạng giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế và hướng hoàn thiên qui định của pháp luật về di sản thừa kế. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE DI SAN THỪA KẾ 1.QUAN NIỆM VỀ DI SẢN VÀ DI SẢN THỪA KẾ 1.
Quan niệm về di sản. Trong bất kỳ xã hội nào cũng luôn tồn tại vô vàn các sự vật và các hiện tượng xã hội. Các sự vật và các hiện tượng ấy nằm trong quá trình tác động của các hoạt động chính trị, van hoá xã hội, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, tôn giáo. Các hoạt động này diễn ra hết sức đa dạng và phong phú, phản ánh quá trình nhận thức và chinh phục thế giới tự nhiên, phản ánh quá trình nhận thức xã hội của loài người.
Các hoạt động nay dù có phong phú, da dang và phức tạp đến đâu thì mục đích cuối cùng của chúng là nhằm hướng tới thoả mãn các nhu cầu vật chất (lợi ích vật chất) và tinh than (lợi ích tinh thần) của con người. Thế giới vật chất tồn tại vô han và vô tận trong sự vận động và biến đổi không ngừng, nó không phải chỉ là sự chuyển vị trí trong không gian mà theo nghĩa chung nhất, vận động là sự biến đổi nói chung. Ăngghen viết: Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất - tức được hiểu là một phương thức ton tại của vật chất, là một thuộc tính cố hitu của vật chất, thì bao gôm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư dh'y.92] Như vậy, bất cứ sự vật, hiện tượng nào dù trong tự nhiên hay trong xã hội đều tồn tại trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng. Tuy nhiên, sự tồn tại vô hạn và vô tận của thế giới vật chất lại được cấu thành từ các vật thể, các bộ phận vật chất hữu hạn (có ranh giới) tồn tại đa dạng, muôn hình muôn vẻ và cũng hết sức phức tạp.
Con người, xuất phát từ thế giới, làm căn cứ cho hoạt động có mục đích của mình là cải tạo thế giới có hiệu quả theo nhu cầu và lợi ích nhất định. Để có thể biến đổi sự vật, cải tạo thế giới khách quan, con người phải hiểu biết su vật, phải có những tri thức về thế giới, mà tri thức lại không có sẵn trong con người, không được đem lại cho con người dưới dạng “bẩm sinh ”. Vì thế, muốn có tri thức, con người phải tiến hành một loạt hoạt động, đặc biệt là hoạt động nhận thức và chính thông qua hoạt động nhận thức mà con người có tri thức. Triết học Mác - Lénin đã chia toàn bộ hoạt động của con người ra làm hai loại: đó là hoạt động thực tiễn và hoạt động tinh thần (hoạt động nhận thúc).
Hoạt động thực tiễn là hoạt động vật chất của con người mang tính lịch sử và xã hội nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Hoạt động tinh thần là hoạt động nhận thức phản ánh sáng tạo về thế giới. Nhưng hoạt động sáng tạo này sẽ không thể có được ở bên ngoài quá trình con người biến đối thế giới xung quanh. Chính thực tiễn hoạt động lao động đã đưa lại cho bộ óc người năng lực sáng tạo phản ánh thế giới, đem lại cho con người khả năng và điều kiện nhận biết, khám phá các thuộc tính khác nhau của sự vật cũng như các qui luật chi phối chúng.
Nhờ lao động mà con người đã tạo ra những thứ khác với dạng tồn tại sẵn có trong giới tự nhiên [43. Như vậy, cùng với các dạng vật chất sẵn có trong giới tự nhiên, con người đã bang lao động tạo ra những “thit khác ”, những thứ đó có thể tồn tại dưới dang hữu hình hoặc vô hình. Các dạng vật chất sẵn có trong giới tự nhiên, các sản phẩm do con người cải biến thế giới vật chất theo những thuộc tính, những qui luật vốn có của nó có thể được xác định là của nhân loại (thế giới); của quốc gia riêng biệt hay là của một công dân của một quốc gia cụ thể nào đó trên trái đất. Trên phương diện triết học, trong thế giới không ở đâu có tận cùng cả bề rộng lẫn bề sâu, cũng như không ở đâu lại ngừng trệ, không biến đổi và không có sự tiếp nối, kế thừa của các quá trình, của các sự vật và hiện tượng, trong đó có kế thừa tự nhiên và kế thừa chủ động.
Kế thừa chủ động phụ thuộc vào nhận thức của con người dựa vào những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của một giai đoạn lịch sử nhất định. Sự kế thừa, tiếp nối là biểu hiện của “cá¡” có trước, và “cái” có sau; cái để lại từ thời trước, của xã hội trước, của người trước. cho thời sau; cho đời sau và cho người sau đang tồn tại. Để chỉ những gì mà thời trước hay người trước để lại, người ta thường dùng hai từ “di sản”.
, Thuật ngữ “di sản” là một từ ghép Hán Việt được tách ra làm hai từ để hiểu. Trước hết “di” trong Từ điển tiếng Việt [76.246, 247] được hiểu ở các khía cạnh sau: - “Di” biểu hiện sự chuyển động ra khỏi vi trí nhất định thông qua sự tác động nào đó lên một vật để lại dấu vết nhất định. - “Di” còn được hiểu là dời đi nơi khác, dời đi chỗ khác, “thodt” khỏi vi trí ban đầu, biểu hiện của sự chuyển động từ nơi này đến nơi khác, từ điểm này đến điểm khác trong không gian và thời gian (không gian là điều kiện căn bản của sự 10 tồn tại của vật chất, còn thời gian là điều kiện căn bản của sự biến đối trạng thái của vật chất). - “Di” với nghĩa khác là sự truyền lại, lưu lại, để lại cho đời sau, thế hệ sau, người “di” sau, như “di bản”, “đi cdo”.
“Di” với nghĩa để lại lời day, lời dan lại của một người trước khi chết, đó là “di huấn, di chúc”. Còn “di thần” là để chỉ bầy tôi còn lại của triều vua trước đã bị lật đổ trong quan hệ với triều vua mới, như di thần triều Lê dưới triều Nguyễn. Với các nghĩa trên đây, “di” có thể được hiểu một cách chung nhất là sự dịch chuyển sự vật, hiện tượng làm thay đổi vị trí của chúng trong không gian và thời gian. Sự thay đối vi trí của chúng bao giờ cũng thể hiện yếu tố “rước ” và “sau”.
Nó có thể diễn ra trong một thời gian rất ngắn (như nét vẽ đầu tiên đến nét vẽ tiếp theo trong một bức tranh) hoặc nó được diễn ra trong một thời gian dài (như từ thời cổ đại sang thời trung đại). Từ “sản” trong tiếng Việt được hiểu ở các khía cạnh sau: - Sinh ra, làm ra, tạo ra sản phẩm để sinh sống; - Cái do con người tạo ra là kết quả tự nhiên của quá trình lao động, sản xuất; - Là từ dùng để chỉ gia tài, sản nghiệp mang tính tổng thể của những tài sản trong một khối. - Vì thế, trong nhân dân, người ta thường dùng câu “san nghiệp của cha ông đểlại”, “gia tài của ông bà, cha mẹ để lại `. , Với các nghĩa trên đây, “sản” được hiểu một cách chung nhất là tài sản hoặc khối tài sẵn nằm trong sự chiếm hím và sử dụng đểmang lại lợi ích cho con người.
Từ “di” được ghép với từ “sdn” thành “di sẩn” nhằm để chi của cải, gia tài, sản nghiệp, cái mà thời trước để lại cho đời sau. Trong Từ điển tiếng Việt thi “di sản ” được hiểu với nghĩa là: - Tài sản của người chết để lại, “hưởng di sản của cha me để lại”. - Cái của thời trước để lại: Kế thừa di sản văn hoá, kinh tế; di sản pháp luật; di sản về nghiên cứu khoa hoc. chẳng hạn như di tích lịch sử, di vat lịch sử, bản viết hoặc in của thời trước để lại, kể cả để lại những mối hận, những tai hoa, những tàn dư của thời trước, đến cả những lời dặn dò, những lời răn dạy của một người trước khi chết cho con cháu.
1] Hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa thông thường thi “di sdn” là tài san của người chết để lại hoặc những cái mà thời trước để lại cho đời sau, bao gồm: - Các giá trị vật chất là các tài sản đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. - Các giá tri tinh thần thuộc về đời sống nội tâm, những tư duy, ý tưởng, ý nghĩ định hướng cho hoạt động của con người. Thuật ngữ “di sản ” được dùng trong rất nhiều lĩnh vực hoạt động của con người. Chúng được dùng phổ biến nhất là trong lĩnh vực văn hoá, kinh tế, pháp luật, khảo cổ học, nghệ thuật, thẩm mỹ và nhân chủng học.
Biểu hiện cụ thể của nó là các qui luật hoạt động kinh tế, các phát minh khoa học, các văn bản pháp luật, các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội hoa, các công trình xây dung, các tác phẩm văn học và các thắng cảnh khác. Thuật ngữ “di sản” cũng được dùng để chỉ di sản của thế giới, di sản của quốc gia riêng biệt và di san của cá nhân (công dân). * Di sản thế giới được xác định làm hai loại: Loại thứ nhất là toàn bộ lãnh thổ (bao gồm những bộ phận lãnh thổ được sử dụng chung cho cả cộng đồng quốc tế) như biển quốc tế, vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế, vùng trời quốc tế, vùng đáy biển quốc tế, khoảng không vũ trụ (kể cả mặt trăng và các hành tinh), châu Nam cực cùng với tài nguyên của nó va gia trị sử dụng của các bộ phận lãnh thổ ấy là tài sản chung của nhân loại (Rex comnunex). Các bộ phận lãnh thổ mà pháp luật quốc tế gọi là lãnh thổ quốc tế đã có sẵn trên trái đất.
Lúc đầu con người chỉ chiếm hữu và sử dụng những sản vật sẵn có trong giới tự nhiên trong các bộ phận lãnh thổ ấy để sinh tồn. Cùng với các “ndc thang” tiến hoá của xã hội loài người, dan dần và từng bước họ đồng thời đã nhận thức, chinh phục và cải biến thế giới để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của mình. “Con người không thể bằng ý thức mà sản sinh ra các đối tượng vật chất được. Con người chi có thể cải biến thế giới vật chất theo những thuộc tính, những qui luật vốn có của nó để đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống hiện thực ”.