Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về đăng ký kết hôn Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về đăng ký kết hôn tại UBND_ phường Thanh Vinh, thị xã Phú Thọ Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đăng ký kết hôn tại UBND phường Thanh Vĩnh. (CO SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LY Vi ĐĂNG KY KET HON 1. Khái niệm về kết hôn và đăng ký kết hôn ‘Theo khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Kết hôn là việc nam. và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
Nhu vậy, kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Khi kết hôn, các bên nam nữ phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn được. Luật hôn nhân và gia đình quy định và phải đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn có thấm quyền thì việc kết hôn đó mới được công nhận là hợp pháp và giữa các bên nam nữ mới phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật. Việc xác định các điều kiện về kết hôn có ý nghĩa rất quan trọng.
Trong quy định của pháp luật Việt Nam thì các điều kiện về kết hôn là những. quy tắc mang tính mệnh lệnh, bắt buộc phải tuân theo những điều kiện đó. Việc không tuần thủ theo các quy định về điều kiện kết hôn, thì hôn nhân đó bị coi là trái pháp luật và có thể bị hủy, quan hệ hôn nhân sẽ không được thừa nhận. Vi thể, sẽ không làm phát sinh các hệ quả pháp lý của quan hệ hôn nhân.2 Khái niệm đăng ký kết hôn ‘Theo từ điển Tiếng Việt ghi nhận: Đăng ky là đứng ra khai báo với cơ quan.
quản lý để chính thức công nhận hay cho hưởng quyền và nghĩa vụ nào đó. Đăng ký kết hôn là thủ tục do pháp luật qui định nhằm công nhận việc ác lập quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam, nữ khi kết hôn. Việc kết hôn phải được đăng ký theo nghỉ thức Nhà nước tại cơ quan Nha nước có thẩm quyền theo qui định của luật hôn nhân và gia đình. Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá tị pháp lý.
Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại cũng phải đăng ký kết hôn. Theo luật hôn nhân va gia đình, việc kết hôn do uy ban nhân dân xã, phường, thị trin noi thường trú của một trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào số kết hôn. Việc kết hôn giữa công dân Việt nam với nhau ở ngoài nước do cơ quan đại điện ngoại giao, cơ quan Lãnh sự của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam công nhận. 'Việc đăng kí kết hôn một mặt bảo đảm việc tuân thi pháp luật trong vie kết hôn; mặt khác, giấy chứng nhận kết hôn hôn do co quan nhà nước có thầm.
quyền cấp là chứng cứ xác nhận quan hệ vợ, chồng hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Cấp giấy đăng ký kết hôn về cơ bản là hoạt động của cơ quan hành chính. nhà nước, là một thủ tục quan trọng nhằm công nhận một mối quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ theo quy định pháp luật Việt Nam. Theo quy định pháp uật về hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) nói chung thì chưa có một khái niệm pháp lý nào quy định về đăng ký kết hôn trong thực tế Cé thể hiểu một cách ngắn gọn: Đăng ký kết hôn là ghỉ vào số đăng kj kết hôn đễ chính thức công nhận nam nữ là vợ chồng trước pháp luật.
Ding ký kết hôn là hoạt động hành chính nhà nước, là thủ tục pháp lý làm cơ sở dé nhà nước công nhận quan ôn nhân của nam mi 'Để được đăng kí kết hôn, nam nữ phải làm tờ khai đăng kí kết hôn tại cơ quan đăng kí kết hôn. Trên cơ sở đó, cơ quan đăng kí kết hôn tiến hành xác. minh, nếu các bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp. luật thì tổ chức đăng kí kết hôn cho nam nữ, ghỉ việc kết hôn vào số đăng kí kết hôn và trao Giấy chứng nhận kết hôn cho nam nữ.
Kể từ ngày đăng kí kết ‘hon, các bên nam nữ phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật. Như vậy, có thể hiểu rằng muốn phát sinh quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn theo. quy định của pháp luật. Đồng thời, việc đăng ký kế hôn phải tiến hành theo.
trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về HN&GD đã được quy định. “Trên cơ sở khái niệm nêu trên có thể đưa ra một số đặc điểm về đăng ký. kết hôn như sau: Mot la, ĐKKH là thủ tục pháp lí cần thiết để Nhà nước công nhận quan hệ hôn nhân của nam và nữ. Việc ghi nhận vào số ĐKKH được hiểu là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kết hôn được quy định tại Khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trước khi xác lập một quan hệ hôn nhân, các điều kiện về nội dung của việc kết hôn phải được cơ quan nhà nước kiểm tra một cách chặt chẽ thông qua các thủ tục về đăng ký kết hôn. Việc ban hành quy định về DKKH khẳng định vai trò quan trọng của hoat động quản lý nhà nước về hộ. tích và dân cư ở nước ta hiện nay. Hai là, mục tiêu của DKKH nói chung là tăng cường hoạt động quan lý nhà nước về dân cư.
Đảm bảo quyển và lợi ích của quan hệ hôn nhân được pháp luật thừa nhận. Bởi tính chất quan trọng của việc ĐKKH nên công tác trong thời kỳ mới của Ba là, song song với hoạt động DKKH thì tăng cường hoạt động về quản lý về đăng ký kết hôn, đảm bảo hoạt động kết hôn được thực hiện theo trình tự, thủ tục đúng quy định và từ đó làm nền tảng hoàn thiện hệ thống pháp luật về HN&GD ở nước ta hiện nay. Thông qua hành vi ghỉ vào số DKKH sẽ tạo. nên mối quan hệ pháp lý ràng buộc giữ các bên trong quá trình đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật hiện hành.
Với trình tự thủ tục chặt chẽ, sự xác mình từ co quan ĐKKH tại địa phương là nền ting cơ bản để hình thành mối quan hệ hôn nhân giữa các chủ thể. Ý nghĩa của đăng ký kết hôn 1. Ý nghĩa về mặt pháp lý. Đăng ký kết hôn là sự kiện pháp lý xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam, nữ do các cơ quan nhả nước có thẳm quyển công nhận, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ vợ chồng giữa họ với nhau.
Từ việc quy định các điều kiện kết hôn, thủ tục kết hôn. cũng như những chính sách giải quyết các vi phạm điều kiện kết hôn, đó là cách để nhà nước quản lý việc kết hôn. của các cá nhân trong xã hội góp phần đảm bảo trật tự gia đình, xã hội, phù hop với thuần phong mỹ tục, bảo vệ được pháp chế xã hội chú nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân, là tiền đề để xây dựng gia đình thực sự đầm. ấm, bền vững và hạnh phúc.
‘Ding ký kết hôn là cơ sở để luật pháp bảo vệ quyền lợi và sự rang buộc. về nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ hôn nhân. Giấy đăng ký kết hôn la một loại giấy tờ được cơ quan nhà nước có thẳm quyền cấp để xác nhận về tình trạng hôn nhân của một cá nhân. Cac quy định kết hôn còn là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của vợ chẳng như: Vấn. đề cấp dưỡng, vấn đề nuôi con, vấn đề ly hôn hay vấn để giám hộ. Do đó, các quy định này có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động xét xử của TAND. đồng thời là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể giúp cho việc giải quyết các tranh chấp về HN&GD được khách quan, thống nhất, đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho các bên.
Ngoài ra, các quy định kết hôn còn là cơ sở pháp lý để các bên thực hiện. quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau, đối với tài sản, đối với con cái và các mối quan hệ khác trong gia đình cũng như ngoài xã hội mà Nhà nước đã thừa nhận, trao cho và đảm bảo thực hiện 1. Ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội 'Việt Nam đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội theo xu hướng nhập toàn cầu. Cùng với sự phát triển của đất nước thì chất lượng cuộc sống của nhiều ting lớp nhân dân đã được cải thiện một cách đáng, kể.
Theo đó, thực trạng vé thé chat cũng như tâm sinh lý của lứa tuổi thanh niên hiện nay phát triển rất sớm và có nhiều thay đổi dẫn đến nạn tảo hôn, tình trạng chung sống như vợ chồng, đặc biệt là vấn đề hôn nhân giữa những, người cùng giới tính xảy ra khá phỏ biến, gây ảnh hưởng đến nhiều mặt của. đời sống xã hội. Bên cạnh đó, sự hội nhập quốc tế làm cho văn hóa Việt Nam. có nhiễu chuyển biến cả theo chiều hướng tích cực lẫn chiều hướng tiêu cực, ảnh hưởng đến lối sống, cách nghĩ và hành động của không nhỏ những cá nhân trong xã hội.
Điển hình như việc suy nghĩ thoáng hon trong lồi sống lam xuất hiện những suy thoái về dao đức, văn hóa khiến cho những mối quan hệ: ngoài giá thú, quan hệ ngoại tình ngày một gia tăng. Vì vậy, việc quy định về. điều kiện kết hôn cũng như những đường lối xử lý các hậu quả pháp lý phát sinh từ các quan hệ nay là hoàn toàn cẩn thiết và phù hợp với thực Hội nhập quốc tế có é làm gia tăng nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa truyền thống bị xói mòn trước sự “xâm lăng” của văn hóa nước ngoài nhất là văn hóa phương Tây. Bằng nhiều con đường khác nhau như tham.
quan, du lịch, các phương tiện thông tin đại chúng. thì văn hóa phương Tây và văn hóa các nước phát triển đã du nhập vào nước ta, đồng thời có ảnh. hưởng rất lớn đến nhân dân ta gây ra các hệ quả như: Chung sống như vợ. chồng, kết hôn đồng giới hay hôn nhân vi phạm chế độ một vợ một chồng.