Chương 1: MỘT SO VAN DE LY LUẬN CHUNG VE TAO HON VA KET HON CAN HUYET THONG 1. Khái niệm tảo hôn và kết hôn cận huyết thống 1. Khái niệm tảo hôn Hôn nhân là cơ sở, là nền tảng của gia đình - tế bào xã hội; phản ánh tính chất, kết cầu của xã hội. Xuất phát từ vi trí, vai trò quan trong của hôn nhân, của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội; trong xã hội có giai cấp, Nhà nước luôn quy định băng pháp luật điều chỉnh các quan hệ HN&GD phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và quan điểm của giai cấp thống trị xã hội.
Pháp luật quy định độ tuổi kết hôn dựa trên cơ sở nghiên cứu các điều kiện kinh tế - xã hội, nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của nam, nữ thanh niên và điều quan trọng là để họ có thể đảm đương trách nhiệm làm vo chong, làm cha mẹ trước khi bước vào cuộc sống gia đình. Khi đến độ tuổi trưởng thành, thé chat và trí tuệ phát triển hoàn thiện, các cá nhân mới có đủ khả năng tự xây đắp và chăm lo cho gia đình của bản thân, sinh ra và chăm sóc những thế hệ sau khoẻ mạnh, không trở thành gánh nặng cho xã hội. Trải qua sự biến đôi vận động của lịch sử và sự phát triển của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, điều kiện về độ tuổi kết hôn cũng có nhiều sự thay đổi. Tại thời Lê Sơ, một bản văn ghi chép trong sách “Thiên nam dự hạ tập” có nhan đề “Hồng Đức hôn giá lễ nghi” có ghi lại quy định về lễ Nghị hôn (tức lễ Cham mặt) như sau: “Con trai tir 18 tuổi, con gái từ l6 tuổi trở lên mới có thé được thành hôn.
So sánh với pháp luật thời nhà Đường - Trung Quốc thời bấy giờ, độ tuổi kết hôn của nam nữ có thê căn cứ theo sách Lễ Ký, trong đó, đối với nam, Lễ Ký cho rằng “Người ta đến 20 tuổi còn yếu nhược, đến tuổi ay thì làm lễ đội mũ; đến 30 tuổi thì tráng kiện, có gia thất” như vậy, tudi lập * Vũ Văn Mẫu, Cổ Luật Việt Nam và Tư pháp sử diễn giảng, quyền I — tập II (Chương trình cử nhân Luật, năm thứ nhât), Saigon — 1975, tr.39 gia đình đối với nam có thể trong khoảng 20 - 30 tuổi. Đối với nữ, sách viết “con gái đến 15 tuổi làm lễ cài tram và 20 tuổi thi ga chong”. So sánh với pháp luật Trung Quốc, mặc dù đều chịu ảnh hưởng của Không giáo, pháp luật Việt Nam đã có sự dung hòa, kết hợp giữa lễ giáo Trung Quốc và nét văn hóa xã hội của nước ta. Trong thời Nguyễn, Bộ luật Gia Long có nhiều quy định gần như dẫn lại Bộ luật của nhà Thanh - Trung Quốc.
Tương tự như luật nhà Thanh, Bộ luật Gia Long cũng không quy định cụ thé tuổi kết hôn, chỉ có Khoản 2 của Điều 94 quy định: “việc hôn nhân của nam nữ có tuổi đã định”. Nghiên cứu điều Luật này, luật gia Philastre` đã giải thích một cách sai lầm rang: Theo Kinh LỄ, tuổi cưới xin của con trai là 16 tuổi, con gái là 14 tuổi và cho rằng tuổi kết hôn trong thời Nguyễn cũng được áp dụng như vậy, điều này đã có ảnh hưởng đến những quy định pháp luật về độ tuổi kết hôn của Việt Nam trong thời gian về sau”. Pháp luật thời kỳ phong kiến đã có những quy định về độ tuổi kết hôn khá cụ thé, tuy nhiên, độ tuổi kết hôn thực tế của Việt Nam trong thời kỳ này thường rất thấp. Điều này được thé hiện phan nao qua tục ngữ “ni thdp tam, nam thập lục”, một cách xác định tuổi trưởng thành - kết hôn cho nam và nữ thời kỳ bấy giờ: 13 tuổi đối với con gái và 16 tuôi đối với con trai”.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, Việt Nam bị chia cắt thành ba miền Bắc - Trung - Nam, đã có ba bộ Dân luật riêng được áp dụng dé điều chỉnh các quan hệ Dân sự, trong đó có HN&GD cho từng miền: Ở miền Bắc, áp dụng các quy định trong Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931; ở miền Trung, áp dụng các quy định trong Hộ Luật Trung kỳ năm 1936, miền Nam áp dụng các quy định trong Bộ Dân luật Giản yếu năm 1883. Trong đó, cả hai bộ Dân luật Bắc kỳ và Trung > Paul-Louis-Félix Philastre (1837 - 1902): Hai quân đại úy, kiêm chức thống soái việc hình luật ở Nam Kỳ trong thời kỳ Pháp thuộc; là người có công nghiên cứu và dịch nhiều sách, tài liệu của Việt Nam và Trung Quốc sang tiếng Pháp, trong đó có sách Kinh Dịch của Trung Quốc và Bộ luật Gia Long của Việt Nam; ° Vũ Văn Mẫu, tldd chú thích 4, tr.41 ” Vũ Văn Mẫu, tldd chú thích 4, tr. kỳ đều kế thừa Bộ luật Hồng Đức với quy định tuổi kết hôn của nam là đầy 18 tuổi và nữ là day 15 tuổi; riêng Bộ Dân luật Giản yếu, xuất phát từ giải thích của luật gia Philastre đối với Bộ luật Gia Long, bộ luật này đã kế thừa quy định về tuổi kết hôn của nam là đầy 16 tuổi, của nữ là đầy 14 tuổi. Có thé thấy, pháp luật thời kỳ này mang tính chất chuyên tiếp về nội dung các quy định pháp luật thời kỳ phong kiến, từng bước du nhập các tư tưởng, kỹ thuật lập pháp của phương tây, mà trực tiếp là ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804.
Từ năm 1954 - 1975, Việt Nam tôn tại song song hai thé chế chính trị khác nhau ở miền Bắc và miền Nam. Ở miền Nam Việt Nam, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ban hành Luật Gia đình số 1/59 ngày 02/01/1959, Điều thứ 6 của Luật này quy định: “Con trai chưa đủ 18 tuổi, con gái chưa đủ 15 tuổi, không được kết hôn.” Luật cũng quy định trường hợp cho miễn tuổi khi có lý do đặc biệt quan trọng được Tổng thống đặc cách (Điều 11 Luật Gia đình số 1/59). Điều này tương tự với quy định về độ tuổi kết hôn theo Bộ luật Hồng Đức, cho thấy các nhà làm luật không chỉ áp dụng những tư tưởng pháp luật phương tây mà còn tiếp tục kế thừa những quy định đúng dan, tiên tiến của thời kỳ phong kiến. Ở miền Bắc, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Luật HN&GD năm 1959 quy định độ tuôi kết hôn tại Điều 6 như sau: “Con gái từ 18 tuổi trở lên, con trai từ 20 tuổi trở lên mới được kết hôn”.
Nha làm luật xác định 0: ở độ tuôi này nam và nữ mới phát triển đầy đủ về thé chất và tâm sinh ly, có đủ khả năng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi kết hôn. Bên cạnh đó, nhà làm luật cũng dự liệu trường hợp xác lập quan hệ hôn nhân trước độ tudi theo luật định, Điều 3 của Luật quy định: “Cam tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, can trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ. Cẩm lấy vợ lẽ.” Sau khi hai miền Nam - Bắc thống nhất, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiếp tục áp dụng Luật HN&GD năm 1959. Trải qua nhiều lần sửa đổi, 10 bồ sung dé phù hop với tình hình phát triển của đất nước, sự hội nhập với quốc tế, Luật HN&GD năm 2014 về cơ bản vẫn tiếp tục giữ các quy định về độ tuôi kết hôn, chỉ có sự thay đôi về cách diễn đạt “tr.
tudi trở lên” thành “từ đủ. tuổi trở lên” dé tránh gây sự nhằm lẫn trong cách xác định tuổi kết hôn: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.” (Điểm a - khoản 1 - Điều 8); đồng thời quy định rõ việc xác lập quan hệ hôn nhân trước độ tuôi theo luật định là hành vi bị cấm: “Cam các hành vi sau đây: Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn. Giải thích rõ hơn về khái niệm “tảo hôn”, khoản 8 - Điều 3 Luật HN&GD 2014 quy định: “Tao hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật”. Theo quy định nêu trên, ta có thé hiểu, tảo hôn là việc lay vợ, lay chồng thuộc một trong ba trường hop sau đây: (1) Cả nam và nữ đều chưa đủ tudi kết hôn theo quy định của pháp luật; (2) Nam đã đủ tuổi nhưng nữ chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật; (3) Nữ đã đủ tuổi nhưng nam chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật.
Thuật ngữ “tảo hôn” được sử dụng trong cả khoa học pháp lý (học thuật) và trong thực tiễn đời sống xã hội. Thông thường, “tảo hôn” được hiểu là việc nam, nữ lấy nhau thành vợ chồng nhưng một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định (dù đăng ký kết hôn hay không). Khái niệm kết hôn cận huyết thống Bên cạnh các điều kiện kết hôn, để bảo vệ quyền lợi của mỗi cá nhân, gia đình, xã hội và theo quan niệm, tín ngưỡng thực tế của mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ, pháp luật còn dự liệu những quy định trong việc cấm kết hôn giữa những người có quan hệ họ hàng, thân thích, chỉ có sự khác biệt trong quy định về mức độ, phạm vi huyết thống giữa các thế hệ kết hôn. Tại thời Lê Sơ, Điều 319 Luật Hồng Đức quy định: “Phàm lấy có, di, chi, em, kế nữ (tức con riêng của vợ), cùng thân thích, tức gid thú (hôn nhân) phi lãi loại, đều luận theo tội gian thông”: trong đó, giá thú phi loại là giá thú kết hợp giữa hai người không được xếp vào cùng một loại (vì lý do có liên hệ thân thích).
Trong Hồng Đức thiện chính thư, đoạn 280 cũng ghi lại một bản án kết luận như sau: “Trưởng du phải có luân thường, bậc tiễn vương đã nếu ra pháp điển, tôn ty phải có trật tự, trong sách lễ đã có minh lệnh. Đó là phép nước rõ ràng để lưu truyền hậu thế. các bà con tôn ty không thể lấy nhau, nên nghị tội tam chục trượng. ` Trong Thiên Nam dự hạ tập có ghi một lệnh năm Hong Đức thứ 5 (năm 1974): “Pham cùng họ mà kết hôn, bị tội 60 trượng, vợ chồng phải ly đị”Ẻ.
Có thé thấy, pháp luật nhà Lê đã có những quy định nghiêm khắc về cam kết hôn với phạm vi rất rộng, bao trùm lên tất cả những người cùng họ, có quan hệ thân thích, ké cả là hàng trên, hàng dưới hay ngang hàng.