Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chế định tạm đình chỉ điều tra là một thủ tục tố tụng quan trọng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, đóng vai trò là cơ sở pháp lý để Cơ quan điều tra (CQĐT) tạm ngưng các hoạt động điều tra đối với toàn bộ vụ án hoặc đối với từng bị can khi xuất hiện các trở ngại khách quan theo luật định. Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 27/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 (gồm 510 điều, bố cục thành 9 phần, 36 chương; bổ sung mới 176 điều, sửa đổi 317 điều, giữ nguyên 17 điều, bãi bỏ 26 điều so với BLTTHS năm 2003). Đến ngày 12/11/2021, Quốc hội khóa XV thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS (có hiệu lực từ ngày 01/12/2021) nhằm đáp ứng cam kết trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và giải quyết các vấn đề cấp bách do thiên tai, dịch bệnh phát sinh. Chế định tạm đình chỉ điều tra đã được sửa đổi, bổ sung cụ thể hơn về căn cứ, thẩm quyền, thủ tục nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân và tính nghiêm minh của pháp luật.

Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, hoạt động tạm đình chỉ điều tra vẫn còn bộc lộ không ít bất cập: nhiều vụ việc tạm đình chỉ không đúng căn cứ pháp luật dẫn đến kéo dài thời gian tố tụng, gây lãng phí nguồn lực, áp dụng sai quy định gây bức xúc dư luận, cá biệt có hiện tượng lợi dụng chế định này để bị can trốn tránh trách nhiệm hình sự hoặc né tránh bồi thường oan sai. Nhằm giải quyết các bất cập trên, tác giả Nguyễn Thị Hoà (Trường Đại học Luật Hà Nội) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Tạm đình chỉ điều tra theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam".

Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu tổng quát là làm sáng tỏ một cách có hệ thống cơ sở lý luận, phân tích các quy định của BLTTHS hiện hành, đánh giá thực trạng áp dụng trong thực tiễn, chỉ ra các hạn chế, vướng mắc cùng nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tạm đình chỉ điều tra. Để thực hiện mục đích này, tác giả đặt ra 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Giải quyết một số vấn đề lý luận về tạm đình chỉ điều tra như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa chính trị - xã hội và thực tiễn.
  2. Phân tích các quy định của BLTTHS hiện hành về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tạm đình chỉ điều tra và phục hồi điều tra.
  3. Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về tạm đình chỉ điều tra trong giai đoạn 2019 - 2023, phân tích nguyên nhân của các hạn chế, tồn tại.
  4. Đưa ra hệ thống giải pháp, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng thực thi trong giai đoạn cải cách tư pháp.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, hệ thống quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng quy định về tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung và chủ thể: Tập trung vào các quy định của BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành; phạm vi thẩm quyền tạm đình chỉ điều tra giới hạn ở Cơ quan điều tra, không nghiên cứu thẩm quyền của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
    • Về không gian và thời gian: Đánh giá số liệu thực tiễn trên phạm vi toàn quốc và các vụ việc thực tế điển hình (tập trung tại địa bàn tỉnh Bình Định và thành phố Hà Nội) trong khoảng thời gian 5 năm, từ năm 2019 đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người, đấu tranh phòng chống tội phạm, kết hợp với các thành tựu của khoa học luật hình sự, luật tố tụng hình sự và tội phạm học.

Các khái niệm, thuật ngữ và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả sử dụng làm khung phân tích bao gồm:

  • Khái niệm nghiên cứu: Tác giả phân tích thuật ngữ "tạm đình chỉ" dưới góc độ ngôn ngữ và khoa học pháp lý (tổng hợp từ các giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội và các công trình bình luận khoa học). Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra định nghĩa: "Tạm đình chỉ điều tra là việc cơ quan có thẩm quyền điều tra tạm ngừng việc điều tra đối với vụ án hình sự hoặc đối với bị can khi có những căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự".
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) với các điều khoản trọng tâm (Điều 35, Điều 36, Điều 39, Điều 172, Điều 229, Điều 230, Điều 231, Điều 232, Điều 235, Điều 447); Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 21, Điều 27, Điều 28); Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015; Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007; Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC ngày 29/11/2021; Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP; các Nghị quyết số 32/1999/NQ-QH10, Nghị quyết số 33/2009/QH12, Nghị quyết số 41/2017/QH14; Nghị định số 76/2003/NĐ-CP, Nghị định số 134/2016/NĐ-CP, Thông tư số 26/2014/TT-BQP và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP.

Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được áp dụng trong khóa luận gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm: Áp dụng để giải thích, làm rõ nội dung, bản chất và mối liên hệ giữa các điều luật quy định về tạm đình chỉ điều tra, phục hồi điều tra và đình chỉ điều tra.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của BLTTHS năm 2015 với BLTTHS năm 2003 để làm nổi bật các điểm sửa đổi, bổ sung tiến bộ cũng như các khoảng trống pháp lý còn tồn tại.
  • Phương pháp thống kê xã hội học pháp luật: Sử dụng để tập hợp, xử lý và phân tích dữ liệu định lượng từ các Báo cáo tổng kết công tác của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Cục Thống kê tội phạm - VKSNDTC) giai đoạn 2019 - 2023.
  • Phương pháp nghiên cứu hồ sơ tình huống (Case study): Phân tích thực tế các vụ án cụ thể xảy ra tại Công an thành phố Quy Nhơn, Công an huyện Tuy Phước, Công an thị xã An Nhơn (tỉnh Bình Định) và địa bàn thành phố Hà Nội để minh chứng cho các vướng mắc nghiệp vụ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về tạm đình chỉ điều tra

Chương 1 tập trung phân tích bản chất pháp lý và hệ thống hóa các quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động tạm đình chỉ điều tra:

  1. Vấn đề lý luận về tạm đình chỉ điều tra:

    • Bốn đặc điểm pháp lý cơ bản: (i) Tạm đình chỉ điều tra là quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền ban hành của cơ quan có thẩm quyền điều tra trong giai đoạn điều tra; (ii) Hậu quả pháp lý trực tiếp là tạm thời ngừng các hoạt động điều tra, CQĐT chưa đưa ra kết luận điều tra cuối cùng về vụ án hay bị can; (iii) Tính chất gián đoạn tạm thời sẽ chấm dứt và vụ án được phục hồi điều tra khi lý do tạm đình chỉ không còn hoặc bị hủy bỏ; (iv) Phạm vi áp dụng có thể là toàn bộ vụ án hoặc riêng biệt đối với từng bị can.
    • Ý nghĩa: Về mặt chính trị - xã hội, quy định này bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, thể hiện chính sách nhân đạo đối với người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo. Về mặt thực tiễn, chế định giúp khắc phục tình trạng tồn đọng án, tránh kéo dài thời hạn tố tụng vô ích, tiết kiệm chi phí tư pháp và phòng ngừa làm oan người vô tội.
  2. Quy định pháp luật hiện hành:

    • Năm căn cứ tạm đình chỉ điều tra theo Khoản 1 Điều 229 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021):
      • Căn cứ 1: Khi chưa xác định được bị can nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án (căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 172 BLTTHS).
      • Căn cứ 2: Khi không biết rõ bị can ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra (trước khi ra quyết định tạm đình chỉ, CQĐT bắt buộc phải ra quyết định truy nã theo Điều 231 BLTTHS).
      • Căn cứ 3: Khi đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả mà đã hết thời hạn điều tra (các hoạt động chuyên môn vẫn tiếp tục được thực hiện trong thời gian tạm đình chỉ).
      • Căn cứ 4: Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo (có thể tạm đình chỉ tại bất kỳ thời điểm nào trước khi hết thời hạn điều tra; nếu bị bệnh tâm thần phải gửi kết luận để VKS ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; nếu bệnh hiểm nghèo phải có chứng nhận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên).
      • Căn cứ 5: Khi không thể kết thúc điều tra vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn điều tra (quy định mới theo Luật sửa đổi năm 2021 và Thông tư liên tịch số 01/2021).
    • Thẩm quyền quyết định: Thuộc về Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra khi được phân công thực hiện việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự (theo Điều 36 BLTTHS).
    • Thủ tục và hậu quả pháp lý: Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ, CQĐT phải gửi quyết định cho VKS cùng cấp, bị can, người bào chữa/đại diện và thông báo cho bị hại, đương sự (Khoản 3 Điều 229). Về phục hồi điều tra (Điều 235 BLTTHS và Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2020), thời hạn điều tra tiếp không quá 02 tháng đối với tội ít nghiêm trọng/nghiêm trọng và không quá 03 tháng đối với tội rất nghiêm trọng/đặc biệt nghiêm trọng.

Chương 2: Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tạm đình chỉ điều tra và một số giải pháp nâng cao chất lượng

Chương 2 cung cấp bức tranh thực tế việc thực hiện chế định tạm đình chỉ điều tra thông qua các số liệu thống kê toàn quốc và các vụ án cụ thể:

  1. Kết quả đạt được (Giai đoạn 2019 - 2023):
    • Theo số liệu của Cục Thống kê tội phạm - VKSNDTC, từ năm 2019 đến 2023, CQĐT các cấp đã thụ lý điều tra tổng cộng 554.019 vụ án với 827.565 bị can; trong đó đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với 74.332 vụ án và 11.279 bị can.
    • Phần lớn các quyết định tạm đình chỉ điều tra đều có căn cứ đúng pháp luật và được Viện kiểm sát chấp nhận (74.287 vụ án và 11.270 bị can được VKS chấp nhận, không bị hủy bỏ).

Bảng 1: Số liệu tạm đình chỉ điều tra so với số vụ án/bị can thụ lý điều tra (2019 - 2023)

Năm Số vụ đã thụ lý điều tra Số bị can đã thụ lý điều tra Số vụ tạm đình chỉ điều tra Tỷ lệ số vụ TĐC / Tổng số vụ (%) Số bị can tạm đình chỉ điều tra Tỷ lệ số bị can TĐC / Tổng số bị can (%)
2019 97.755 148.163 14.356 14,69% 2.551 1,72%
2020 103.780 163.725 14.270 13,75% 2.424 1,48%
2021 110.722 168.167 15.371 13,89% 2.441 1,45%
2022 111.408 173.757 12.625 11,33% 2.050 1,18%
2023 130.354 200.057 17.710 13,59% 2.232 1,11%
Tổng cộng 554.019 827.565 74.332 13,42% 11.279 1,36%

Bảng 2: Số liệu quyết định tạm đình chỉ điều tra được Viện kiểm sát chấp nhận, không huỷ bỏ (2019 - 2023)

Năm Số vụ TĐC điều tra Số vụ được VKS chấp nhận Tỷ lệ chấp nhận vụ án (%) Số bị can TĐC điều tra Số bị can được VKS chấp nhận Tỷ lệ chấp nhận bị can (%)
2019 14.356 14.346 99,93% 2.551 2.549 99,92%
2020 14.270 14.261 99,94% 2.424 2.423 99,96%
2021 15.371 15.364 99,95% 2.441 2.439 99,92%
2022 12.625 12.614 99,91% 2.050 2.046 99,80%
2023 17.710 17.702 99,95% 2.232 2.232 100,00%
Tổng cộng 74.332 74.287 99,94% 11.279 11.270 99,92%
  • Các tình huống tạm đình chỉ điển hình:
    • Bị can trốn, đã truy nã không kết quả: Vụ trộm két sắt 280.000.000 đồng tại Công ty CP Công nghệ gỗ Đại Thành (TP. Quy Nhơn, khởi tố 2011, tạm đình chỉ tháng 11/2011); Vụ Đỗ Xuân Nghĩa cho vay lãi nặng từ 180% - 360%/năm thu lợi bất chính 114 triệu đồng bỏ trốn (TP. Quy Nhơn, khởi tố 2020); Vụ Trần Văn Quang lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt hơn 1,5 tỷ đồng bỏ trốn hơn 10 năm (huyện Tây Sơn, khởi tố 2010).
    • Hết hạn điều tra chưa xác định được bị can: Vụ vận chuyển 08 khúc ngà voi (17,6 kg) trên xe ô tô đầu kéo 43S-5071 không rõ chủ sở hữu (Công an tỉnh Bình Định khởi tố năm 2020, tạm đình chỉ ngày 30/10/2020); Vụ trộm tiệm vàng Kim Thành lấy 222,5 chỉ vàng 24K (huyện Tuy Phước, khởi tố tháng 6/2012); Vụ lừa đảo qua tài khoản Facebook "DieuTruong" chuyển tiền qua các tài khoản game/cờ bạc (TP. Quy Nhơn, tạm đình chỉ tháng 5/2021); Vụ cướp 14,5 lượng vàng tại tiệm vàng Đồng Tín (thị xã An Nhơn, tạm đình chỉ tháng 10/2014); Vụ trộm 09 hộp điện xe ô tô đầu kéo trị giá 365.148.000 đồng tại Công ty Quốc Tú (huyện Tuy Phước, tạm đình chỉ tháng 10/2018).
  1. Hạn chế và tồn tại trong thực tiễn:
    • Các quyết định bị Viện kiểm sát huỷ bỏ: Trong 5 năm đã có 45 vụ án và 9 quyết định tạm đình chỉ đối với bị can bị VKS ra quyết định huỷ bỏ do vi phạm thẩm quyền, thời hạn hoặc thiếu căn cứ.

Bảng 3: Số liệu quyết định tạm đình chỉ điều tra bị Viện kiểm sát huỷ bỏ (2019 - 2023)

Năm Số vụ TĐC điều tra Số vụ TĐC bị VKS huỷ bỏ Số bị can TĐC điều tra Số bị can bị VKS huỷ bỏ quyết định TĐC
2019 14.356 10 2.551 2
2020 14.270 9 2.424 1
2021 15.371 7 2.441 2
2022 12.625 11 2.050 4
2023 17.710 8 2.232 0
Tổng cộng 74.332 45 11.279 9
  • Tạm đình chỉ không có căn cứ hoặc sai căn cứ pháp luật:
    • Vụ Nguyễn Thị Nhân Hoàng đập phá tài sản của bà Trương Thị Lan (thiệt hại 6.639.000 đồng, thị xã An Nhơn): Bị can không hợp tác với lý do có thai và sinh con, CQĐT vận dụng sai Điểm a Khoản 1 Điều 229 để ra quyết định tạm đình chỉ.
    • Vụ Phạm Thị Thương phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (huyện Tuy Phước, 2015): Kết luận giám định xác định bị can bị tâm thần phân liệt nhưng ở mức "hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi" (vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự), nhưng VKSND huyện Tuy Phước lại ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và tạm đình chỉ vụ án/bị can là trái quy định của BLHS và BLTTHS.
  • Hồ sơ tạm đình chỉ thiếu sót tài liệu xác minh: Nhiều hồ sơ thiếu biên bản xác minh, thiếu lời khai nhân chứng, thiếu biên bản khám nghiệm hiện trường hoặc không có tài liệu thể hiện hoạt động truy tìm sau khi tạm đình chỉ (như vụ đánh bạc tại thị trấn Tăng Bạt Hổ, vụ TNGT làm tử vong Nguyễn Đình Thái tại Hoài Ân, vụ trộm cắp tại UBND xã Mỹ Phong - Phù Mỹ).
  1. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại:
    • Vướng mắc từ quy định pháp luật: Chưa có văn bản pháp luật giải thích thống nhất khái niệm "bệnh hiểm nghèo" và danh mục cụ thể; thiếu cơ chế xử lý trường hợp bị can mắc bệnh nội trú dài ngày nhưng không thuộc diện bệnh hiểm nghèo; quy định giao quyết định trong 02 ngày cho bị can bỏ trốn thiếu tính khả thi; chưa quy định rõ thủ tục tách vụ án trước khi tạm đình chỉ đối với vụ án có nhiều bị can tại Khoản 2 Điều 229; chưa có quy định khống chế thời hạn tối đa đối với công tác giám định tư pháp.
    • Nguyên nhân từ tình hình tội phạm và quản lý cư trú: Tội phạm ngày càng tinh vi, sử dụng công nghệ cao; di biến động dân cư lớn (như tại TP. Hà Nội) trong khi công tác quản lý lưu trú, tạm trú tại nhà trọ, nhà nghỉ còn lỏng lẻo.
    • Nguyên nhân từ năng lực cán bộ: Trình độ, tinh thần trách nhiệm của một số Điều tra viên (ĐTV) và Kiểm sát viên (KSV) còn hạn chế; việc khám nghiệm hiện trường, đánh giá chứng cứ còn chủ quan; tâm lý ngại đi xác minh địa bàn xa.
    • Nguyên nhân từ công tác chỉ đạo và xử lý vi phạm: Lãnh đạo một số đơn vị chưa sâu sát, thiếu kiểm tra tiến độ án tạm đình chỉ; việc xử lý cán bộ vi phạm chưa nghiêm, chủ yếu dừng lại ở hình thức "rút kinh nghiệm".
    • Nguyên nhân từ công tác phối hợp: Sự trao đổi, phối hợp nghiệp vụ giữa CQĐT và VKS thiếu thường xuyên, dẫn đến việc không thống nhất quan điểm đánh giá chứng cứ ngay từ đầu.

Kết quả và đóng góp

  1. Kết quả nghiên cứu chính:

    • Tổng hợp và hệ thống hóa toàn diện bức tranh thực tiễn áp dụng chế định tạm đình chỉ điều tra trên phạm vi toàn quốc trong 5 năm (2019 - 2023), xác định tỷ lệ án tạm đình chỉ chiếm trung bình 13,42% tổng số vụ án thụ lý.
    • Làm rõ thực trạng giải quyết án tạm đình chỉ qua các bảng số liệu cụ thể về tỷ lệ chấp nhận của Viện kiểm sát (đạt trên 99,9%) và số lượng quyết định bị hủy bỏ (45 vụ án, 9 bị can).
    • Phân loại và phân tích chi tiết 11 vụ án thực tiễn điển hình để làm rõ các vướng mắc về truy nã bị can, định tội danh trong các vụ trộm cắp, cướp giật, tai nạn giao thông và các sai sót nghiệp vụ khi áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
  2. Hệ thống giải pháp và kiến nghị của tác giả:

    • Hoàn thiện quy định pháp luật:
      • Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 229 BLTTHS theo hướng quy định rõ thủ tục tách vụ án hình sự trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
      • Ban hành văn bản liên ngành hướng dẫn thống nhất tiêu chí xác định và danh mục "bệnh hiểm nghèo" làm căn cứ tạm đình chỉ.
      • Bổ sung quy định về thời hạn cụ thể đối với hoạt động giám định tư pháp, tránh việc kéo dài vô thời hạn thời gian tạm đình chỉ do chờ kết quả giám định.
      • Sửa đổi Khoản 3 Điều 229 BLTTHS để loại trừ nghĩa vụ giao quyết định tạm đình chỉ cho bị can trong trường hợp không rõ bị can đang ở đâu.
    • Giải pháp nâng cao chất lượng thực thi: Nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ ĐTV, KSV; siết chặt công tác quản lý cư trú, nhà nghỉ, khách sạn; tăng cường trách nhiệm của lãnh đạo liên ngành CQĐT - VKS trong kiểm tra định kỳ hồ sơ tạm đình chỉ; xử lý nghiêm minh cán bộ có sai phạm; tăng cường cơ chế phối hợp nghiệp vụ liên ngành ngay từ giai đoạn khám nghiệm hiện trường và thu thập chứng cứ ban đầu.
  3. Đóng góp so với các công trình trước:

    • Khắc phục hạn chế của các công trình trước đây vốn chủ yếu nghiên cứu trên nền tảng BLTTHS năm 2003 hoặc chỉ tập trung vào một căn cứ riêng lẻ.
    • Cập nhật và phân tích sâu sắc căn cứ mới về lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh theo Luật sửa đổi năm 2021 và Thông tư liên tịch số 01/2021.
    • Đánh giá toàn diện đồng thời cả phương diện lý luận, quy phạm lập pháp và thực tiễn thi hành có kiểm chứng bằng số liệu thống kê liên tục trong 5 năm (2019 - 2023).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu thẩm quyền tạm đình chỉ điều tra ở Cơ quan điều tra, chưa mở rộng nghiên cứu đối với các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (như Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Kiểm ngư) theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 BLTTHS năm 2015.
    • Về dữ liệu tình huống thực tiễn, nguồn tài liệu phân tích án thực tế chuyên sâu tập trung chủ yếu tại địa bàn tỉnh Bình Định và thành phố Hà Nội, chưa bao quát đầy đủ đặc thù tội phạm tại các vùng miền khác trên toàn quốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu hoạt động tạm đình chỉ vụ án tại các giai đoạn tố tụng tiếp theo (giai đoạn truy tố của Viện kiểm sát và giai đoạn xét xử sơ thẩm của Tòa án).
    • Nghiên cứu cơ chế kiểm soát tư pháp độc lập và trách nhiệm bồi thường nhà nước trong các trường hợp tạm đình chỉ điều tra kéo dài làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Tư pháp hình sự và Luật Tố tụng hình sự, cung cấp nguồn dữ liệu thực tiễn và hệ thống hóa lý luận hoàn chỉnh về chế định tạm đình chỉ điều tra.
  • Cán bộ thực tiễn tại CQĐT và Viện kiểm sát: Phần phân tích các sai sót nghiệp vụ (như vụ áp dụng sai Điều 229 cho bị can có thai, vụ nhầm lẫn giữa mất năng lực nhận thức và hạn chế nhận thức trong giám định tâm thần) là tài liệu trực quan giúp Điều tra viên và Kiểm sát viên rút kinh nghiệm trong quá trình giải quyết vụ án.
  • Các nhà nghiên cứu lập pháp: Đóng góp cơ sở thực tiễn và lý luận phục vụ công tác rà soát, sửa đổi, bổ sung BLTTHS và ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật liên tịch.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ các vụ án hình sự bị tạm đình chỉ điều tra trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 2019 - 2023 là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê của Cục Thống kê tội phạm - VKSNDTC được tác giả trích dẫn, từ năm 2019 đến năm 2023, CQĐT các cấp thụ lý điều tra 554.019 vụ án và đã tạm đình chỉ điều tra 74.332 vụ án, chiếm tỷ lệ trung bình khoảng 13,42% tổng số vụ án thụ lý.

2. Trong giai đoạn 2019 - 2023, có bao nhiêu quyết định tạm đình chỉ điều tra bị Viện kiểm sát hủy bỏ?
Trong giai đoạn này, Viện kiểm sát đã ra quyết định hủy bỏ đối với 45 quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và 9 quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị can do vi phạm về căn cứ, thẩm quyền hoặc thời hạn luật định.

3. BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) quy định bao nhiêu căn cứ tạm đình chỉ điều tra?
Khoản 1 Điều 229 BLTTHS quy định 5 căn cứ tạm đình chỉ điều tra, bao gồm: (1) Chưa xác định được bị can nhưng hết thời hạn điều tra; (2) Không biết rõ bị can ở đâu nhưng hết thời hạn điều tra (phải truy nã trước); (3) Chờ kết quả giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp nhưng hết thời hạn điều tra; (4) Bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo có kết luận giám định tư pháp; (5) Lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng hết thời hạn điều tra (căn cứ bổ sung năm 2021).

4. Sai sót pháp lý điển hình trong vụ án Phạm Thị Thương (huyện Tuy Phước, Bình Định) được tác giả phân tích là gì?
Bị can Phạm Thị Thương có kết luận giám định pháp y tâm thần xác định chỉ bị "hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi", theo Điều 21 BLHS năm 2015 bị can vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc VKSND huyện Tuy Phước áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và tạm đình chỉ vụ án/bị can là áp dụng sai căn cứ pháp luật.

5. Tác giả đã chỉ ra những bất cập chính nào trong quy định hiện hành tại Điều 229 BLTTHS năm 2015?
Tác giả chỉ ra 4 bất cập lớn: (1) Thiếu hướng dẫn thống nhất về tiêu chí và danh mục "bệnh hiểm nghèo"; (2) Quy định phải giao quyết định tạm đình chỉ cho bị can trong thời hạn 02 ngày là không khả thi khi bị can đang bỏ trốn; (3) Khoản 2 chưa quy định rõ thủ tục tách vụ án trước khi tạm đình chỉ đối với từng bị can; (4) Chưa có quy định khống chế thời hạn tối đa đối với hoạt động giám định tư pháp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hoà đã giải quyết một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định tạm đình chỉ điều tra theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Công trình cung cấp hệ thống dữ liệu thực tế phong phú, số liệu thống kê 5 năm liên tục (2019 - 2023) và phân tích sâu sắc các vướng mắc, sai sót nghiệp vụ trong thực tiễn điều tra, kiểm sát. Hệ thống giải pháp hoàn thiện quy phạm tại Điều 229 BLTTHS và các kiến nghị nâng cao năng lực thực thi có giá trị khoa học và khả năng ứng dụng thực tế cao trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay.