CHƯƠNG 1 MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VE ĐỊNH TOI DANH DOI VỚI CÁC TOI XÂM PHAM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHAT CHIEM ĐOẠT 1. Khái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 1. Khái niệm tội xâm phạm sở hữu có tinh chất chiếm đoạt Dé có cơ sở phân tích làm rõ được những vấn đề lý luận về định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, trước hết cần nhận thức được khái niệm, đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt. Tội xâm phạm quyền sở hữu được hiểu là những hành vi có lỗi, hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại quan hệ sở hữu, xâm phạm các quyền thuộc nội dung sở hữu, hậu quả là gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tô chức được nhà nước thừa nhận.
Tội xâm phạm quyền sở hữu chủ yếu hướng đến là xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Các tội xâm phạm quyền sở hữu là những tội có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu. Các tội xâm phạm quyền sở hữu có tính chiếm đoạt bao gồm: tội cướp tài sản, bắt cóc chiếm đoạt tải sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tai sản, đây đều là các tội gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân, gia đình, tổ chức, cơ quan,. mà còn xâm hại đến sức khỏe, tính mạng, tinh thần của người dân.
Bên cạnh đó, các tội xâm phạm quyên sở hữu có tính chiếm đoạt còn gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội, cản trở đến sự phát triển kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội. Các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS), gồm 13 tội được quy định từ Điều 168 đến Điều 180 BLHS. Căn cứ vào tính chất, mục đích phạm tội, khoa học luật hình sự chia các tội xâm phạm sở hữu thành nhóm các tội có tính chiếm đoạt (8 tội từ Điều 168 đến Điều 175 BLHS); các tội có mục đích tư lợi không chiếm đoạt (Điều 176, Điều 177 BLHS) và nhóm các tội không có mục đích tư lợi hoặc gây thiệt hại về tai sản (Điều 178 đến Điều 180 BLHS). Nghiên cứu cho thấy các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cũng giống như các tội xâm phạm sở hữu nói chung, đều hướng tới xâm phạm quan hệ sở hữu được luật hình sự bảo vệ- một quan hệ xã hội có nội dung là quyền SỞ hữu của chủ tai sản đối với tài sản (bao gồm quyền chiếm hữu, quyên sử dụng và quyền định đoạt).
Ngoài khách thé bắt buộc trên đây, một số tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt còn xâm hại đến quan hệ nhân thân, như: tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, .Trong trường hợp này, khách thê trực tiếp của tội phạm là nhiều quan hệ xã hội khác nhau và cùng thé hiện mức độ nghiêm trọng cũng như tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là tài san, tức là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, song một điểm đặc biệt cần lưu ý là tài sản này phải có chủ, bất kể một cách hợp pháp hay bat hợp pháp (ví du: tài sản do một người tham 6 van có thé bị cướp). Những tài sản không chủ, chăng hạn như tài sản đã bị vứt bỏ thì không phải là đối tượng của các tội phạm này. Tuy nhiên, có một số đối tượng tuy thỏa mãn khái niệm tài sản nói trên nhưng với tính chất đặc biệt của chúng lại có thể không phải là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản, mà là đối tượng của loại tội phạm khác (ví dụ: ma túy, vũ khí,.
Thứ hai, hành vi phạm tội khách quan của các tội phạm nay là hình vi chiếm đoạt tài sản. Các tội thuộc nhóm này đều bắt buộc phải xuất phát từ hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Một số tội thuộc nhóm này được xây dựng dưới dạng cấu thành tội phạm hình thức, với dau hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm chỉ gồm hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản tương ứng. Trong khi đó, một số tội khác thuộc nhóm này được xây dựng dưới dạng cau thành tội phạm vật chất, với các dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của cau thành tội phạm gồm: hành vi chiếm đoạt tài sản, hậu quả của tội phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và tội phạm.
Cũng như mọi tội phạm khác, hành vi khách quan là dấu hiệu bắt buộc của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, mặc dù hình thức thể hiện rất đa dạng, tùy theo tính chất của từng tội, nhưng đều gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu bang cách xâm phạm quyền chiếm hữu, quyên sử dụng, quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Các hành vi phạm tội thuộc nhóm này chỉ có thé được thực hiện bằng hình thức hành động phạm tội, ví dụ như: hành vi dùng vũ lực tan công người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, hành vi bắt người khác làm con tin để đòi tiền chuộc, hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản,. Các hành vi như vậy không chỉ xâm phạm và gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu mà còn có thé dẫn đến các hậu quả nghiêm trong hơn như: thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể của người khác (ví dụ như: tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, "` Thứ ba, chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ độ tuổi theo quy định của luật hình sự. Về nguyên tắc, người có hành vi gây thiệt hại hay đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội bị coi là tội phạm phải là người có khả 10 năng nhận thức được hành vi của mình có tính nguy hiểm cho xã hội, đồng thời người này có khả năng điều khiển hành vi theo ý chí và mong muốn của mình.
Nói cách khác, người thực hiện tội phạm phải có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Dé có kha năng này, con người phải đạt đến độ tuôi nhất định, do đó, độ tuôi cũng là cơ sở để xác định năng lực trách nhiệm hình sự của một người cũng như dấu hiệu lỗi của người thực hiện hành vi. Theo đó, một cá nhân chỉ được coi là có năng lực trách nhiệm hình sự, hay đủ điều kiện dé trở thành chủ thê của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam, khi đạt đủ độ tuôi luật định và không ở trong tình trạng mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mat khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Thứ tư, các tội phạm này đều được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi cua mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật cam, nhận thức rõ hậu quả của hành vi ay nhưng van thực hiện vì mong muốn chiếm đoạt được tài sản.
Mục đích thé hiện trong mặt chủ quan của nhóm tội phạm này là mục đích chiếm đoạt tài sản. Từ sự phân tích các đặc điểm chủ yếu của nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nêu trên, có thé đưa ra định nghĩa như sau: Các fội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là những hành vi dịch chuyển trái phép tài sản từ chủ sở hữu hợp pháp sang tay người khác, được quy định tại Chương các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách co ÿ trực tiếp xâm hại hoặc đe dọa trực tiếp xâm hại các quan hệ sở hữu tài sản. Dấu hiệu pháp lý của tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiém đoạt a) Khách thể của tội phạm Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cũng giống như các tội xâm phạm sở hữu nói chung, đều hướng tới cùng một khách thé là quan hệ sở hữu — một quan hệ xã hội có nội dung là quyên sở hữu của chủ tai sản đôi 11 với tài sản (bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt). Ngoài khách thé bắt buộc trên đây, một số tội xâm phạm sở hữu có tính chat chiếm đoạt còn xâm hại đến quan hệ nhân thân, như: tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản,.
Trong trường hợp này, khách thể trực tiếp của tội phạm là nhiều quan hệ xã hội khác nhau và cùng thể hiện mức độ nghiêm trọng cũng như tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là tài sản, tức là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, như được quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015, song một điểm đặc biệt cần lưu ý là tài sản này phải có chủ, bất ké một cách hợp pháp hay bat hợp pháp (ví du: tài sản do một người tham ô vẫn có thể bị cướp). Những tài sản không chủ, chăng hạn như tài sản đã bị vứt bỏ thì không phải là đối tượng của các tội phạm này. Tuy nhiên, có một số đối tượng tuy thỏa mãn khái niệm tài sản nói trên nhưng với tinh chat đặc biệt của chúng lại có thé không phải là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản, mà là đối tượng của loại tội phạm khác (ví dụ: ma túy, vũ khí, .