Chương 1 NHỮNG VAN DE CƠ BẢN VE TƯ VẤN PHÁP LUẬT I. KHÁI QUAT VE TƯ VAN PHÁP LUẬT 1. Khái niệm tư vẫn pháp luật Trong nhà nước pháp quyền, nguyên tắc thượng tôn pháp luật trở thành “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt toàn bộ hoạt động của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Mọi cá nhân, t6 chức phải tuân thủ pháp luật.
Tuy nhiên, trong xã hội, hiểu biết về pháp luật của mọi người không đồng đều: những người được đào tạo và công tác ở lĩnh vực pháp luật thì am hiểu pháp luật, những người không được đào tạo ngành luật và công tác ở lĩnh vực khác thì hiểu biết pháp luật ở mức độ cơ bản, có những người chỉ hiểu biết “lơ mơ” về pháp luật, thậm chí có người không hiểu biết về pháp luật dé dẫn đến việc vi phạm pháp luật. Vì thế, khi cần một lời khuyên, hướng dẫn về vấn đề pháp luật, người ta hay tìm đến các chuyên gia pháp lý, luật sư, tư vấn viên pháp luật dé được tư van. Đặc biệt là trong điều kiện cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, nhu cầu về tư vấn pháp luật của xã hội ngày càng tăng và đa dạng. Vì thế, tư van pháp luật trở thành một hoạt động khá phổ biến trong xã hội hiện dai.
Dưới góc độ ngôn ngữ học, thuật ngữ “tư vấn” bắt nguồn từ tiếng Latinh “consultare” (có nghĩa là “dé tranh luận, trao đổi”). Ngày nay, thuật ngữ này được dùng để chỉ một hoạt động nghề nghiệp khi đưa ra lời khuyên, ý kiến chuyên môn trong một lĩnh vực nào đó. Theo Từ điển Tiếng Việt, tư vấn là việc phát biểu ý kiến về những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định!. Tư van có thê thực hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ tư vẫn tâm lý đến tư vấn trong các lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật như tư vấn đầu tư, tư vẫn xây dựng, tư van pháp luật v., khi có người yêu cầu một người khác đưa ra ý kiến của mình về một vấn đề nào đó và ý kiến này chỉ mang tính chất tham khảo, hướng dẫn mà không mang tính quyết định, bắt buộc người được tư vấn phải tuân thủ.
Tư vẫn pháp luật, vì thé, có thé được hiểu là việc đưa ra ý kiến chuyên môn không có giá trị bắt buộc về những vấn đề liên quan đến pháp luật khi được yêu cầu. Dưới góc độ luật học, tư van pháp luật là một hoạt động nghề nghiệp của luật sư, trợ giúp viên pháp lý, tư vấn viên pháp luật và một số chức danh nghề nghiệp khác. Theo Giáo trình Kỹ năng tư vấn pháp luật của Học viện Tư pháp, tư vấn pháp luật là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn ứng xử đúng pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm giúp khách hàng thực hiện và bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của họ.? Hoạt động tư van pháp luật được quy định trong một số văn bản quy phạm pháp luật. Theo Luật Luật sư năm 2006, sửa đôi, bổ sung năm 2012 (sau đây gọi là Luật Luật sư), tư vấn pháp ! Viện Ngôn ngữ hoc, GS.
Hoàng Phê (Chủ biên), Tir điển Tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2018, tr. ? Học viện Tư pháp, TS. Phan Chí Hiếu - ThS.
Nguyễn Thi Hang Nga (Chủ biên), Giáo trình Kỹ năng tư vấn pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2012, tr. luật được quy định là một trong các loại hình dịch vụ pháp lý của luật sư (Điều 4). Khoản 1 Điều 28 Luật Luật su quy định cụ thê hơn: “Ti vấn pháp luật là việc luật sư hướng dan, dua ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyên, nghĩa vụ của họ”.
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (sau đây gọi là Luật Trợ giúp pháp lý) coi tư vấn pháp luật là một hình thức trợ giúp pháp lý (Điều 27), theo đó, tư vấn pháp luật là việc hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến tranh chấp, khiếu nại, vướng mắc pháp luật, hướng dẫn giúp các bên hòa giải, thương lượng, thống nhất giải quyết vụ việc (Điều 32). Như vậy, có thể thấy khái niệm tư van pháp luật ở hai văn bản luật khá tương đồng, chủ yếu liệt kê các công việc mà người tư vấn pháp luật thực hiện mà chưa đưa ra khái niệm mang tính bao quát về tư vấn pháp luật. Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật (sau đây gọi là Nghị định số 77/2008/NĐ-CP) cũng không đưa ra khái niệm tư vẫn pháp luật mà chủ yéu quy định về hoạt động tư vấn pháp luật của các trung tâm tư vấn pháp luật. Thông tư số 01/2010/TT-BTP ngày 09/02/2010 của Bộ Tư pháp quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 77/2008/NĐ-CP (sau đây gọi là Thông tư số 01/2010/TT-BTP) cũng chỉ chỉ tiết hóa các hoạt động tư vấn pháp luật mà các trung tâm này được thực hiện, cụ thể là: “1.
Hướng dẫn, giải đáp pháp luật; 2. Tư vấn, cung cấp ý kiến pháp lý; 3. Soạn thảo đơn, hợp đồng, di chúc và các giấy tờ khác; 4. Cung cấp văn bản pháp luật, thông tin pháp luật; 5.
Đại điện ngoài tố tụng cho người được tư vấn pháp luật để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” (Điều 3). Như vậy, có thể thấy, các văn bản quy phạm pháp luật không đưa ra định nghĩa tư vấn pháp luật mà chỉ liệt kê các công việc mà người tư van pháp luật có thé thực hiện. Các công việc này chỉ có thể thực hiện khi có yêu cầu của người khác - người yêu cầu tư vấn. Người tư vấn pháp luật phải là người có trình độ và hiểu biết nhất định về pháp luật thì mới có thé dua ra ý kiến chuyên môn như một lời khuyên, lời hướng dẫn cho người được tư vấn.
Ngoài việc đưa ra ý kiến chuyên môn, người tu van pháp luật có thể thực hiện một số công việc chuyên môn khác như cung cấp văn bản pháp luật, thông tin pháp lý; soạn thảo các văn bản, giấy tờ; đại diện khách hàng trong các công việc ngoài thủ tục tô tụng tại Tòa án, Trọng tài. Tuy nhiên, không phải tất cả các hoạt động kể trên đều là tư van pháp luật. Về bản chat, tư vấn pháp luật là việc cung cấp ý kiến chuyên môn pháp lý về vấn đề liên quan đến pháp luật. Tuy nhiên, cùng với yêu cầu của thực tiễn, nội hàm khái niệm tư vấn pháp luật được mở rộng hơn trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam cho phù hợp với thực tế những công việc mà một người tư vấn pháp luật có thé làm, mang cùng tinh chất tư van cho khách hàng như hướng dẫn khách hàng, cung cấp văn bản pháp luật, giúp khách hàng soạn thảo văn bản, giấy tờ.
Nhưng tư vấn pháp luật không bao gồm đại diện ngoài tố tụng. Điều 28 Luật Luật sư, các điều 31, 32, 33 10 Luật Trợ giúp pháp lý thé hiện rõ quan điểm này khi phân biệt tư vẫn pháp luật với đại diện ngoài tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác. Tuy nhiên, Điều 3 Thông tư số 01/2010/TT-BTP quy định về hoạt động tư van pháp luật lai mở rộng phạm vi các hoạt động tư vấn pháp luật sang cả hoạt động đại diện ngoài tố tụng. Điều này có thê lý giải là do Thông tư số 01/2010/TT-BTP quy định các hoạt động tư vấn pháp luật mà các trung tâm tư van pháp luật được thực hiện, nhưng không đưa ra khái niệm tư vấn pháp luật như Luật Luật sư.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, xét về ban chat, đại diện ngoài tô tụng không phải là tư vấn pháp luật mà đây là các hoạt động dịch vụ khác nhau, nhưng có thé do cùng một chủ thé tư van pháp luật thực hiện. Xuất phát từ bản chất của tư vấn pháp luật, dựa trên các quy định pháp luật về hoạt động tư van pháp luật, có thé đưa ra khái niệm tư vấn pháp luật như sau: 7 vấn pháp luật là một hoạt động dich vụ nghệ nghiệp, theo đó, người có trình độ hiểu biết pháp luật dua ra lời khuyên, ý kiến pháp lý hoặc giải pháp về các vấn dé liên quan đến pháp luật theo yêu cau của khách hàng nhằm giúp họ hiểu và quyết định cách thức bảo vệ có hiệu quả quyén và lợi ích hợp pháp của mình. Dé có thé tư van pháp luật hiệu quả, người tư van cần phân tích, đánh giá vụ việc trên cơ sở thông tin, tài liệu mà khách hàng cung cấp, đối chiếu với quy định pháp luật, từ đó đưa ra lời khuyên, ý kiến pháp lý hoặc các giải pháp giúp khách hàng hiểu rõ van dé, có hành động đúng pháp luật nham bảo vệ các quyên và lợi ích hợp pháp của mình. Trong khuôn khổ Giáo trình này, tư van pháp luật được II hiểu theo nghĩa rộng, bao trùm các hoạt động mà người tư vấn pháp luật có thê thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành.
Đặc điểm của tư vấn pháp luật Từ khái niệm nêu trên, có thể thấy tư vấn pháp luật có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, tư vấn pháp luật là một loại hình dịch vụ thuộc lĩnh vực pháp luật. Về bản chất, đây là hoạt động cung ứng dịch vụ trong một lĩnh vực đặc thù là lĩnh vực pháp luật, hay còn được gọi là dịch vụ pháp lý. Dịch vụ pháp lý bao gồm rất nhiều hoạt động như tham gia tố tụng, cung cấp ý kiến pháp lý, soạn thảo văn bản, giấy tờ, đại diện ngoài tố tụng. Như vậy, tư vấn pháp luật chỉ là một loại hình dịch vụ pháp lý.
Với tính chất là một loại dịch vụ, tư van pháp luật cũng mang bản chất của dich vụ nói chung và dịch vụ pháp lý nói riêng, đó là thực hiện công việc để nhận thù lao. Tuy nhiên, tư van pháp luật còn mang những nét đặc thù. Một là, dịch vụ có thé không thu thù lao, ví dụ: tư van pháp luật trong trợ giúp pháp lý hay tư van pháp luật miễn phí. Hai /à, đây là dịch vụ sử dụng trí tuệ, lao động trí óc dé làm nên sản phẩm tư van va sản phẩm thường là kết tinh kiến thức, kinh nghiệm của người làm dịch vụ.
Ba /à, sản phẩm tư vấn pháp luật thường hữu hình (ví dụ: thư tư van, đơn từ hay di chúc được soạn thảo. Thứ hai, chủ thé quan hệ tư vấn pháp luật gom hai bên: người tư vấn và người được tư vấn.