Chương 1, khóa luận đã trình bay vả phân tích một số van để lý luận. về lỗi trong trách nhiệm dân sự. Bao gồm các nội dung chính đó la: Khai niêm, đặc điểm của trách nhiệm dân sự, khái niệm vả phân loại lỗi trong trách nhiệm dân sự, ý nghĩa của việc xác định lỗi trong trách nhiệm dân sự và lỗi trong trách nhiệm dân sự theo quy định của một số quốc gia trên thể giới Có thể thấy rằng, cho đến nay pháp luật dân sự Việt Nam chưa đưa ra định nghia cụ thể vẻ lỗi trong trách nhiệm dân sự, song khi nghiên cứu một số quy: định có liên quan đến van dé nảy thì có thể hiểu về bản chất lỗi trong trách nhiệm dân sự lả trang thai tâm lý phản ánh thái độ bên trong của một người vẻ hành vi của minh va hậu quả do hảnh vi đó gây ra khi tham gia quan hệ dân sự. Cách xây dựng nội ham khái niệm vé lỗt trong pháp luật dan su có nhiều điểm.
tương đông so với khái niệm lỗi trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam. Lỗi trong trách nhiệm dan sự được chia thành hai loại chính đó là lỗi cỗ y và lỗi vô ý. Lỗi là căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự. Xác định lỗi trong trách nhiệm dân sự có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong giao dịch dân sự và có thể xem sét ý nghĩa này thông qua các khía cạnh sau đây: Lỗi là diéu kiện phát sinh trách nhiém dân sự, lỗi 1a căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự, lỗi là căn cứ giảm.
nhẹ trách nhiệm dân sự, lỗi là căn cứ xác định chi thể chịu trách nhiệm dân sự và lỗi là yêu tổ để zác đính mức độ chiu TNDS Hiện nay, pháp luật cla các quốc gia trên thể giới có quy đính không đồng nhất về việc xác định lỗi trong trách nhiệm dân sự, điều nảy có thể lý giải bởi didu kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia la khác nhau. Song, nghiên cứu các vẫn dé lý luận vé lỗi trong TNDS có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở cẩn. thiết để khỏa luận tiếp tục di phân tích các quy định pháp luật điền chỉnh vé vẫn để này & Chương 2. 16 CHUONG 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUAT VIỆT NAM VE LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM DAN SỰ 2.
Lỗi là căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự Căn cứ phát sinh TNDS là HVVP luật dân sự hoặc vi phạm hợp đẳng (đó là việc không thực hiện, thực hiện không đúng, không day di nghĩa vu của người có nghĩa vu dan sự). Xác định được đúng lỗi đóng vai tro quan trọng trong việc. xác định được căn cứ phat sinh trách nhiém Để lam sang td sáng tỏ hơn về van để nay, tac gia chia làm hai trường hợp để nghiên cứu như sau: Trường hợp 1: Lỗi là căn cứ phát sinh trách nhiệm trong hợp đồng ‘Thuong bên phạm lỗi vô ý sẽ chịu TNDS nhẹ hơn so với bên phạm lỗi c¢ tủy vào từng trường hợp, pháp luật có quy định riêng, Vi dụ theo khoản 4 Điều 142 của Bô luật này quy định: “Trường hợp người không có quyễn đại diện và người đã giao dich cổ ÿ xác lập, thực hiện giao dich dân sự mà gập thiệt hai cho người được đại diện thi phải chịu trách nhiệm liên đói BI thường thiệt hai Giao dịch dan sự là hợp đồng hoặc hảnh vi pháp lý đơn phương lâm phát sinh. thay đổi hoặc cham đứt quyên vả nghĩa vụ dân sự.
Tuy nhiên, hợp đồng dân sự đổi khi được sắc lập bởi người không có quyển đại dién xác lập, thực hiện. Trong BLDS năm 2015 quy định người đại dién là việc cá nhên hay pháp nhân. nhân danh vả vì lợi ích của cả nhân hoặc người được đại diện ác lập, thực hiện giao dich dân sự Néu cá nhân, pháp nhân đỏ không có hoặc không có đũ điều kiện để xác lập và thực hiện giao dich dân sự thì co thể thông qua các cá nhân, pháp nhân khác ắc lập và thực hiện. Vay néu giao dịch một bên là người không có quyên đại điện xác lập, thực hiên thi hậu quả sẽ như thé nào? Đổi với người không có quyền đại diện sắc lap giao dịch với người thứ ba nhân danh người được đại điên thi giao dịch đó không lam phát sinh quyển và nghĩa vụ của người được đại diện với người thứ ba.
Hành vi nhân danh người khác là HVVP pháp luật, có thé gay xâm phạm đến danh dự, uy tin của người được nhân danh, tir đó có thể gây ra thiệt hại cho người được nhân danh. do đó, người nhân danh người khác phải tư chíu trách nhiệm với người tham gia giao dich đó. Nếu trường hop 17 người không có quyển đại diện và người đã giao địch "cổ ý ác lập, thực hiện” giao dịch dân sự mà gây thiệt hại cho người được đại điện thi phải chiu trách nhiệm liên đới BTTH. Hay một ví dụ khác tại khoản 4 Điều 143 BLDS năm 2015 quy định chỉ tiên phạm lỗi cổ ý mới phải chu TNDS, cụtỉ là với trường hợp tham gia giao dich vả người đại điện thông đồng để xác lập, thực hiện giao địch “vượt qua phạm vi dai điện ma gây thiệt hai” cho người được đại điện thì phải chiu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hai Trường hợp 2: Lỗi là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm B TTH ngoài hợp đồng, ‘Theo Bộ luật dân sự 2005, trách nhiệm béi thường thiết hại ngoài hop đồng, yêu cầu người gây thiệt hại phải có "lỗi cổ ý hoặc lỗi vô ý".
Với quy định trên, ngoài việc chứng minh người gây thiết hai có "hảnh vi trái pháp luật”, người bi thiệt hai phải chứng minh thêm lả người gây thiệt hại cỏ "lỗi vô y hay cổ ý", tức, phải có lỗi thì mới phát sinh trách nhiệm BTTH ngoai hợp đồng. Tuy nhiên, trong Bô luật Dân sựhiện hành năm 2015, đã loại bö yếu tổ lỗi trong căn cử làm. phat sinh trach nhiệm béi thường thiét hai (được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật này, theo đó, căn cứ sác định trách nhiệm B TTH là ”ñửni: vi xâm phạm của người gây thiệt hai”. Việc loại bo yêu tỗ lỗt này vừa nhằm bảo dim được tính khách quan, vừa giúp bao vềlợi ich một cách tôi da cho bên bị thiệt hại.
Tuy nhiên, việc loại bé yếu tổ lỗi lam căn cứphát sinh trách nhiệm bồi. thưởng không có ngiấa là yếu tổ lỗi không có vai trò quan trọng trong chế định ti thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Dưới đây la một số ví du cụ thể vé yêu tô lỗi trong một số trường hợp BTTH: Thứ nhất, BTTH trong trường hợp vượt qua giới hạn phòng vệ chính đáng. và trong trường hợp vượt quá yêu câu của tỉnh thé cấp thiết Kế từ BLDS 2005 cho đến BLDS hiện hảnh năm 2105, vẫn chưa có một quy định chi tiết cụ thể nào về hành vi như thé nao mới được coi lả phòng về chính đáng Tuy nhiên, từ BLHS năm 2005 (Điểu 15) đến BLHS năm 2015 (khoăn 1 Điển 22) đã có quy định về phòng vệ chính đáng là “hảnh vi của người vi bảo về quyền hoặc lợi ích chính đáng của minh, của người khác hoặc lợi ích 18 của Nha nước, của cơ quan, tổ chức ma chống trả lại một cách can thiết đang có hành vi sâm phạm các lợi ích nó trên”. Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điểu 171 BLDS năm 2015 quy định về tinh thé cấp thiết là “tinh thé của người vì muốn.
tránh một nguy cơ đang thực tế de doa trực tiếp lợi ích công công, quyển, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác ma không còn cách nào khác la phải có hành đông gây một thiết hai nhd hơn thiết hại cin ngăn chin” Do đó, hành vi phòng về chính đáng va tinh thé cấp thiết gây ra được coi là hành vi hợp pháp nén dựa theo quy định của pháp luật, người gây thiệt hại trong trường hợp nay không phải BTTH. Tuy nhiên, việc phòng vê chính đáng chỉ được coi căn cử mién trách nhiệm nếu nó nằm trong hạn mức cho phép, via đủ để chống trả trước hành vi xâm phạm của chủ thé nao đó. Nếu chủ thé có hành vi “vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống tả rổ rang quá mức cẩn thiết, không phủ hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hảnh vi xâm. hại” (theo khoăn 2 Điều 22 BLHS năm 2015), thi hành vi đó được coi là hảnh vi trái pháp luật vả có lỗi.
Theo đó, tại Điều 594 BLDS năm 2015, quy định: “Nguoi gây thiệt hai trong trường hợp phỏng vệ chính ding không phải bồi thưởng cho người bi thiệt hại. Người gây thiệt hai do vượt qua giới han phòng vệ chính đăng phải bồi thường cho người bi thiệt hai.” và theo khoản 1 Điều 505 của Bộ luật nay quy định: " Trưởng hợp thiệt hai xây ra do vượt quả yêu cầu của tình thé cấp thiết thi người gây thiệt hại phải béi thường phẩn thiết hại xây ra do vượt quá yêu cầu của tình thé cấp thiết cho người bị thiệt hại”. Như vậy, người Bây thiết hại không tuân thủ theo pháp luật đã nêu trong hai trường hợp trên phải chu trách nhiệm bôi thường phân thiệt hai do họ gây ra theo nguyên tắc chung, về BTTH, Xét thay, việc quy đính nay là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với mục đích của trách nhiệm BTTH. Bên canh đó, tại khoản 2 Điều 505 quy định vẻ trường hop một người đã Bây ra tỉnh thé cấp thiết dẫn đền thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Bởi, người gây ra tình thé cấp thiết chỉ gián tiếp gây ra những tổn thất cho người bị thiệt hai, nhưng ho lại tao ra những nguy cơ de doa gây thiệt hai cho các lợi ich hop pháp của những chủ thể khác nên phải chịu trách nhiệm bồi 19 thường. Quy định này nhằm tao sự công bằng hơn, đồng thời, giúp ngăn chăn thiệt hai phát sinh tử hành vi của người gây ra tình thé cấp thiết ma buộc dan đến thiệt hai xây ra. Thứ hai, BTTH do người cia pháp nhân gây ra (căn cứ tại Điều 597 BLDS năm 2015). Pháp nhân là một tổ chức đáp ứng đủ các diéu kiện quy định tại khoăn 1 Điều 74 của Bộ luật này.
Pháp nhân tham gia vào các quan hệ dân sư thông qua hành vi của người đại diện hoặc thông qua người của pháp nhân (hay còn gọi là người được pháp nhân giao nhiệm vu).