CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE QUAN LÝ CU TRU CUA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm về người nước ngoài va cư trú của người nước ngoài 1. Khai niệm Người nước ngoài Hiện nay, thuật ngữ “người nước ngoài” được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau trong khoa học pháp lý ở các quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam. Dưới góc độ luật quốc tế, thuật ngữ “người nước ngoài” được quy định tại Tuyên bố về quyền của những người không phải là công dân ở nơi mà họ đang sinh sống, tuyên bố được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua theo Nghị quyết số 40/144 ngày 13/12/1985.
Theo điều 1 của văn kiện nay, thuật ngữ “người nước ngoài” được áp dụng cho bất cứ người nào không phải là công dân ở quốc gia mà họ đang sinh sống [17]. Cách hiểu này cũng được một số quốc gia trên thế giới tiếp nhận và quy định trong pháp luật quốc gia. Luật người nước ngoài và bảo vệ quốc tế năm 2013 của Cộng hoà Thé Nhĩ Kỳ đưa ra định nghĩa khá chung chung về người nước ngoai tại khoản z, điều 3 như sau: “Người nước ngoài là một người không có ràng buộc về quyền công dân với Nhà nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ” [45]. Bên cạnh đó, pháp luật của Cộng hoà Liên bang Đức quy định cụ thể hơn về định nghĩa về người nước ngoài, tại Luật cư trú năm 2008, sửa đôi năm 2020 và Luật cơ bản năm 1949, sửa đổi năm 2022.
Điều 1, phan 2 của Luật cư trú 2008 của Cộng hoà Liên bang Đức quy định: “Người nước ngoài là bất kỳ ai không phải là người Duc theo quy định tại khoản 1, điều 116 của Luật cơ bản năm 1949 của Cộng hoà Liên bang Đức [43]. Theo khoản 1, điều 116 của Luật cơ bản năm 1949: “Trừ khi luật có quy định khác, người Duc theo định nghĩa của Luật cơ bản này là người có quôc tịch Đức hoặc người đã được nhận vào lãnh thô cua Dé chế Đức ngày 31/12/1937 với tư cách là người ti nạn hoặc người bị trục xuất của dân tộc Đức hoặc là vợ/chồng hoặc con cháu của người đó” [44]. Như vậy, từ pháp luật quốc tế, có thê thấy, theo nghĩa rộng, thuật ngữ “người nước ngoài” bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch. Theo nghĩa hẹp, thuật ngữ này chỉ bao gồm người có quốc tịch của quốc gia khác và không phải công dân của nước sở tại.
Tựu chung lại, pháp luật của hầu hết quốc gia trên thế giới đều áp dụng quốc tịch là căn cứ cơ bản dé phân biệt người nước ngoài và công dân nước mình. Mặc dù vẫn còn một số quan điểm khác nhau, tuy nhiên, khoa học pháp lý của Việt Nam cũng đồng nhất quan điểm với pháp luật quốc tế và pháp luật của hầu hết quốc gia trên thế giới khi áp dụng chế định quốc tịch để xác định một người là công dân Việt Nam hay người nước ngoài. Điều này được thê hiện rõ trong pháp luật của Việt Nam, cụ thé trong Luat Quéc tich nam 2008 (sua đôi, bố sung năm 2014, sau đây gọi tắt là Luật Quốc tịch) và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài năm 2014 (sửa đôi, bô sung năm 2019). Khoản 5, điều 3 Luật Quốc tịch đưa ra định nghĩa: “Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam” [27].
Luật Quốc tịch không đưa ra định nghĩa cụ thé về “người nước ngoài”, mà thay vào đó, thu hẹp phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh của luật khi chỉ đưa ra định nghĩa đối với những người nước ngoài cư trú ở Việt Nam. Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam đưa ra định nghĩa về người nước ngoài tại khoản 1 điều 3 như sau: “Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam” [29]. Như vậy, từ quy định trên, pháp luật Việt Nam xác định người nước ngoài bao gồm người mang quốc tịch của nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam và người không quốc tịch, tức là người vừa không có quốc tịch Việt Nam, vừa không có quốc tịch của nước khác. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về khái niệm người nước ngoài, cần có sự phân biệt rõ ràng giữa “người nước ngoài” và “người Việt Nam định cư ở nước ngoài”.
Khoản 3 điều 3 Luật Quốc tịch quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh song lâu đài ở nước ngoài” [27]. Trong số những người Việt Nam định cư ở nước ngoài, có người vẫn là công dân Việt Nam đo họ vẫn giữ quốc tịch Việt Nam, có người đã xin thôi quốc tịch Việt Nam đề nhập quốc tịch nước ngoài. Trong trường hợp này, cơ quan có thâm quyền cần căn cứ vào giấy tờ quốc tịch mà họ sử dụng để khai báo khi xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và cư trú để xác định đối tượng quản lý. Trong trường hợp, họ xuất trình hộ chiếu Việt Nam hoặc giấy tờ có giá trị khác chứng minh họ là công dân Việt Nam thì áp dụng các quy định đối với công dân Việt Nam.
Tuy nhiên, trường hợp họ sử dụng hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị khác thay thế hộ chiếu, thì xác định họ là người nước ngoài để áp dụng các quy định phù hợp. Khái niệm cw trú của người nwớc ngoài Cư trú là một trong những quyén con người cơ bản được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia thừa nhận và bảo vệ. Theo Từ điển Tiếng Việt, cư trú là “việc một người ở thường ngày tại một nơi nào đó” [39, tr. Theo khoản 2, điều 2 Luật Cư trú 2020 (sau đây gọi tắt là Luật Cư trú): “Cư trú là việc công dân sinh sông tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã hoặc đơn vị hành chính cấp huyện ở nơi không có đơn vị hành chính cấp xã” [30].
Như vậy, từ quy định trên, cư trú là đối tượng của quản lý nhà nước. Thực chất, cư trú là sinh sống của một người tại một địa điểm nhất định trong một khoảng thời gian nhất định trên lãnh thé Việt Nam. 10 Từ nội dung của thuật ngữ cư trú nói chung có thể suy ra cư trú của người nước ngoài cũng tương tự như vậy. Theo khoản 9, điều 3, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam cư trú là việc người nước ngoài thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam [29].
Quy định này đã chia ra cư trú của người nước ngoài thành hai hình thức là thường trú và tạm trú. Về bản chất, hai hình thức cư trú này không có gì khác nhau, tuy nhiên, điểm khác nhau giữa thường trú và tạm trú là về mặt thời gian. Thường trú là hành vi người nước ngoài cư trú thường xuyên, liên tục, không thời hạn tại Việt Nam. Ngược lại, tạm trú là hành vi người nước ngoài cư trú tạm thời, trong một khoảng thời gian ngắn.
Chuyên đề nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu khoa học, Viện nghiên cứu lập pháp: “Cư trú, điều kiện cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam — Thực trạng và kiến nghị” có đề cập đến van đề cư trú của người nước ngoài như sau: “Sự kiện pháp lý về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam xuất hiện từ sau khi người đó nhập cảnh và phải thực hiện các thủ tục đăng ký tạm trú hoặc thường trú tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị tran trên lãnh thé nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cư trú của người nước ngoải được xác định từ sau khi nhập cảnh vào Việt Nam đến khi họ xuất cảnh qua cửa khâu” [38, tr. Như vậy, người nước ngoài được coi là cư trú hợp pháp trên lãnh thé Việt Nam khi họ nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam và hoàn tất thủ tục đăng ký thường trú hoặc tạm trú tại một địa điểm hợp pháp nhất định trên lãnh thé Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên. Khái niệm, đặc điểm quản lý cư trú của người nước ngoài 1.
Khái niệm quan ly cw tri của Hgười nước ngoài Theo GS. Phạm Hồng Thái, trong cuốn Lý luận quan lý nhà nước, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, quyền lực, điều chỉnh có mục đích, làm thay đổi hiện thực cuộc sống của con người [31, tr.14] 11 Cư trú là một trong những quyền co bản mà bất cứ người nao cũng được hưởng. Tuy nhiên, cư trú, đặc biệt là cư trú của người nước ngoài cũng ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, xã hội, vậy nên, mỗi quốc gia đều có cơ chế dé quản lý cư trú đối với công dân nước mình và người nước ngoài. Như đã phân tích ở trên, người nước ngoài đến Việt Nam, dù với mục đích hay bằng hình thức nào, thì đều phải trải qua các giai đoạn theo thứ tự là nhập cảnh, quá cảnh, cư trú, và khi không còn nhu cầu ở Việt Nam thì tiễn hành thủ tục xuất cảnh.
Vì vậy, để các hoạt động trên diễn ra theo trình tự, suôn sẻ và hợp pháp theo pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì pháp luật Việt Nam quy định cụ thể về trình tự, thủ tục và thâm quyền quản lý cư trú cho các cơ quan chức năng để quản lý hoạt động nhập cảnh, quá cảnh, cư trú xuất cảnh của người nước ngoài. Có thể thấy, hoạt động cư trú sẽ diễn ra ngay sau khi một người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam. Do đó, việc quản lý đăng ký thường trú hoặc tạm trú của người nước ngoài là cần thiết. Trong bài viết Quan lý cư trú — Một số van dé lý luận và thực tiễn, tác giả Trần Đại Quang đưa ra khái niệm về quản lý cư trú, đó là quá trình cơ quan có thẩm quyền trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú và các biện pháp nghiệp vụ ngành Công an dé tiến hành đăng ký, quản lý thường trú, tạm trú, tạm vắng, lưu trú của công dân nham dam bảo cho công dân thực hiện quyền, nghĩa vu về cư trú theo quy định của pháp luật; đồng thời phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác trật tự an toàn xã hội [26, tr.