Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Thủ tục rút gọn (TTRG) trong tố tụng hình sự (TTHS) là một chế định thủ tục đặc biệt, được ghi nhận lần đầu tiên trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 theo định hướng cải cách tư pháp tại Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị. Mục tiêu căn bản của chế định này là đơn giản hóa trình tự, rút ngắn thời gian giải quyết đối với các vụ án hình sự có tính chất đơn giản, chứng cứ rõ ràng và hậu quả ít nghiêm trọng, qua đó hạn chế tình trạng án tồn đọng tại các cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, sau giai đoạn triển khai thử nghiệm ban đầu từ năm 2004, việc áp dụng TTRG trên thực tế tại nhiều địa phương hầu như bị đình trệ do các quy định pháp luật khi đó còn mang tính chung chung, thiếu cơ chế hướng dẫn cụ thể, đồng thời công tác chỉ đạo thực hiện ở cơ sở chưa thực sự quyết liệt.
Đến BLTTHS năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018), TTRG được tiếp tục kế thừa và xây dựng hoàn thiện thành một chương riêng biệt (Chương XXXI, Phần thứ bảy, gồm 11 điều luật từ Điều 455 đến Điều 465). Chế định này thể hiện vai trò thiết thực trong việc đẩy nhanh tiến độ xử lý tội phạm, đặc biệt trong các giai đoạn phát sinh tình huống cấp bách như đợt dịch bệnh Covid-19. Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận TTRG dưới góc độ lý luận thuần túy, chưa có nhiều khảo cứu thực nghiệm gắn liền với số liệu áp dụng cụ thể tại từng địa bàn hành chính. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận tốt nghiệp "Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hải Dương" của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Chi (chuyên ngành Luật Tố tụng Hình sự, người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hải Ninh, thực hiện năm 2024 tại Hà Nội) được xây dựng nhằm đánh giá toàn diện các quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng xét xử thực tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích hệ thống lý luận và thực trạng pháp luật về TTRG trong BLTTHS năm 2015, chỉ ra những bất cập, vướng mắc phát sinh từ thực tế áp dụng tại tỉnh Hải Dương; từ đó kiến nghị các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao chất lượng thực thi chế định này.
Để đạt được mục đích trên, đề tài xác định và giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến TTRG trong TTHS.
- Nghiên cứu các quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến phạm vi, điều kiện áp dụng, thẩm quyền quyết định và hủy bỏ quyết định áp dụng, thời hạn và thủ tục điều tra, truy tố, xét xử, cũng như các biện pháp ngăn chặn theo TTRG.
- Đánh giá thực trạng một cách toàn diện, khách quan thông qua việc khảo sát thực tiễn áp dụng TTRG trong giải quyết các vụ án hình sự tại 12 đơn vị cấp huyện thuộc tỉnh Hải Dương giai đoạn 2019 - 2023.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của BLTTHS năm 2015 và các biện pháp bảo đảm tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng TTRG trong thực tiễn.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận về TTRG, các quy định pháp luật tố tụng hình sự liên quan và thực tiễn thi hành của các cơ quan tiến hành tố tụng. Phạm vi nghiên cứu về không gian được giới hạn tại 12 quận, huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Hải Dương; phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn 5 năm, từ năm 2019 đến năm 2023, sau khi BLTTHS năm 2015 chính thức có hiệu lực thi hành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về mặt lý luận, khóa luận xác định TTRG là thủ tục tố tụng đặc biệt được rút ngắn về mặt thời gian, giản lược một số khâu thủ tục giấy tờ và thành phần người tiến hành tố tụng so với thủ tục thông thường. Dù mang tính chất giản lược, việc áp dụng TTRG vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc cơ bản của TTHS, bao gồm: nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; nguyên tắc suy đoán vô tội; bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội; nguyên tắc xét xử công khai và nguyên tắc hai cấp xét xử.
Hệ thống cơ sở pháp lý và văn kiện chính trị được tác giả sử dụng làm nền tảng phân tích gồm có:
- Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (đặc biệt là các điều 319, 320, 324).
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (trọng tâm là Chương XXXI từ Điều 455 đến Điều 465).
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động TTHS gây ra.
Về phương pháp tiếp cận, khóa luận dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được kết hợp sử dụng gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các khái niệm pháp lý, cấu thành điều kiện áp dụng và các giai đoạn tố tụng.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Áp dụng để so sánh quy định giữa BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 về thời hạn, thẩm quyền và thủ tục phiên tòa.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp và xử lý dữ liệu xét xử thực tế của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hải Dương.
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Sử dụng để rút ra những tồn tại, nguyên nhân từ các vụ việc thực tế và khái quát hóa thành các nhóm kiến nghị giải pháp.
Nguồn dữ liệu thực nghiệm phục vụ khóa luận được trích xuất trực tiếp từ hồ sơ thống kê định kỳ giai đoạn 2019 - 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương và Tòa án nhân dân 12 đơn vị cấp huyện trực thuộc, phản ánh số lượng vụ án thụ lý, giải quyết và phân loại tội danh xử lý theo TTRG.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục rút gọn
Chương 1 tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa chính trị - pháp lý - xã hội của TTRG, đồng thời phân tích chi tiết các quy định tại Chương XXXI BLTTHS năm 2015:
Về phạm vi và điều kiện áp dụng: BLTTHS năm 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng TTRG sang cả giai đoạn xét xử phúc thẩm (Điều 455), thay vì chỉ giới hạn ở điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm như luật năm 2003. Để áp dụng TTRG ở cấp sơ thẩm, vụ án phải thỏa mãn đồng thời 4 điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 456: (1) Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc người đó tự thú; (2) Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; (3) Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; (4) Người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng. So với luật cũ, luật mới đã bổ sung tình tiết "người phạm tội tự thú" và sửa đổi tiêu chí "có căn cước, lai lịch rõ ràng" thành "có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng". Ở giai đoạn phúc thẩm, TTRG được áp dụng khi vụ án đã hoặc chưa xử sơ thẩm bằng TTRG nhưng có đủ điều kiện và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc xin hưởng án treo (khoản 2 Điều 456).
Về thời hạn và thủ tục tố tụng: Các giai đoạn tố tụng theo TTRG được rút ngắn đáng kể so với thủ tục thông thường, đồng thời có sự điều chỉnh thời gian giữa luật năm 2015 so với luật năm 2003 nhằm bảo đảm tính khả thi:
| Giai đoạn tố tụng |
Thời hạn theo TTRG (BLTTHS 2015) |
Thời hạn theo TTRG (BLTTHS 2003) |
Thời hạn theo thủ tục thông thường (tội ít nghiêm trọng) |
| Điều tra |
Tối đa 20 ngày |
Tối đa 12 ngày |
Tối đa 02 tháng (gia hạn 01 lần không quá 02 tháng) |
| Truy tố |
Tối đa 05 ngày |
Tối đa 04 ngày |
Không quá 20 ngày (có thể gia hạn không quá 10 ngày) |
| Chuẩn bị xét xử sơ thẩm |
Tối đa 10 ngày |
Tối đa 07 ngày |
Không quá 30 ngày (gia hạn không quá 15 ngày) |
| Thời hạn mở phiên tòa sơ thẩm |
Trong 07 ngày kể từ khi có quyết định |
Trong 07 ngày kể từ khi có quyết định |
Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi có quyết định |
| Tổng thời hạn xét xử sơ thẩm |
Không quá 17 ngày |
Không quá 14 ngày |
Lên đến 45 ngày (chưa kể thời gian mở phiên tòa) |
| Xét xử phúc thẩm |
Không quá 22 ngày (chuẩn bị 15 ngày, mở tòa 07 ngày) |
Không quy định |
Tối đa 105 ngày |
Về đặc thù thủ tục: Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra không làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định đề nghị truy tố. Viện kiểm sát không ban hành bản cáo trạng mà ra quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, Hội đồng xét xử chỉ gồm 01 Thẩm phán tiến hành (không có Hội thẩm nhân dân) và không có thủ tục nghị án.
Về thẩm quyền và biện pháp ngăn chặn: BLTTHS năm 2015 trao thẩm quyền ra quyết định áp dụng và hủy bỏ quyết định áp dụng TTRG cho cả 3 cơ quan: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án (Điều 458), khắc phục tình trạng độc quyền của Viện kiểm sát ở luật cũ. Biện pháp tạm giữ áp dụng không quá 03 ngày (không được gia hạn). Thời hạn tạm giam không được vượt quá thời hạn tố tụng từng giai đoạn: điều tra không quá 20 ngày, truy tố không quá 05 ngày, xét xử sơ thẩm không quá 17 ngày, phúc thẩm không quá 22 ngày. Không áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp vì TTRG chỉ xử lý hành vi bắt quả tang hoặc tự thú.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục rút gọn tại tỉnh Hải Dương và một số giải pháp nâng cao chất lượng
Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về việc thực thi chế định TTRG tại tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2019 - 2023 qua việc phân tích 4 bảng thống kê:
1. Tình hình thụ lý và giải quyết vụ án theo TTRG:
Từ năm 2019 đến năm 2023, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hải Dương đã thụ lý tổng cộng 387 vụ án theo TTRG từ Viện kiểm sát và đã giải quyết 372 vụ, đạt tỷ lệ giải quyết chung là 96,1% (án tồn đọng là 15 vụ, chiếm 3,9%). Số lượng vụ án giải quyết tăng dần đều qua từng năm: năm 2019 giải quyết 32/39 vụ (đạt 82,1%); năm 2020 giải quyết 56/61 vụ (đạt 91,8%); năm 2021 giải quyết 70/73 vụ (đạt 95,9%); năm 2022 giải quyết 97/97 vụ (đạt 100%); và năm 2023 giải quyết 117/117 vụ (đạt 100%).
2. Phân bố việc áp dụng TTRG giữa các đơn vị cấp huyện (Bảng 2.2):
Việc áp dụng TTRG diễn ra không đồng đều giữa 12 địa phương trên địa bàn tỉnh:
- Thành phố Hải Dương là đơn vị áp dụng nhiều nhất với 143 vụ (năm 2019: 13, 2020: 21, 2021: 27, 2022: 35, 2023: 47 vụ).
- Thành phố Chí Linh đứng thứ hai với 95 vụ (năm 2019: 10, 2020: 17, 2021: 18, 2022: 23, 2023: 27 vụ).
- Huyện Nam Sách giải quyết 44 vụ, thị xã Kinh Môn giải quyết 33 vụ, huyện Kim Thành giải quyết 17 vụ, huyện Thanh Hà giải quyết 13 vụ, huyện Cẩm Giàng giải quyết 10 vụ, huyện Tứ Kỳ giải quyết 8 vụ, huyện Bình Giang giải quyết 7 vụ, huyện Gia Lộc giải quyết 6 vụ, huyện Thanh Miện giải quyết 5 vụ.
- Huyện Ninh Giang là địa phương có số lượng thấp nhất toàn tỉnh, trong 5 năm chỉ giải quyết được 2 vụ án theo TTRG (năm 2022: 1 vụ, năm 2023: 1 vụ; các năm 2019 - 2021 đều là 0 vụ).
3. Cơ cấu các loại tội phạm được giải quyết theo TTRG (Bảng 2.3):
Trong tổng số 372 vụ án đã giải quyết theo TTRG giai đoạn 2019 - 2023, phạm vi tội danh bị thu hẹp vào 4 nhóm tội chính:
- Tội tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt trái phép chất ma túy chiếm tỷ trọng cao nhất với 158 vụ (tỷ lệ 42,5%).
- Tội trộm cắp tài sản chiếm 95 vụ (tỷ lệ 25,5%).
- Tội cố ý gây thương tích chiếm 64 vụ (tỷ lệ 17,2%).
- Tội đánh bạc chiếm 55 vụ (tỷ lệ 14,8%).
4. Tỷ lệ áp dụng TTRG so với tổng lượng án hình sự sơ thẩm (Bảng 2.4):
Mặc dù số vụ án TTRG có xu hướng tăng, tỷ lệ áp dụng so với tổng số án hình sự sơ thẩm mà TAND các cấp tỉnh Hải Dương thụ lý vẫn ở mức rất thấp, chưa từng vượt quá ngưỡng 1,6%:
| Năm |
Số vụ án hình sự Tòa án thụ lý |
Số vụ xét xử theo TTRG |
Tỷ lệ áp dụng TTRG |
| 2019 |
3.393 |
32 |
0,94% |
| 2020 |
4.608 |
56 |
1,22% |
| 2021 |
5.150 |
70 |
1,36% |
| 2022 |
6.398 |
97 |
1,52% |
| 2023 |
7.854 |
117 |
1,49% |
| Tổng cộng |
27.403 |
372 |
1,35% |
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:
- Bất cập từ quy định pháp luật: Điều 456 chỉ quy định trường hợp "tự thú", chưa đưa trường hợp "đầu thú" vào diện áp dụng TTRG; các tiêu chí "sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng" và "nơi cư trú, lý lịch rõ ràng" mang tính định tính, chưa có văn bản giải thích thống nhất; Điều 457 khiến nhiều cơ quan hiểu việc áp dụng TTRG là quyền tùy nghi chứ không phải nghĩa vụ bắt buộc.
- Trở ngại về thời hạn và giám định: Thời hạn điều tra 20 ngày quá gấp gáp trong bối cảnh Điều tra viên cùng lúc phải thụ lý nhiều vụ án. Việc chờ kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá kiêm nhiệm thường kéo dài cả tuần hoặc cả tháng; việc tra cứu tiền án, tiền sự của bị can có nơi cư trú ngoài tỉnh mất nhiều thời gian, vượt quá khung thời hạn điều tra TTRG.
- Rào cản tâm lý và phối hợp: Cán bộ tiến hành tố tụng e ngại áp lực rút ngắn thời gian dễ dẫn đến sai sót, phát sinh trách nhiệm bồi thường theo Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11 nên chọn giải quyết theo thủ tục chung; thiếu quy chế phối hợp liên ngành ba cơ quan; trước tháng 9/2023, biểu mẫu thống kê định kỳ của Tòa án chưa có mục theo dõi riêng về án TTRG, dẫn đến thiếu sự quan tâm và chỉ đạo sát sao.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu thực chứng:
Khóa luận đã xây dựng được cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện về kết quả thụ lý, xét xử theo TTRG tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hải Dương từ năm 2019 đến năm 2023. Các số liệu được bóc tách chi tiết theo thời gian, theo 12 đơn vị hành chính cấp huyện và theo 4 nhóm tội danh phổ biến, chứng minh tỷ lệ áp dụng TTRG tại địa phương còn rất khiêm tốn (chỉ đạt 1,35% trên tổng số 27.403 vụ án hình sự thụ lý).
Hệ thống giải pháp và kiến nghị:
Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm hai nhóm chính:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện lập pháp:
- Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 456 BLTTHS năm 2015 theo hướng bổ sung diện "đầu thú": "Người phạm tội bị bắt quả tang hoặc người đó đầu thú, tự thú".
- Ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể tiêu chí định tính: "sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng" và "người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng".
- Bổ sung quy định về trở ngại khách quan khi Tòa án không thể mở phiên tòa trong thời hạn 07 ngày, hoặc bổ sung trường hợp này vào căn cứ hoãn phiên tòa tại Điều 297 BLTTHS.
- Hướng dẫn rõ thẩm quyền hủy bỏ quyết định áp dụng TTRG khi Thẩm phán trả hồ sơ điều tra bổ sung; quy định thẩm quyền tạm giam bị cáo sau phiên tòa sơ thẩm theo TTRG.
- Rà soát Bộ luật Hình sự để công bố danh mục các tội phạm cụ thể đủ điều kiện áp dụng TTRG (tương tự như hướng dẫn thí điểm 09 tội danh trong giai đoạn dịch Covid-19).
- Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện:
- Ban hành Quy chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Tòa án nhân dân Tối cao.
- Quy định trách nhiệm của cơ quan lưu tàng thư căn cước phải cung cấp trích lục tiền án, tiền sự trong thời hạn từ 5 đến 7 ngày đối với các vụ án áp dụng TTRG (thay vì quy định trên 15 ngày như hiện nay).
- Thiết lập cơ chế hoạt động chuyên trách và chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho Hội đồng định giá tài sản trong TTHS nhằm đẩy nhanh tiến độ ban hành kết luận định giá.
- Tăng cường lực lượng Điều tra viên, cán bộ điều tra cho Công an cấp huyện; đưa chỉ tiêu thụ lý, xét xử TTRG vào báo cáo định kỳ và tiêu chí bình xét thi đua hàng năm của các cơ quan tư pháp; biên tập và xuất bản tuyển tập các bản án TTRG tiêu biểu làm tài liệu tập huấn nghiệp vụ.
Đóng góp khoa học:
Khóa luận đã bổ sung nguồn tư liệu thực tiễn có giá trị về tình hình thi hành Chương XXXI BLTTHS năm 2015 ở cấp cơ sở, làm rõ khoảng cách giữa quy định pháp luật và hiệu quả áp dụng thực tế tại một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Phạm vi khảo sát thực nghiệm của khóa luận mới chỉ dừng lại ở địa bàn tỉnh Hải Dương, chưa có số liệu so sánh đối chiếu đa chiều với các tỉnh, thành phố lân cận hoặc các trung tâm đô thị lớn.
- Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các vụ án được Tòa án nhân dân hai cấp xét xử sơ thẩm theo truy tố của Viện kiểm sát; chưa phản ánh sâu số liệu giải quyết ở giai đoạn tiếp nhận, phân loại nguồn tin tội phạm ban đầu tại Cơ quan điều tra và việc áp dụng TTRG ở cấp xét xử phúc thẩm.
- Do biểu mẫu thống kê của ngành Tòa án trước tháng 9/2023 không thiết kế mục riêng cho TTRG, việc tổng hợp số liệu gặp nhiều khó khăn, phụ thuộc vào công tác rà soát thủ công từng đơn vị.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực nghiệm trên bình diện liên tỉnh hoặc quy mô toàn quốc để đánh giá toàn diện tác động của chế định TTRG.
- Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế phối hợp kiểm sát điều tra giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra ngay từ thời điểm bắt quả tang hoặc tiếp nhận người tự thú.
- Nghiên cứu khả năng mở rộng phạm vi áp dụng TTRG đối với nhóm tội phạm nghiêm trọng nhưng có tính chất giản đơn và chứng cứ hiển nhiên, nhằm đáp ứng yêu cầu tinh gọn thủ tục tư pháp trong giai đoạn mới.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Giảng viên, sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Luật Tố tụng Hình sự, Tội phạm học và Tư pháp hình sự khi nghiên cứu về chế định TTRG và so sánh các quy định qua các thời kỳ lập pháp (BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015).
- Cán bộ làm công tác thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) trên địa bàn tỉnh Hải Dương và các địa phương khác, giúp nắm bắt những vướng mắc thực tế liên quan đến thời hạn, định giá tài sản và xác minh lai lịch bị can.
- Các nhà làm luật, chuyên gia lập pháp thuộc TAND Tối cao, VKSND Tối cao và Bộ Công an trong quá trình xây dựng thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành hoặc sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015 trong tương lai.
Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất của công trình là hệ thống 4 bảng số liệu thực chứng giai đoạn 2019 - 2023 tại Chương 2 và các phân tích pháp lý về các tiêu chí cấu thành điều kiện áp dụng TTRG tại Điều 456 BLTTHS.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm theo thủ tục rút gọn tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hải Dương giai đoạn 2019 - 2023 đạt bao nhiêu?
Trong 5 năm (2019 - 2023), TAND hai cấp tỉnh Hải Dương thụ lý 27.403 vụ án hình sự sơ thẩm, trong đó số vụ xét xử theo TTRG là 372 vụ, đạt tỷ lệ chung là 1,35%. Dù tỷ lệ này có xu hướng tăng nhẹ qua các năm (từ 0,94% năm 2019 lên 1,49% năm 2023), con số thực tế vẫn rất khiêm tốn và chưa năm nào vượt qua mốc 1,6%.
2. Nhóm tội phạm nào được áp dụng thủ tục rút gọn nhiều nhất trên địa bàn tỉnh Hải Dương?
Theo số liệu thống kê tại Bảng 2.3 của khóa luận, trong 372 vụ án giải quyết theo TTRG, nhóm tội "Tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt trái phép chất ma túy" chiếm tỷ lệ cao nhất với 158 vụ (42,5%). Tiếp theo là tội "Trộm cắp tài sản" với 95 vụ (25,5%), tội "Cố ý gây thương tích" với 64 vụ (17,2%) và tội "Đánh bạc" với 55 vụ (14,8%).
3. Địa phương nào tại Hải Dương áp dụng thủ tục rút gọn nhiều nhất và ít nhất trong giai đoạn 2019 - 2023?
Thành phố Hải Dương là đơn vị áp dụng nhiều nhất với 143 vụ (chiếm 38,4% toàn tỉnh), đứng thứ hai là Thành phố Chí Linh với 95 vụ. Ngược lại, huyện Ninh Giang là địa phương áp dụng ít nhất với tổng cộng 2 vụ trong suốt 5 năm (các năm 2019, 2020, 2021 đều không có vụ nào).
4. Điểm khác biệt căn bản về thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn giữa BLTTHS 2015 và BLTTHS 2003 là gì?
Theo quy định tại BLTTHS năm 2003, phiên tòa sơ thẩm theo TTRG vẫn giữ nguyên thành phần gồm 01 Thẩm phán và 02 Hội thẩm nhân dân và vẫn tiến hành nghị án. Đến BLTTHS năm 2015, phiên tòa sơ thẩm theo TTRG chỉ do 01 Thẩm phán tiến hành (không có Hội thẩm nhân dân) và không có thủ tục nghị án, giúp tinh gọn tối đa bộ máy xét xử.
5. Vì sao tác giả kiến nghị sửa đổi điểm a khoản 1 Điều 456 BLTTHS năm 2015 về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn?
Điều 456 BLTTHS năm 2015 chỉ quy định áp dụng TTRG cho người bị "bắt quả tang hoặc tự thú", loại trừ trường hợp người phạm tội "đầu thú". Thực tế có nhiều vụ án người phạm tội ra đầu thú, sự việc rất đơn giản, chứng cứ rõ ràng, thuộc loại tội ít nghiêm trọng và lai lịch rõ ràng nhưng cơ quan tố tụng không thể áp dụng TTRG vì vướng quy định luật định. Do đó, tác giả kiến nghị sửa đổi thành: "Người phạm tội bị bắt quả tang hoặc người đó đầu thú, tự thú".
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Chi đã cung cấp một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận pháp lý và khảo sát thực chứng về chế định thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự. Dữ liệu thực tế 5 năm (2019 - 2023) tại tỉnh Hải Dương đã chỉ rõ thực trạng áp dụng TTRG còn ở mức rất thấp (1,35%) và tập trung cục bộ ở một số ít địa bàn cùng các tội danh đơn giản. Các nguyên nhân cốt lõi về sự thiếu vắng trường hợp đầu thú, tính định tính của tiêu chí chứng cứ, áp lực thời hạn điều tra và sự chậm trễ trong khâu định giá, tra cứu tiền án đã được nhận diện rõ nét. Trên cơ sở đó, hệ thống giải pháp lập pháp và tổ chức thực hiện liên ngành được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công cuộc cải cách tư pháp hiện nay.