Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN PHÁP LUAT VE PHAT VI PHAM HỢP DONG TRONG LĨNH VUC THUONG MẠI 1. Những vấn đề lý luận về phạt vỉ phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm của vi phạm hop đồng thương mại 1. Khái niệm vi phạm hop dong thương mại Trước đây giữa, Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại có sự quy định khách biệt, rạch ròi giữa hai khái niệm “hợp đồng dân sự” và “hợp đồng thương mại”.
Tuy nhiên, theo Bộ luật Dân sự năm 2015 đã không còn sự phân biệt nay, khái niệm hợp đồng được mở rộng đối với tất cả các lĩnh vực, bao gồm hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh doanh hay hợp đồng thương mại. Hợp đồng thương mại theo hai khía cạnh nội dung và thời gian thì có thé hiểu như một bản “kế hoạch” dé các chủ thé hợp đồng thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong tương lai. Nghĩa vụ bên nay tương ứng với quyền của bên kia. Các bên căn cứ vào mục đích giao kết, điều kiện, hoàn cảnh hiện tại và khả năng nhận thức, tư duy để dự đoán về điều kiện, hoàn cảnh, tỉnh toán, xác định, thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ đối với nhau.
Khi hợp đồng có hiệu lực trên thực tế, có thể vì các lý do chủ quan hoặc khách quan, một bên hoặc các bên của hợp đồng có thê vi phạm thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên còn lại, dan đến một phần hoặc toàn bộ mục đích của hợp đồng không đạt được, đồng thời có thê làm phát sinh thiệt hại đối với bên kia. Do vậy, vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là hành vi cụ thể (hành động hoặc không hành động, thực hiện hoặc không thực hiện), có tính sai phạm và trái với các quy định của HĐTM. Từ cách hiểu trên, chúng ta có thé đưa ra khái niệm về vi phạm hợp đồng như sau: “Vi phạm hop dong thương mai là hành vi không thực hiện dung hop dong của bên có nghĩa vụ bao gom hành vi không thực hiện một phan, không thực hiện toàn bộ, chậm thực hiện hay có khiếm khuyết trong việc thực hiện các nghĩa vụ theo hop đồng thương mai”. Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia theo Civil Law như Đức, Bộ luật Dân sự của nước này không đưa ra khái niệm chung về vi phạm hợp đồng.
Bộ luật trên chỉ quy định điều chỉnh các nhóm hành vi được cho là vi phạm hợp đồng gồm chậm thực hiện nghĩa vụ và không có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Trong thực tiễn xét xử ở Đức, Tòa án khắc phục lỗ hồng pháp luật băng việc gop các hành vi ngoài hai nhóm chính nêu trên thành nhóm thứ ba là “chủ động vi phạm”. Cũng trong hệ thống Civil Law, nhưng ở Pháp lại có một số điểm khác biệt. Bộ luật Dân sự Pháp quy định vi phạm hợp đồng thành hai nhóm là chậm thực hiện nghĩa vụ và không thực hiện nghĩa vụ.
Đối với hệ thống pháp luật Common Law, pháp luật Mỹ và Anh phan biệt các hành vi vi phạm hợp đồng thành hai dạng đó là “vi phạm thực tế” và “vi phạm thay trước”. Vi phạm thực tế là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng khi đến hạn, vi phạm thấy trước là trường hợp bên có quyền xem hành vi của bên có nghĩa vụ đã vi phạm hợp đồng khi chưa đến hạn thực hiện nhưng bên có nghĩa vụ bằng những hành vi của mình hoặc tuyên bố chính thức tới bên có quyền răng sẽ không thực hiện hợp đồng. Căn cứ vào mỗi dạng và thực tế vi phạm, pháp luật dân sự Anh, Mỹ đưa ra các quy định giải pháp dé bên có quyền lựa chọn để thực hiện quyền tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Công ước Viên 1980 (CISG) đã tiếp cận ở góc độ chung nhất về vi phạm hợp đồng quy định: Vi phạm hợp đồng được hiểu là việc không thực hiện nghĩa vụ bao gồm cả việc không thực hiện những nghĩa vụ được quy định rõ ràng trong hợp đồng mua bản hàng hóa và cả việc một trong hai bên không thực hiện nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ chính quy định của công ước này, từ các tập quán mà các bên đã thỏa thuận và từ cách thực hiện đã được các bên thiết lập trong mối quan hệ tương hỗ giữa họ.
Ở Việt Nam, cả hai pháp lệnh đó là Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 và Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 đều đề cập đến vấn đề vi phạm hợp đồng thông qua điều khoản quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Theo đó, vi phạm hợp đồng được hiểu là “không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng”, việc vi phạm hợp đồng làm phát sinh trách nhiệm pháp lý của bên vi phạm. Tới Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005, 2 bộ luật này chưa đưa ra quy định vi phạm hợp đồng. Khái niệm nay được rút ra từ quy định về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự (Điều 302 Bộ luật Dân sự năm 2005) gồm: “không thực hiện, thực hiện không đúng”.
Cả hai trường hợp trên khi xảy ra đều gây hậu quả cho bên có quyền, khiến bên này không được hưởng hoặc được hưởng không day đủ các quyên, lợi ích mà đảng lẽ được hưởng theo đúng nội dung thỏa thuận trong hợp đồng, ngoài ra có thé kéo theo các thiệt hại khác. Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện thực hiện không đây đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này”. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vu dung thời hạn thực hiện không day du nghĩa vụ hoặc thực hiện không dung nội dung của nghĩa vụ”. Nhu vay, cả Luật Thuong mai năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 đã đưa ra khái nệm và quy định về vi phạm hợp đồng (vi phạm nghĩa vụ), tuy nhiên phần nao có sự “chồng lần” về nội dung trong các trường hợp được liệt kê là vi phạm hợp 10 đồng là “thực hiện không đầy đủ” và “thực hiện không đúng” bởi thực hiện không đầy đủ là một dạng của thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Ở cả hai trường hợp, bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ tuy nhiên nghĩa vụ được xác định là chưa hoàn thành, bên có quyền chưa nhận được đầy đủ các quyền lợi chính đáng của mình. Đặc điểm của vi phạm hợp dong thương mại Thứ nhất, vi phạm HĐTM có thé bao gồm các trường hợp: Vi phạm hợp đồng nhỏ hoặc vi phạm nghiêm trọng. Một “vi phạm nhỏ” xảy ra khi bạn không nhận được một mặt hàng hoặc dịch vụ vào ngày đến hạn. Ví dụ, hai công ty ký hợp đồng thoả thuận sẽ mua — bán hàng 10.
Công ty A thoả thuận rằng họ sẽ giao toàn bộ lô hàng theo đúng yêu cầu của công ty B đúng thời gian ký trong hợp đồng, nhưng trên thực tế, Công ty A đã giao nhằm trong số 10.000 chiếc áo có 01 chiếc áo bị rách cho công ty B. “Vị phạm nghiêm trọng” là khi bạn nhận được thứ gì đó khác với những gì đã nêu trong thỏa thuận. Ví dụ, giả sử răng công ty của bạn ký hợp đồng với một nhà cung cấp dé cung cấp 200 bản sao của số tay hướng dẫn sử dụng cho một hội nghị công nghiệp ô tô. Nhưng khi các hộp đến địa điểm hội nghị, thay vào đó chúng chứa các tài liệu hướng dẫn làm vườn.
Hơn nữa, vi phạm hợp đồng thường thuộc một trong hai loại: “vi phạm thực tế” - khi một bên từ chối thực hiện đầy đủ các điều khoản của hợp đồng hoặc “vi phạm có thể lường trước” — khi một bên tuyên bố trước răng họ sẽ không đang giao hàng theo các điều khoản của hợp đồng. Thứ hai, các vẫn đề pháp lý liên quan đến vi phạm hợp đồng: Nguyên đơn, người khởi kiện ra Tòa cho rang đã có hành vi vi phạm hợp dong, trước tiên phải xác định rằng hợp đồng đã tồn tại giữa các bên. Nguyên đơn cũng phải chứng minh rang bị đơn — người chống lai đơn kiện hoặc cáo buộc ra tòa — đã không đáp ứng các yêu cầu của hợp đồng như thé nào. 11 Thứ ba, cách chứng minh HĐTM có hợp lệ: Cách đơn giản nhất dé chứng minh rang hợp đồng tồn tại là có một văn ban được ký kết bởi hai bên.
Cũng có thé thực thi một hợp đồng miệng, mặc dù một số loại thỏa thuận vẫn yêu cầu một hợp đồng bằng văn bản có giá trị pháp lý. Các loại hợp đồng này bao gồm việc bán hàng hóa với giá hơn 500 đô la, bán hoặc chuyền nhượng đất đai và các hợp đồng có hiệu lực trong hơn một năm ké từ ngày các bên ký kết thỏa thuận. Tòa án sẽ xem xét trách nhiệm của mỗi bên trong hợp đồng dé xác định xem họ đã hoàn thành nghĩa vụ của mình hay chưa? Tòa án cũng sẽ kiểm tra hợp đồng để xem liệu hợp đồng có bất kỳ sửa đổi nào có thê gây ra vi phạm bị cáo buộc hay không. Thông thường, nguyên đơn phải thông báo cho bị đơn rằng họ đang vi phạm hợp đồng trước khi tiến hành thủ tục pháp lý.
Thứ tư, những lý do có thé cho vi phạm: Tòa án sẽ đánh giá xem có lý do hợp pháp cho việc vi phạm hay không. Ví dụ, bị đơn có thể cho răng hợp đồng là gian dối vì nguyên don đã trình bay sai hoặc che giấu các sự kiện quan trọng. Theo cách khác, bị đơn có thể lập luận răng hợp đồng đã được ký kết dưới sự ép buộc, nói thêm rằng nguyên đơn buộc phải ký vào thỏa thuận bằng cách áp dụng các lời đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Trong các trường hợp khác, có thé có lỗi của cả nguyên đơn và bị don đã góp phan gây ra vi phạm.
Khái niệm, đặc điểm của phạt vi phạm hợp đồng thương mại 1. Khải niệm phạt vi phạm hợp đồng thương mại Hiện nay, pháp luật Việt Nam chỉ đưa ra khái niệm chung về hợp đồng mà lại không có khái niệm hợp đồng thương mại. Khái niệm hợp đồng được quy định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: “Hop dong la su thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay doi hoặc chấm dứt quyên, nghĩa vu dán sự”.