Khóa luận kiểm soát quyền lập pháp đối với quyền hành pháp - ĐH Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp luật học về kiểm soát của quyền lập pháp đối với quyền hành pháp nhằm xây dựng hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

102
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan kiểm soát quyền lập pháp đối với quyền hành pháp

Kiểm soát quyền lực nhà nước là nguyên tắc cốt lõi của nhà nước pháp quyền. Quyền lập pháp và quyền hành pháp có mối quan hệ chặt chẽ. Quốc hội giữ vai trò đại diện cao nhất của nhân dân. Cơ quan này thực hiện quyền lập hiến, lập pháp và giám sát tối cao. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và điều hành xã hội. Cơ chế kiểm soát giúp phân định rõ chức năng giữa hai nhánh quyền lực. Hoạt động này ngăn ngừa hiện tượng lạm quyền hoặc tha hóa quyền lực công. Khóa luận tốt nghiệp luật học làm sáng tỏ cơ sở lý luận về kiểm soát quyền lực. Cơ chế kiểm soát bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Quốc hội sử dụng các công cụ pháp lý để theo dõi hoạt động của Chính phủ. Hoạt động này bao gồm chất vấn, giám sát chuyên đề và xem xét báo cáo. Việc kiểm soát tạo động lực để nhánh hành pháp hoạt động minh bạch và trách nhiệm. Mục tiêu tối thượng là bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Đây là nền tảng vững chắc để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của quyền lập pháp hành pháp

Quyền lập pháp là quyền làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật. Quyền lực này thuộc về Quốc hội theo quy định hiến định. Quyền hành pháp là quyền tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật. Nhánh quyền lực này bao gồm việc ban hành văn bản dưới luật và quản lý hành chính quốc gia. Hai quyền năng này có tính độc lập tương đối nhưng gắn kết chặt chẽ. Quyền lập pháp đặt ra khuôn khổ pháp lý chuẩn mực. Quyền hành pháp cụ thể hóa các đạo luật thành hành động thực tế. Sự tương tác giữa hai nhánh quyền lực quyết định chất lượng quản trị quốc gia. Kiểm soát quyền lực giúp cân bằng lợi ích chung của toàn xã hội.

1.2. Vai trò kiểm soát quyền lực trong nhà nước pháp quyền

Kiểm soát quyền lực là điều kiện tiên quyết của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Quyền lực nhà nước thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát. Nhánh lập pháp giám sát hành pháp nhằm bảo đảm tính tối cao của luật pháp. Mọi chính sách hành chính phải tuân thủ đúng tinh thần của Hiến pháp. Cơ chế kiểm soát ngăn ngừa tình trạng lạm quyền và tham nhũng chính sách. Hoạt động này cũng nâng cao hiệu lực thi hành công vụ của bộ máy hành chính. Nhân dân thông qua đại biểu Quốc hội thực hiện quyền làm chủ thực chất. Nhờ đó, niềm tin của xã hội vào hệ thống pháp luật được củng cố vững chắc.

II. Thực trạng kiểm soát quyền lập pháp đối với quyền hành pháp

Thực tiễn kiểm soát quyền hành pháp tại Việt Nam đạt được nhiều kết quả tích cực. Quốc hội đã đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động giám sát tối cao. Hoạt động chất vấn tại nghị trường diễn ra sôi nổi và thực chất. Các phiên truyền hình trực tiếp nâng cao tính công khai và minh bạch. Quốc hội tăng cường giám sát chuyên đề về nhiều vấn đề kinh tế bức xúc. Việc xem xét báo cáo công tác của Chính phủ được tiến hành chặt chẽ. Các đại biểu Quốc hội tích cực phát hiện bất cập trong quản lý công. Tuy nhiên, cơ chế kiểm soát vẫn còn bộc lộ những hạn chế cố hữu. Tiêu chí đánh giá chất lượng câu hỏi và câu trả lời chất vấn chưa cụ thể. Hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật dưới luật chưa bao quát kịp thời. Một số kết luận giám sát chưa được cơ quan hành chính xử lý dứt điểm. Cơ chế hậu giám sát và chế tài pháp lý còn thiếu tính ràng buộc. Đội ngũ đại biểu chuyên trách còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn. Nguồn lực kỹ thuật và dữ liệu phục vụ giám sát chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.

2.1. Hạn chế trong hoạt động chất vấn và giám sát chuyên đề

Hoạt động chất vấn đôi khi còn thiếu chiều sâu và tính truy cứu trách nhiệm. Nhiều đại biểu vẫn nhầm lẫn giữa chất vấn và hỏi để lấy thông tin. Tiêu chí xác định câu trả lời đạt yêu cầu chưa được chuẩn hóa cụ thể. Trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu ngành chưa được làm rõ triệt để. Hoạt động giám sát chuyên đề đôi khi bị phân tán và trùng lặp về nội dung. Thời gian dành cho các đợt giám sát thực địa còn ngắn. Báo cáo giám sát chuyên đề còn dàn trải và thiếu các bằng chứng thực nghiệm cụ thể. Việc tái giám sát việc thực hiện lời hứa sau chất vấn chưa diễn ra thường xuyên.

2.2. Bất cập trong cơ chế giám sát văn bản quy phạm pháp luật

Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành pháp còn nhiều kẽ hở. Số lượng văn bản dưới luật ban hành hàng năm rất lớn. Các ủy ban của Quốc hội chưa đủ nhân lực để rà soát toàn diện. Nhiều thông tư và nghị định có dấu hiệu chồng chéo hoặc vượt quyền. Tình trạng chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật vẫn tiếp diễn. Quy trình kiến nghị đình chỉ hoặc bãi bỏ văn bản sai phạm còn phức tạp. Chế tài xử lý trách nhiệm cá nhân ban hành văn bản trái luật chưa đủ sức răn đe. Điều này làm giảm hiệu lực pháp lý và uy tín của các đạo luật do Quốc hội ban hành.

III. Giải pháp nâng cao kiểm soát quyền lập pháp với quyền hành pháp

Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi đổi mới cơ chế kiểm soát quyền lực. Cần hoàn thiện khung khổ pháp lý về hoạt động giám sát của Quốc hội. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân cần được sửa đổi đồng bộ. Quy trình chất vấn cần chuẩn hóa bộ tiêu chí đánh giá câu hỏi và câu trả lời. Trách nhiệm giải trình của các thành viên Chính phủ phải được quy định rõ ràng. Kết quả thực hiện kết luận giám sát phải trở thành tiêu chí đánh giá mức độ tín nhiệm. Song song đó, cơ cấu đại biểu Quốc hội cần tiếp tục được tối ưu hóa. Tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cần tăng lên mức cần thiết. Năng lực chuyên môn và tính độc lập của các cơ quan lập pháp phải được bảo đảm. Cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và phân tích dữ liệu lớn trong giám sát. Hệ thống thông tin minh bạch giúp đại biểu nắm bắt nhanh chóng các sai phạm hành chính. Ngoài ra, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế như cơ chế điều trần của Hoa Kỳ mang lại nhiều giá trị tham khảo thiết thực.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp lý và chế tài hậu giám sát

Hệ thống pháp luật cần bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm hậu giám sát. Mọi kiến nghị sau giám sát phải có thời hạn hoàn thành bắt buộc. Cơ quan hành pháp không thực hiện đúng kiến nghị phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Cần thiết lập cơ chế điều trần công khai tại các Ủy ban chuyên môn. Hình thức này giúp thu thập thông tin đa chiều từ chuyên gia và nhân dân. Phiên điều trần tạo sức ép buộc các bộ ngành phải giải trình minh bạch. Kết quả điều trần là căn cứ pháp lý quan trọng để sửa đổi luật hoặc xử lý sai phạm.

3.2. Đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đại biểu

Nâng cao chất lượng đại biểu là khâu then chốt trong cải cách lập pháp. Cần tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách ở các lĩnh vực kinh tế và tư pháp. Đại biểu cần được trang bị đội ngũ chuyên gia tư vấn độc lập và giàu kinh nghiệm. Quốc hội cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số phục vụ giám sát trực tuyến. Đại biểu có thể tiếp cận hồ sơ hành chính và phản ánh của cử tri tức thì. Đào tạo kỹ năng tranh luận và phân tích chính sách công cho đại biểu là yêu cầu cấp thiết. Bộ máy hỗ trợ chuyên nghiệp giúp hoạt động lập pháp đạt chuẩn mực cao.

IV. Kết luận kiểm soát quyền lập pháp trong nhà nước pháp quyền

Kiểm soát quyền lập pháp đối với quyền hành pháp là trụ cột của nền dân chủ. Cơ chế này bảo đảm quyền lực nhà nước luôn phục vụ lợi ích của nhân dân. Quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đặt ra nhiều yêu cầu mới. Hoạt động lập pháp phải đi đầu trong việc kiến tạo thể chế và kiểm soát quyền lực. Việc hoàn thiện cơ chế giám sát giúp bộ máy hành chính vận hành liêm chính và hiệu quả. Đề tài khóa luận tốt nghiệp luật học đóng góp góc nhìn toàn diện và thực tiễn. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện thể chế phân công quyền lực. Các giải pháp đề xuất có giá trị ứng dụng cao cho công tác lập pháp và giám sát. Sinh viên luật học và các nhà nghiên cứu có thể sử dụng tài liệu này làm nguồn tham khảo chuyên sâu. Việc thực thi đồng bộ các giải pháp sẽ góp phần củng cố kỷ cương pháp cương quốc gia. Đây là bước tiến quan trọng hướng tới một nền quản trị công hiện đại và minh bạch.

4.1. Ý nghĩa học thuật và thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp luật học hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết về kiểm soát quyền lực. Công trình làm rõ mối quan hệ tương tác giữa lập pháp và hành pháp theo Hiến pháp 2013. Tác giả chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý và thực tiễn trong công tác giám sát tối cao. Các luận điểm trong khóa luận cung cấp luận cứ cho việc xây dựng luật giám sát mới. Nghiên cứu cũng mở ra hướng tiếp cận liên ngành giữa luật hiến pháp và khoa học hành chính. Tài liệu này đóng vai trò quan trọng trong việc giảng dạy và nghiên cứu luật học tại các trường đại học.

4.2. Định hướng ứng dụng hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam

Kết quả nghiên cứu định hướng việc áp dụng các chuẩn mực pháp quyền quốc tế vào Việt Nam. Việc kiểm soát quyền lực phải gắn liền với bảo đảm quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế. Các cơ quan lập pháp cần phát huy tính chủ động trong việc kiểm soát chính sách công. Cơ quan hành pháp cần nâng cao ý thức chấp hành nghị quyết của Quốc hội. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai nhánh quyền lực tạo nên sức mạnh tổng hợp của bộ máy nhà nước. Đây là kim chỉ nam để hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học kiểm soát của quyền lập pháp đối với quyền hành pháp trước yêu cầu xây dựng hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CỦA QUYỀN LẬP PHÁP ĐỐI VỚI QUYỀN HÀNH PHÁP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quyền lập pháp Theo lý thuyết chung, khi nói đến QLNN là nói đến khả năng, năng lực của Nhà nước áp đặt ý chí của mình lên các chủ thể trong xã hội trên phạm vi lãnh thổ, quốc gia nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước. QLNN thường được phân định thành các quyền khác nhau.

Quyền lập pháp cùng với quyền hành pháp, quyền tư pháp là ba nhánh hợp thành QLNN thống nhất. Tùy theo mô hình tổ chức nhà nước, cơ quan đại diện thực hiện quyền lập pháp là Quốc hội hay Nghị viện. Nhiệm vụ của cơ quan thực hiện quyền lập pháp là phải thông qua các đạo luật tốt, phản ánh được nhu cầu, ý chí của đại đa số nhân dân. Theo dòng lịch sử, việc ghi nhận lập pháp là một trong ba nhánh quyền lực của nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) đã được đề cập từ thế kỷ XVII, bởi các nhà tư tưởng - triết học thời kỳ khai sáng như J.

Trong cuốn Tinh thần pháp luật, Montesquieu mô tả quyền lập pháp như “là khả năng làm ra luật nhất thời hoặc vĩnh viễn và hủy bỏ luật này”1. Bên cạnh đó, ông cũng khẳng định nền tảng của quyền lập pháp là hoạt động lập pháp. Vậy hoạt động lập pháp là gì? Cho đến nay, hoạt động lập pháp vẫn được định nghĩa theo hai hướng tiếp cận rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, “lập pháp được hiểu là toàn bộ hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước, bao gồm từ luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, văn bản của chính quyền địa phương”.

Theo nghĩa hẹp, “lập pháp là hoạt động của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, ban hành các đạo luật, bộ luật, pháp lệnh, nghị quyết để cụ thể hóa nội dung và tinh thần Hiến pháp”. Hiện nay, hoạt động lập pháp cũng được hiểu theo hai góc độ như trên. 1 Nguyễn Thị Trà, 2016, “Thuyết phân quyền trong nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Bộ máy Nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp năm 1946”, Bộ Tư pháp, https://moj.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao- doi.aspx?ItemID=1947, truy cập ngày 20/02/2025 6 Từ điển Luật học Black’s Law Dictionary của Henry Campbell Black định nghĩa lập pháp theo góc độ hẹp là quá trình làm hoặc ban hành luật dưới dạng văn bản do một cơ quan nhà nước được Hiến pháp quy định thực hiện thông qua trình tự, thủ tục nhất định. Như vậy, theo cách lý giải này, lập pháp là quá trình làm luật hoặc thông qua luật, còn quyền lập pháp là quyền làm luật và sửa đổi các luật2.

Theo cách tiếp cận rộng hơn, chuyên gia người Mỹ R. Seidman đề xuất ba lý thuyết lập pháp gồm: lý thuyết lớn (grand theory), lý thuyết mục tiêu – phương tiện (ends-means theory) và lý thuyết về sự gia tăng dần. Tại Việt Nam, theo Từ điển tiếng Việt của GS. Hoàng Phê, lập pháp là quyền định ra pháp luật, quyền lực là quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm thực hiện quyền lực ấy3.

Tuy các quan điểm về lập pháp, hoạt động lập pháp có khác nhau nhưng quan điểm về quyền lập pháp thì được nhìn nhận khá thống nhất tại các hệ thống pháp luật. Tại Việt Nam, quan điểm phổ biến về nội dung cốt lõi của quyền lập pháp “chính là quyền đồng ý hoặc không đồng ý thông qua một chính sách hoặc một dự luật nào đó. Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là đại diện cho Nhân dân, đảm bảo cho ý chí chung của Nhân dân và được thể hiện trong các đạo luật mà mình là cơ quan duy nhất được Nhân dân giao quyền biểu quyết thông qua luật”. Theo đó, tại Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp”. Từ quy định về quyền lập pháp đó, Điều 70 Hiến pháp năm 2013 xác định cách thức Quốc hội thực thi quyền đó là “làm luật và sửa đổi luật”. Như vậy, quyền lập pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một bộ phận cấu thành của quyền lực nhà nước - quyền lập pháp, bao gồm thể chế, thiết chế và hoạt động của thiết chế đó, thực hiện nhiệm vụ làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật, nhằm bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, thực thi QLNN, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và lợi ích chung của toàn xã hội. Hay nói một cách đơn giản, quyền lập pháp là quyền lực do 2 Henry Campbell Black, Từ điển Luật học “Black’s Law Distionary”, The Law Dictionary.org, https://thelawdistionary.org, truy cập ngày 20/02/2025 3 Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, NXB.

Chính trị quốc gia sự thật, tr. 540 7 nhân dân ủy thác trực tiếp cho Quốc hội nhằm ban hành các văn bản có hiệu lực cao nhất của quốc gia (Hiến pháp và pháp luật) chứa đựng các quy tắc xử sự chung của toàn bộ đời sống nhà nước và xã hội. Khái niệm quyền hành pháp Khi giải mã 3 loại QLNN là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, sẽ là thiếu sót lớn nếu chúng ta không quay trở lại với định nghĩa gốc của 3 thuật ngữ này trong tác phẩm kinh điển “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu. Trong tác phẩm bất hủ này, cha đẻ của thuyết tam quyền phân lập đã giải mã như sau: “Trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: Quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với công pháp quốc tế và quyền thi hành những điều trong luật dân sự.

Với quyền lực thứ nhất, nhà vua hay pháp quan làm ra các thứ luật cho một thời gian hay vĩnh viễn, và sửa đổi hay hủy bỏ luật này. Với quyền lực thứ hai, nhà vua quyết định việc hòa hay chiến, gửi đại sứ đi các nước, thiết lập an ninh, đề phòng xâm lược. Với quyền lực thứ ba, nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân. Người ta sẽ gọi đây là quyền tư pháp, vì trên kia là quyền hành pháp của quốc gia.

Như vậy, trong quan niệm nguyên thủy của Montesquieu, quyền hành pháp chính là quyền “quyết định việc hòa hay chiến, gửi đại sứ đi các nước, thiết lập an ninh, đề phòng xâm lược”. Nói cách khác, đây chính là phần quyền còn lại của nhà nước sau khi đã trừ đi phần quyền lập pháp và quyền tư pháp, mà trọng tâm là quyền thực hiện các biện pháp đối nội và đối ngoại trong khuôn khổ các đạo luật quốc gia hay chính là quyền thi hành luật hoặc như cách nói của GS. Nguyễn Đăng Dung là “quyền cai trị theo luật”4. Quan điểm về quyền hành pháp của Montesquieu được thể hiện rất rõ trong việc thiết kế cơ cấu QLNN trong Hiến pháp Hoa Kỳ.

Cụ thể, theo Từ điển luật học nổi tiếng Black’s Law Dictionary thì “quyền hành pháp” (executive power) là “quyền bảo đảm các đạo luật được thực thi một cách đầy đủ”. Theo luật liên bang, quyền này được trao cho Tổng thống, còn ở các bang, quyền này được trao cho các Thống đốc. Trong khi đó, cuốn Bách khoa toàn thư về quyền lực (Encyclopedia of Power) do Keith Dowding (giáo sư Đại học quốc gia Úc) chủ biên (xuất bản năm 2011) có định 4 ThS. Lê Thị Anh Đào, 2017, “Nhận diện quyền hành pháp trong Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, https://danchuphapluat.vn/nhan-dien-quyen-hanh-phap-trong-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu- nghia-viet-nam, Tạp chí dân chủ và pháp luật, truy cập ngày 23/02/2025 8 nghĩa rằng “quyền hành pháp là thẩm quyền thực thi các đạo luật và đảm bảo rằng các đạo luật này được thi hành như ý định đặt ra các đạo luật ấy”.

Tại Việt Nam, nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu cũng đã trình bày quan điểm của mình về quyền hành pháp. Tiêu biểu là cuốn Từ điển luật học do Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn dưới sự chỉ đạo của TS. Nguyễn Đình Lộc (chủ tịch Hội đồng biên soạn) năm 2006 có giải nghĩa về quyền hành pháp theo hướng đồng nhất quyền hành pháp với quyền hành chính. Cụ thể, quyền hành pháp theo cuốn từ điển này chính là “quyền quản lý hành chính nhà nước về mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… trên phạm vi toàn lãnh thổ quốc gia”5.

Qua việc khảo cứu một số quan niệm về quyền hành pháp ở cả trong và ngoài nước kể trên, có thể thấy, các quan niệm này có khá nhiều điểm tương đồng với nhau. Dường như có sự đồng thuận khá cao giữa các nhà nghiên cứu ở Việt Nam khi cho rằng, quyền hành pháp tuy về nguyên nghĩa là chấp hành và tổ chức thực thi các đạo luật nhưng không đơn thuần chỉ là sự chấp hành các đạo luật một cách thụ động. Quyền hành pháp ngày nay không chỉ là công việc điều hành quản lý đất nước mà còn phải thực hiện công việc hoạch định chính sách quốc gia (để cơ quan lập pháp phê chuẩn chính sách một cách chính thức hoặc tự quyết định những chính sách thuộc thẩm quyền của hành pháp, chẳng hạn, thông qua việc thực hiện quyền lập quy độc lập hoặc quyền lập quy theo ủy quyền lập pháp)6. Như vậy, quyền hành pháp có thể hiểu là “quyền khởi xướng hoạch định chính sách và tổ chức thi hành pháp luật, bao gồm các hoạt động: đề xuất, khởi xướng việc hoạch định chính sách và điều hành việc tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm trật tự công”.

Khái niệm kiểm soát quyền lực nhà nước, kiểm soát của quyền lập pháp đối với quyền hành pháp 1. Khái niệm kiểm soát quyền lực nhà nước 5 TS. Bùi Thị Thanh Thúy, 2017, “Quyền hành pháp và chủ thể thực hiện quyền hành pháp”, Tạp chỉ Tổ chức Nhà nước, https://tcnn.vn/news/detail/36481/Quyen_hanh_phap_va_chu_the_thuc_hien_quyen_all.html, truy cập ngày 25/02/2025 6 Lê Thị Ngọc Trâm, 2017, “Quyền hành pháp ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội, tr.13 9 Kiểm soát QLNN là một khái niệm rộng, một vấn đề phức tạp, bao gồm toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của QLNN. Theo từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, khái niệm “kiểm soát” có nghĩa là kiểm tra, xem xét nhằm ngăn ngừa những sai phạm các quy định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ