Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUAN TRI TOT TRONG LINH VUC HO TICH 1. Lý luận chung về quan tri tốt 1. Khái quát về Quản trị tốt Quá trình toàn cầu hóa với sự thay đổi của nền kinh tế thị trường, sự hoạt động kém hiệu quả của bộ máy quản lý khu vực công, những hạn chế, bất cập của nền quản trị công truyền thông mang tính chất cai trị đã ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước, đòi hỏi phải có sự thay đổi trong cách thức quản lý xã hội. Quản trị nhà nước tốt, hay “quản trị tốt” (good governance) là một khai niệm được nhắc đến nhiều vào khoảng thời gian từ 1990 khi ma thực trạng quản tri kém với các dấu hiệu đặc trưng là tình trạng tham nhũng, chính quyền vô trách nhiệm, vi phạm nhân quyền ngày càng nghiêm trọng trên thế giới thì quản trị tốt trở thành một yếu tố quan trọng trong các chương trình nghị sự về chính trị và kinh tế cả ở cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia; một trong những yếu tố căn bản trong các nền dân chủ kiểu phương Tây [45, tr3].
Nhiều tô chức trên thế giới đưa ra định nghĩa về Quản trị tốt như sau: - Theo Ngân hàng Phát triển châu A (ADB): “Quản trị tốt thé hiện qua bốn yếu tố cơ bản: trách nhiệm giải trình, sự tham gia, có thê dự đoán được, minh bạch” [47]. - Theo Hội đồng Châu Âu (EC): “Quản trị tốt dựa trên 5 nguyên tắc đó là: Công khai, sự tham gia, trách nhiệm giải trình, tính hiệu quả và sự gắn kết [49]. - Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IME): “Quản trị tốt thể hiện qua các yếu tố như sự minh bạch trong hoạt động của nhà nước, tính hiệu quả trong việc quản lý các nguồn lực công, và tính ôn định, minh bạch của môi trường pháp lý và kinh tế. - Theo Tổ chức Hop tác và Phát triển Kinh tế (OECD): “Các yếu tố chủ yếu của quản tri tốt bao gồm: trách nhiệm giải trình, sự minh bạch, tính hiệu quả và hiệu lực, tính kịp thời, tam nhìn, pháp quyền [51].
- Theo Ngân hàng Thế giới (WB): “Quản trị tốt là tập hợp các thể chế minh bạch, có trách nhiệm giải trình, có năng lực và kỹ năng, cùng với ý chí quyết tâm làm những điều tốt đẹp.Tất cả giúp cho một nhà nước cung cấp những dịch vụ công cho người dân một cách hiệu quả” [52, tr1]. - Theo Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP): “Quản trị tốt nói đến các hệ thong quản lý có năng lực, kip thời, toàn diện va minh bạch. Qua những định nghĩa trên thấy rằng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản trị tốt nhưng các quan điểm đều có một số đặc điểm chung khi nhắc đến quản trị tốt đó là tuân thủ pháp quyên, trách nhiệm giải trình, minh bạch, sự kip thời, hiệu quả. Như vậy, có thê hiểu “Quản trị tốt là tập hợp những nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lÿ xã hội nhằm thực hiện có hiệu quả các công việc của nhà nước hướng tới mục tiêu thúc day, bảo đảm sự phát triển hài hòa, bên vững của một quốc gia”.
Giống như nhiều quốc gia khác, trong bối cảnh ảnh hưởng tác động của quá trình toàn cầu hóa, quản trị nhà nước ở Việt Nam đang có những thay đổi sâu rộng. Quản trị tốt là một tập hợp các nguyên tắc nhằm đánh giá chất lượng của bộ máy nha nước trên tat cả các lĩnh vực. Việc bảo đảm tổ chức và hoạt động của nhà nước theo các nguyên tắc của quản trị tốt là một trong những biện pháp nhằm thúc day xã hội phát triển bền vững, hạn chế tham những và vi phạm nhân quyền. Xu hướng chuyển đổi mô hình quản trị, vận dụng các nguyên tắc của quản trị tốt đã được dé cập và sử dụng ở nước ta từ sau công cuộc đổi mới tuy nhiên vẫn chưa thực sự rõ nét.
Tại Đại hội lần thứ XIII, Dang ta đề ra chủ trương: Đổi mới “quản trị quốc gia” theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả. Đây là lần đầu tiên Đảng ta chính thức sử dụng thuật ngữ “quản trị quốc gia” trong Văn kiện Đại hội của Đảng. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra nhiệm vụ “Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả, tập trung quản lý phát triển; bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân”. Có thê thay răng, việc ghi nhận vê vân đê quản tri nhà nước 9 được xem là một bước phát triển mạnh mẽ trong tư duy lý luận của Đảng và Nhà nước ta, là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện cơ cau tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm thúc đây phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với tình hình chung của đất nước và thế giới trong giai đoạn hiện nay.
Những nguyên tắc cơ bản của quản trị tot Nhìn chung, các nguyên tắc cơ bản của quản trị tốt nhận được sự đồng thuận rộng rãi gồm: 1)- Sự tham gia, 2)- Pháp quyền, 3)- Minh bạch, 4)- Trách nhiệm giải trình, 5)- Kịp thời, hiệu quả, 6)- Đồng thuận xã hội, 7)- Bình đăng và không loại trừ chủ thể nào. Sự tham gia Quản trị tốt cần huy động, tăng cường và bảo đảm sự tham gia một cách bình đăng, không phân biệt giới tính, dân tộc hay địa vị xã hội. của người dân và các tổ chức xã hội trong hoạt động quản trị nhà nước. Các cá nhân, tổ chức có thể tham gia thông qua các hình thức: đối thoại trực tiếp (đối thoại định kỳ hoặc bất thường; có thê tô chức đối thoại với đại diện của hộ gia đình, người dân hoặc với một nhóm đối tượng nhất định.); lấy ý kiến đối với các vấn đề liên quan đến chính sách cũng như ý kiến, kiến nghị của người dân đối với chất lượng phục vụ công thông qua hộp thư điện tử, mạng internet, công thông tin điện tử.
Việc gia tang sự tham gia của người dân vào hoạt động quản tri nhà nước dem lại nhiều lợi ích như góp phần thực thi có hiệu quả chính sách, nâng cao chất lượng chính sách công bởi nếu không có sự thừa nhận, phối hợp và ủng hộ của người dân thì việc thực thi chính sách của các cơ quan hành chính nhà nước không thê tiến hành thuận lợi. Bên cạnh đó, sự tham gia góp phan củng cố niềm tin của người dân đối với các cơ quan hành chính nhà nước, thể hiện tính dân chủ, tính công khai, minh bạch của quá trình quản lý công. Pháp quyên Liên hiệp quốc coi pháp quyền là “một nguyên tắc quản trị mà trong đó tất cả mọi cá nhân, tô chức, thiết chế, cả công và tư, bao gồm cả Nhà nước, đều phải tuân thủ pháp luật được công bố công khai, được áp dụng bình dang và được phán quyết một cách độc lập, phù hợp với các nguyên tac và tiêu chuân nhân quyên quôc tê. 10 Pháp quyền đòi hỏi các biện pháp dé đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc thượng tôn pháp luật, bình đăng trước pháp luật, trách nhiệm pháp lý, công bang trong áp dụng pháp luật, phân chia quyền lực, sự tham gia vao việc ra quyết định, tính tin cậy pháp lý, tránh sự tùy tiện và tinh minh bạch của pháp luật va thủ tục” [28].
Nguyên tắc pháp quyền bao gồm: - Thượng tôn pháp luật: Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó các quan chức chính quyền và công dân đều phải tuân thủ pháp luật. Day là nội dung cốt lõi tối thiểu của pháp quyền. Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu khắt khe hơn đối với nhà nước: trong khi công dân được làm những gì pháp luật không cam, thì nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép; mọi hành động của chính quyền đều phải tuân theo đúng thâm quyên, quy trình, thủ tục đã được xác lap. - Tôn trọng, bảo đảm quyên con người: Nhà nước phải tôn trọng và bảo dam quyền con người, quyền công dân cả trong pháp luật và thực tế, đặc biệt là quyền của các nhóm thiêu số, phải được bảo vệ một cách đầy đủ.
Quyền của công dân có thé phải chịu những giới hạn nhất định nhưng phải do luật định và chỉ khi cần thiết dé bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn, đạo đức của cộng đồng và quyên, lợi ích hợp pháp của người khác. - Giới hạn và kiểm soát quyên lực nhà nước: Nhà nước phải xây đựng và vận hành các cơ chế kiêm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước với nhau, kiểm soát quyền lực nhà nước của người dân và các tổ chức xã hội. Quyền lực nhà nước phải được giám sát thường xuyên và hiệu quả. Các hành vi lạm dụng quyền lực nhà nước phải bị xử lý kip thời, nghiêm minh.
- Bảo vệ công ly: Công lý thê hiện dưới cả hai dạng: quy trình, thủ tục và mặt nội dung. Về mặt thủ tục, công lý thé hiện qua các yếu tố như: Cách thức ban hành luật (ví dụ, có đúng thâm quyền không); sự rõ ràng (có đủ rõ để công dân theo đó mà xử sự hay không). - Chất lượng của pháp luật: trong một nhà nước pháp quyền, pháp luật phải có tính chắc chắn, tính tiên liệu, ôn định trong khoảng thời gian đủ dài nhằm bao đảm an toàn pháp lý cho moi chủ thé trong xã hội, pháp quyền liên quan đến không chỉ luật hôm nay, mà cả ngày mai; các thiết chế, luật lệ, chính sách không được phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bât kỳ cá nhân hay nhóm người nảo. Minh bạch Minh bạch được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên, theo cách hiểu pho biến thì “Minh bach trong quan trị nhà nước có nghĩa là khi các co quan, công chức nhà nước đưa ra các quyết định, và quá trình thực hiện các quyết định phải công khai dé công chúng biết, ngoại trừ những trường hợp cần giữ bí mật vì an ninh quốc gia hay dé bảo dam tính hiệu quả của hoạt động quản lý (ví dụ, các giấy tờ, hồ sơ trong hoạt động tố tụng.