CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE VĂN BẢN CÔNG CHUNG VÔ HIỆU VÀ HẬU QUÁ PHÁP LY CUA VĂN BAN CÔNG CHUNG VÔ HIỆU 1. Lý luận chung về văn bản công chứng 1. Khái niệm văn bản công chứng * Khái niệm “văn ban” Văn bản là phương tiện dé ghi nhận và truyền dat thông tin từ chủ thé nay đến chủ thé khác bằng một ký hiệu hoặc bằng ngôn ngữ nhất định nao đó. Theo Từ điển Hoàng Phê thì “Văn bản là bản viết hoặc bản in, mang nội dung là những gi cần được ghi, chép dé lưu lại làm bằng chứng” [18, tr.
Khái niệm này cho thấy, văn bản là đối tượng được thể hiện dưới dạng vật chất cụ thê như bản viết hoặc bản in. Văn bản có giá trị làm bằng chứng chứng minh cho các thỏa thuận, giao dịch hoặc nhằm thể hiện ý chí của người soạn thảo văn bản. Còn theo Giáo trình kỹ thuật soạn thảo văn bản của Trường đại học Luật - Đại học quốc gia Hà Nội thì “Ở nghĩa hẹp, văn bản được hiểu là những tài liệu, giấy tờ được sử dụng trong hoạt động của các cá nhân, tô chức xã hội, và các cơ quan nhà nước nhằm ghi nhận mục đích, hành vi hoạt động của các chủ thê tham gia các quan hệ xã hội khác nhau” [13, tr. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các hình thức giao dịch thông qua các phương tiện điện tử ngày càng phô biến.
Khái niệm văn bản điện tử ra đời đã bổ sung thêm phạm vi hiểu đối với văn bản. Từ những phân tích nêu trên và dựa trên vi trí, vai trò và chức năng của văn bản, có thé định nghĩa văn bản như sau: Văn bản là phương tiện dé ghi nhận, lưu trữ, truyền đạt thông tin, tư tưởng, tình cảm, ý chí của con người từ chủ thể này đến chủ thể khác bằng một ký hiệu hoặc bằng ngôn ngữ nhất định nào đó. * Khái niệm công chứng Khái niệm công chứng có nhiều định nghĩa khác nhau. Ở góc độ ngôn ngữ, theo Từ điển Hoàng Phê thì công chứng được hiểu là “Sự chứng thực của cơ quan nhà nước có thâm quyền nhằm xác nhận về mặt pháp lí các văn bản và bản sao từ bản sốc” [18, tr.
Còn theo Từ điển Luật học thì “Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của hợp dong và giấy tờ trong các quan hệ dân sự, kinh tế và xã hội khác” [34]. Cả hai khái niệm đều chỉ chung hoạt động chứng nhận tính xác thực của các văn bản và bản sao từ bản gốc hoặc của hợp đồng và giấy tờ trong các quan hệ dân sự, kinh tế và xã hội khác. Song, khái niệm công chứng ở góc độ ngôn ngữ có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả việc chứng nhận tính xác thực của các văn bản và bản sao từ bản gốc trong các quan hệ khác ngoài quan hệ dân sự, kinh tế và xã hội. Ở góc độ pháp lý, theo định nghĩa tại Từ điển online Legal Dictionary thi “CCV là một người mang công quyền, mà quyền hạn bao gồm quản lý việc tuyên thệ và xác nhận chữ kỳ, cả hai đều là những cách quan trọng và hiệu quả dé giảm thiểu gian lận trong các văn bản pháp luật” [37].
Từ điển Luật học Mỹ, cũng định nghĩa công chứng (Notarial) là hoạt động cua CCV. CCV, theo tiếng Latinh là “Notarius”. “Notarius” trong luật Anh cổ là một người sao chép hay trích lục các loại văn bản, giấy tờ khác, người làm chứng [1, tr. Còn theo quy định tại Khoản 1, Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 của Việt Nam thì công chứng được hiểu là “Là việc CCV của một tô chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, GDDS khác bằng văn bản (gọi chung là HD, GD), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tô chức tự nguyện yêu cầu công chứng” [21].
Như vậy, có thé thấy trên thế giới, khái niệm công chứng được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Tại mỗi quốc gia, hệ thống pháp luật có quy định khác nhau về phạm vi hoạt động của công chứng. Tuy nhiên, có thé nhận thay hai đặc điểm cơ bản của công chứng, đó là: “làm chứng” và “ghi chép lại bang văn bản”. Từ những khái niệm và phân tích nêu trên có thê rút ra khái niệm công chứng như sau: Công chứng là hành vi cua CCV nhằm lập, chứng nhận tính xác thực cua các HD, GD với mục đích đảm bao an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật.
* Khái niệm văn bản công chứng Hiện nay, trong các GDDS, VBCC do tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chứng nhận theo quy định của pháp luật là một trong những loại giấy tờ quan trọng, được sử dụng phô biến. Theo quy định tại khoản 4, Điều 2 Luật công chứng năm 2014 thì “VBCC là HD, GD, bản dịch đã được CCV chứng nhận theo quy định của Luật này” [21]. Trong pháp luật dân sự Pháp, VBCC được gọi là “acte notarié”. Khái niệm “acte notarié” được quy định tại Điều 1317 BLDS Pháp như sau: “Acte notarié est un acte recu par un officier public, compétent pour recevoir un tel acte dans le lieu ot I'acte est regu et dans les formes requises” (VBCC là văn ban được lập bởi một nhân viên công quyền có thâm quyền lập văn bản đó tại nơi văn bản được lập và theo những hình thức cần thiết) [17, tr.
Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh ngày 02/11/1945 của Cộng hòa Pháp quy định “notaire est un officier public nommé pour rédiger les actes, contrats que les parties doivent ou veulent faire rédiger par lui, donnant a ces actes la valeur d'authenticité des actes publics” (CCV là nhân viên công quyền được bổ nhiệm để lập văn bản, hợp đồng mà đương sự phải hoặc muốn được công chứng, làm cho các văn bản đó có giá trị xác thực như văn bản của cơ quan công quyên) [24. Khái niệm “acte notarié” trong BLDS Pháp không được quy định cụ thé như khái niệm “văn bản công chứng” trong Luật Công chứng năm 2014 của Việt Nam, nhưng nội hàm của hai khái niệm này vẫn có nhiều điểm tương đồng. Cả hai khái niệm đều chỉ chung văn bản được lập bởi một nhân viên công quyền có thâm quyền. Đồng thời, VBCC phải được lập theo những hình thức cần thiết, đảm bảo tính xác thực của nội dung và chữ ký của người yêu cầu công chứng.
Từ khái niệm văn bản, công chứng và những phân tích nêu trên, có thể rút ra khái niệm về VBCC như sau: “VBCC là HD, GD và bản dich được CCV xác thực tính xác thực của nội dung va chữ ký của người yêu cầu công chứng theo trình tự, thủ tục luật định ”. Đặc điểm của văn bản công chứng VBCC là một loại văn bản có giá trị pháp lý đặc biệt, được CCV chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của nội dung và chữ ký của người yêu cầu công chứng và được sử dụng như một chứng cứ không cần chứng minh trong pháp luật TTDS (khoản 9 Điều 94) [23]. VBCC có các đặc điểm sau: Thứ nhất, về tính chính xác về thời điểm công chứng, chủ thé yêu cầu công chứng, địa điểm công chứng, nội dung và hình thức của VBCC. Thời điểm công chứng là thời điểm giao kết HD, GD và cũng là thời điểm HD, GD được công chứng hoặc bản dịch có hiệu lực.
Thời điểm công chứng phải được ghi cả ngày, tháng, năm. Trong một số trường hợp, thời điểm công chứng có thể bao gồm cả giờ và phút nếu người yêu cầu công chứng đề nghị, khi công chứng di chúc hoặc khi CCV thấy cần thiết. Chủ thể yêu cầu công chứng có thể là tổ chức hoặc cá nhân. Đối với cá nhân, thông tin định danh của cá nhân đó được thê hiện rõ trong VBCC, phù hợp với các giấy tờ tùy thân do cá nhân tự cung cấp.
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong khi tham gia giao kết HD, GD công chứng cũng được thé hiện rõ trong VBCC. 10 Địa điểm công chứng được quy định bắt buộc tại trụ sở của tô chức hành nghề công chứng, chỉ trừ một số trường hợp đặc biệt luật định. Địa điểm công chứng được xác định chính xác, rõ ràng và được quản lý bởi cơ quan nhà nước có thâm quyên. Nội dung của VBCC phải được CCV kiểm tra kỹ lưỡng để đảm bảo tính chính xác đối với nội dung giao dịch, tính tuân thủ các quy định pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
Hình thức VBCC là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định giá trị pháp lý của VBCC. Loại văn bản thể hiện các thỏa thuận, GDDS cần phải được thê hiện một cách phù hợp nhất với quy định của pháp luật về hình thức văn bản. Như vậy có thé thấy, tính chính xác là một trong những đặc tính quan trọng của VBCC. Tính chính xác của VBCC đảm bảo cho các bên tham gia giao dịch được thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận, đồng thời góp phan bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trước pháp luật.
Thứ hai, về tính tuân thủ quy định pháp luật và quy trình công chứng. VBCC có giá trị pháp lý cao bởi nó được CCV chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của nội dung và chữ ký của người yêu cầu công chứng. Tính tuân thủ của VBCC là một trong những đặc tính quan trọng của VBCC, thê hiện ở hai khía cạnh: Mot là, tuần thủ các quy định của pháp luật. Nội dung của VBCC phải phù hợp với các quy định của pháp luật, không trái với các điều cắm của luật, không trái đạo đức xã hội.
CCV có trách nhiệm kiểm tra, xác minh tính tuân thủ của nội dung VBCC trước khi thực hiện công chứng. Hai là, tuân thủ quy trình công chứng. Đây là quy trình mà CCV bắt buộc phải thực hiện theo quy định của pháp luật nham đảm bảo tính chính xác, khách quan và toàn diện của VBCC. Việc tuân thủ quy trình công chứng đảm bảo tính chính xác, khách quan và toàn diện của VBCC.
Tính tuân thu của VBCC góp phan bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch, đảm bảo an toàn pháp lý cho các GDDS, kinh tế. 11 Thứ ba, tính khách quan.