Chương 1 MOT SO VAN DE VE KET HON GIỮA PHU NU VIỆT NAM VỚI NGUOI NUOC NGOAI O VIET NAM 1.1 Khai niém két hon 1. Định nghĩa kết hôn Từ xa xưa tới nay, hôn nhân là một trong những yếu tố không thé thiếu trong một xã hội, nó gắn kết giữa hai cá nhân khác giới với nhau cùng xây dựng nên một cuộc song hạnh phúc 4m no. Có thé hiểu, hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội hoặc tôn giáo một cách ngẫu nhiên và tự nhiên. Hôn nhân là kết quả của một tình yêu nam nữ nhưng đôi khi cũng là kết quả của một cuộc hôn ước giữa hai gia đình hoặc hai dòng tộc.
Dù là kết quả của những nguyên nhân gi đi nữa, hôn nhân van là một mỗi quan hệ cơ bản trong một xã hội. Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người đàn bà được gọi là vợ. Ở một số nước trên thế ĐIỚI, nhất là các nước Hồi giáo, họ vẫn thừa nhận hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ nhưng đồng thời cũng cho phép một người đàn ông thực hiện kết hôn với nhiều người đàn bà cùng một lúc (chế độ hôn nhân đa thê). Chế độ hôn nhân đa thê cũng có thời kỳ được thừa nhận ở phương Đông như Việt Nam, Trung Quốc.
nhưng hiện nay đã bị bãi bỏ. Ở một số bộ tộc hình thành từ thời kỳ sơ khai của nền văn minh, chế độ đa phu cũng được ton tại, theo đó một người đàn bà có thê chung sống với nhiều người đàn ông cùng một lúc. Trong xu hướng hiện đại ngày nay, hôn nhân giữa những người cùng giới tính cũng được một số nước trên thế giới thừa nhận, họ thấy rằng sự khác biệt về giới tính không phải là điều kiện bắt buộc của hôn nhân. Các nước Bắc Âu là nơi phát triển mạnh nhất của xu hướng này.
Riêng Hà Lan là nước đầu tiên đã thông qua đạo luật cho phép kết hôn giữa những người có cùng giới tính. Đối với xã hội phương Đông, nhất là đối với xã hội Việt Nam, hôn nhân giữa những người cùng giới tính không năm trong các trường hop cam kết hôn nhưng cũng không được pháp luật thừa nhận. Mặc dù trên thế giới tồn tại nhiều hình thức hôn nhân khác nhau nhưng tựu trung lại, khi nhắc đến hôn nhân, có thé thấy, về mặt xã hội, sự kiện đánh dấu chính thức cho một cuộc hôn nhân đó là hình thức tổ chức lễ cưới. Về mặt pháp luật, hôn nhân được thừa nhận giữa hai cá nhân với nhau thông qua việc đăng ký kết hôn.
Như vậy, kết hôn là một sự kiện không thé thiếu trong việc xác lập quan hệ hôn nhân. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, trải qua các đạo luật về hôn nhân và gia đình như Luật HN&GD năm 1959 ; Luật HN&GD năm 1986 ; Luật HN&GD năm 2000 và đến nay là Luật HN&GD năm 2014 được ban hành có giải thích về kết hôn, theo đó, tại khoản 5 Điều 3 Luật HN&GD năm 2014 quy định: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về diéu kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Với quy định của pháp luật nêu trên, có thể thấy rằng, kết hôn theo Luật HN&GD Việt Nam có những đặc điểm như sau : Một là, kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau. Đây là một trong những điều kiện để các bên có thể thực hiện kết hôn theo quy định, giới tính được xác lập quan hệ kết hôn phải là một nam và một nữ có mong muốn được xác lập quan hệ vợ chồng với nhau.
Mong muốn được xác lập quan hệ vợ chồng với nhau thé hiện ở các thủ tục như khai Tờ khai đăng ký kết hôn, cùng nhau tới cơ quan đăng ký kết hôn có thẩm quyền và cùng nhau mong muốn được xác lập quan hệ vợ chồng, xây dựng gia đình hạnh phúc. Ngay trong chính nội dung quy định của pháp luật, Luật HN&GD cũng không thừa nhận kết hôn giữa những người cùng giới tính. Hai là, việc kết hôn phải tuân thủ quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Đây là điều kiện để được pháp luật thừa nhận và bảo vệ quyền kết hôn của công dân.
Khi hai bên nam, nữ mong muốn được xác lập quan hệ vợ chồng với nhau và đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện về kết hôn theo quy định của Luật HN&GD thi các bên có thể đến cơ quan có thẩm quyên thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy, kết hôn là một sự kiện pháp lý nhằm phát sinh quan hệ giữa vợ va chong, là thời điểm xác định quyền và nghĩa vụ giữa vo và chồng với nhau và là cơ sở đảm bảo quyên, lợi ích cho vợ, chồng trong mối quan hệ hôn nhân. Mặc dù kết hôn là quyền nhân thân gắn với mỗi con người và được pháp luật thừa nhận nhưng dé được pháp luật bảo vệ và đảm bảo thực hiện thì các cá nhân phải đáp ứng các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Ý nghĩa của việc kết hôn Dưới góc độ pháp lý, việc kết hôn của nam nữ là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, theo đó, quyền lợi về nhân thân của vợ chồng mang yếu tố tình cảm, là lợi ích tinh thần giữa vợ và chồng, gắn liền với bản thân vợ, chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân.
Quyền lợi về tài sản sẽ hình thành khối tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng khi phát sinh quan hệ hôn nhân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Dưới góc độ xã hội, kết hôn là kết quả của một tình yêu nam nữ được xây dựng trên cơ sở sự yêu thương, quan tâm và chăm sóc lẫn nhau, cùng chia sẻ buôn vui với nhau, là sự ra đời của những đứa trẻ, là nền tảng của gia đình, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay, việc kết hôn đã trở nên phức tạp hơn khi có nhiều cuộc hôn nhân diễn ra chớp nhoáng, họ bằng mọi giá kết hôn với nhau nhưng cũng nhanh chóng tan giã vì những nguyên nhân không đáng có, hoặc cảm thấy không còn hòa hợp và không thể sống chung với nhau được nữa. Bên cạnh đó, có một vài quốc gia trên thế giới, họ công nhận việc kết hôn giữa những người cùng giới tính.
Những điều này đã làm mat đi ý nghĩa thiêng liêng của việc kết hôn bởi kết hôn là kết quả của tình yêu nam nữ, là kết quả của ý chí và sự tự nguyện đến với nhau trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật, là sự ràng buộc lẫn nhau bởi trách nhiệm, bởi nghĩa vụ và sự yêu thương lẫn nhau. Chính những lối suy nghĩ hiện đại ngày nay đã khiến cho việc kêt hôn diễn ra dê dàng và cũng từ bỏ dê dàng. 10 Với những ý nghĩa về mặt pháp lý cũng như xã hội của việc kết hôn, kết hôn có yếu tô nước ngoài cũng mang những ý nghĩa to lớn như thể hiện được quyền tự do mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân, góp phần vào sự giao lưu phát triển các nền văn hóa giữa Việt Nam và các nước trên thé giới. Quy định của pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài Nếu như giải thích: kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật HN&GD năm 2014 về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn thì kết hôn có yếu tố nước ngoài có thé được hiểu như sau : Kết hôn có yếu to nước ngoài là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Luật HN&GD năm 2014 chưa đưa ra một khái niệm cu thé về kết hôn có yếu tố nước ngoài mà chỉ đưa ra cách giải thích về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tô nước ngoài. Cụ thé tại khoản 25 Điều 3 Luật HN&GD năm 2014 quy định: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tô nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhán và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ dé xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Với quy định của pháp luật nêu trên, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tổ nước ngoài bao gồm các quan hệ như sau : quan hệ kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng có yêu tố nước ngoài ; quan hệ giữa cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài ; quan hệ giám hộ có yếu tô nước ngoài ; quan hệ cấp dưỡng có yếu tô nước ngoài ; quan hệ ly hôn có yêu tố nước ngoài. Như vậy, quan hệ hôn nhân và gia đình có phạm vi rất rộng và nhiều nội dung.
Trong phạm vi của luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về van đề kết hôn có yếu tố nước ngoài mà cụ thé là van đề kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài. Theo đó, các trường hợp két hôn có yêu tô nước ngoài bao gôm các trường hợp như sau : II Tht nhất, trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc g1ữa người nước ngoài với nhau cư trú tại Việt Nam. Trong quan hệ kết hôn này, một bên là công dân Việt Nam và một bên là người nước ngoài. Công dân Việt Nam và người nước ngoài khi tham gia quan hệ kết hôn có yêu tố nước ngoài phải tuân thủ theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn.
Bên cạnh đó, nếu việc kết hôn được tiễn hàng tại cơ quan nhà nước có thầm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn. Tht hai, trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau nhưng sự kiện xác lập quan hệ kết hôn được thực hiện theo pháp luật nước ngoài hoặc phát sinh ở nước ngoài.