Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống quản lý nhà nước, pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch giữ vai trò thiết yếu nhằm ghi nhận các sự kiện nhân thân của công dân từ khi sinh ra đến khi chết, tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và phục vụ công tác quản lý dân cư. Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005, công tác hộ tịch tại Việt Nam đã bộc lộ một số tồn tại, bất cập trước yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 và tiến trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Nhằm hoàn thiện thể chế, ngày 20/11/2014, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Hộ tịch (có hiệu lực từ ngày 01/01/2016) gồm 7 Chương, 77 Điều. Đây là đạo luật đầu tiên điều chỉnh riêng lĩnh vực hộ tịch sau hơn 60 năm điều chỉnh bằng các văn bản dưới luật.

Tuy nhiên, việc triển khai thi hành Luật Hộ tịch năm 2014 trên thực tế gặp nhiều thách thức tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa. Thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng là một đơn vị hành chính cơ sở có điều kiện tự nhiên chia cắt, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số. Tại đây, công tác đăng ký hộ tịch kịp thời, chính xác gặp phải nhiều rào cản về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin, trình độ dân trí và năng lực của đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về đăng ký hộ tịch, đồng thời phân tích thực trạng thi hành pháp luật trên địa bàn thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Phân tích khái niệm hộ tịch, thực hiện pháp luật về hộ tịch, cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý thực hiện pháp luật về hộ tịch tại địa phương.
  2. Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
  3. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về đăng ký hộ tịch nói chung và trên địa bàn thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng nói riêng.

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống lý luận về hộ tịch, đăng ký hộ tịch, các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành pháp luật về đăng ký hộ tịch trên địa bàn thị trấn Quảng Uyên. Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
  • Thời gian: Từ năm 2016 (thời điểm Luật Hộ tịch năm 2014 có hiệu lực) đến thời điểm nghiên cứu (năm 2023 - 2024).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên các khái niệm pháp lý và nền tảng lập pháp hiện hành:

  • Khái niệm "Hộ tịch": Phân tích nguồn gốc từ Hán - Việt ("hộ" là nhà ở/dân sự, "tịch" là sổ sách đăng ký) và định nghĩa pháp lý theo Khoản 1 Điều 2 Luật Hộ tịch năm 2014 (các sự kiện xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết).
  • Bản chất hoạt động đăng ký hộ tịch: Khóa luận phân chia thành 2 nhóm hoạt động nghiệp vụ cơ bản:
    • Nhóm xác nhận các sự kiện hộ tịch làm phát sinh hiệu lực pháp lý trực tiếp (khai sinh, khai tử, kết hôn, giám hộ, nhận cha mẹ con, thay đổi, cải chính hộ tịch).
    • Nhóm ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch căn cứ theo bản án, quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ly hôn, hủy kết hôn trái pháp luật, thay đổi quốc tịch, xác định lại giới tính, tuyên bố mất tích hoặc đã chết).
  • Khung văn bản quy phạm pháp luật áp dụng: Hiến pháp năm 2013, Luật Hộ tịch năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Luật Căn cước công dân năm 2014, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP, Thông tư số 04/2020/TT-BTP.

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp luận: Dựa trên nền tảng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm đổi mới của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền.
  • Phương pháp phân tích, bình luận: Dùng để mổ xẻ nội dung các quy phạm pháp luật hộ tịch, đối chiếu với các đạo luật liên quan và đánh giá tình hình áp dụng trên thực tế tại cơ sở.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại và xử lý các số liệu hành chính về kết quả giải quyết việc hộ tịch, tình hình số hóa sổ hộ tịch, công tác tuyên truyền và thực trạng nhân sự tư pháp - hộ tịch tại địa phương.
  • Phương pháp quy nạp, tổng hợp: Đúc kết từ các dữ liệu thực tế tại thị trấn Quảng Uyên để rút ra các kết luận chung về hạn chế thể chế và tổ chức thi hành.

Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm các văn bản pháp luật, Báo cáo tổng kết 06 năm thi hành Luật Hộ tịch của UBND huyện Quảng Hòa, số liệu báo cáo định kỳ và chuyên đề của UBND thị trấn Quảng Uyên, cùng các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn Thạc sĩ Luật học chuyên ngành liên quan đã công bố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về đăng ký hộ tịch

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử lập pháp về hộ tịch tại Việt Nam qua các thời kỳ: thời phong kiến (ghi chép mang tính tự phát tại làng xã, dòng họ), thời kỳ Pháp thuộc (Nghị định năm 1887 tại Bắc Kỳ, Nghị định năm 1908 tại Trung Kỳ và Nam Kỳ), giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 (Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945, Nghị định số 764/TTg ngày 08/5/1956 ban hành Điều lệ Hộ tịch, Nghị định số 04/CP ngày 16/01/1961), giai đoạn đổi mới với Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP và đỉnh cao là Luật Hộ tịch năm 2014.

Khóa luận phân tích vai trò 2 mặt của đăng ký hộ tịch: đối với cá nhân (xác lập quyền nhân thân, tạo cơ sở thụ hưởng các dịch vụ công về y tế, giáo dục, an sinh xã hội) và đối với Nhà nước (công cụ thu thập dữ liệu phục vụ hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh trật tự, đồng thời đo lường các Mục tiêu phát triển bền vững SDG 2030 của Liên Hợp Quốc).

Về các yếu tố ảnh hưởng, tác giả chỉ ra 2 nhóm nhân tố chính: nhóm yếu tố tổ chức pháp lý (chất lượng thể chế, năng lực cán bộ, hạ tầng công nghệ thông tin) và nhóm yếu tố kinh tế, văn hóa - xã hội (khoảng cách địa lý, hủ tục, tập quán địa phương và trình độ dân trí). Đồng thời, chương này phân tích cụ thể thẩm quyền đăng ký hộ tịch của UBND cấp xã (Điều 7, Điều 13–34 Luật Hộ tịch), phương thức yêu cầu trực tiếp, qua bưu chính, trực tuyến (Điều 9) và quy trình tiếp nhận, trả kết quả theo Thông tư số 04/2020/TT-BTP.

Chương 2: Thực tiễn thi hành pháp luật về đăng ký hộ tịch trên địa bàn thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa

Chương 2 phân tích các đặc điểm địa bàn: Thị trấn Quảng Uyên nằm ở phía bắc huyện Quảng Hòa, cách thành phố Cao Bằng 37 km theo Quốc lộ 3. Địa bàn có diện tích 18,46 km², gồm 11 xóm/tổ dân phố, dân số 1.565 nhân khẩu gồm các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Mông. Địa hình lòng chảo bị chia cắt bởi các dãy núi đá vôi; kinh tế chủ yếu là nông nghiệp (652,4 ha đất canh tác ngô, lúa, mía; chăn nuôi trâu, bò, lợn). Tỷ lệ hộ nghèo năm 2023 là 5,40% (76 hộ), cận nghèo là 5,80% (83 hộ).

Về kết quả thực hiện:

  • Công tác tuyên truyền: Căn cứ Kế hoạch số 89/KH-UBND ngày 10/7/2015 của UBND huyện Quảng Hòa, thị trấn đã tổ chức khoảng 20 buổi tuyên truyền lồng ghép với hơn 1.000 lượt người tham dự qua các cuộc họp tổ dân phố, sinh hoạt chi bộ và hệ thống truyền thanh cơ sở.
  • Ứng dụng CNTT và số hóa Sổ hộ tịch: Thị trấn bắt đầu sử dụng Phần mềm quản lý hộ tịch dùng chung của Bộ Tư pháp từ tháng 6/2019 (thuộc nhóm đơn vị triển khai muộn trong tỉnh). Đến năm 2021, hoàn thành số hóa giai đoạn 1 (2016–2018) với 895 dữ liệu; đến tháng 6/2023 hoàn thành số hóa giai đoạn 2 (2006–2015) với 2.691 dữ liệu.
  • Về dịch vụ công trực tuyến và liên thông: Chưa phát sinh hồ sơ đăng ký trực tuyến nào do người dân nộp. Tuy nhiên, việc liên thông thủ tục khai sinh và cấp thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) cho trẻ em dưới 6 tuổi trên môi trường điện tử từ năm 2020 đến nay đã thực hiện được trên 1.000 vụ việc.

Khóa luận tổng hợp thực trạng biến động đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch tại thị trấn Quảng Uyên qua bảng sau:

Giai đoạn Số lượng nhân sự Trình độ chuyên môn Tình trạng chứng chỉ nghiệp vụ hộ tịch
2016 – 2018 01 công chức Trung cấp Luật Chưa có
2019 01 công chức Đại học Có chứng chỉ từ tháng 8/2019
01/2020 – 03/2020 01 công chức Đại học Đã có
04/2020 – 07/2021 (sau sáp nhập xã Quốc Phong) 02 công chức Đại học Cả 02 đều có (01 công chức phụ trách chính hộ tịch)
08/2021 – 07/2022 02 công chức 01 Đại học, 01 Trung cấp 01 người có, 01 người chưa có
08/2022 – hết năm 2022 02 công chức 01 Đại học, 01 Trung cấp Cả 02 người đều chưa có

Về hạn chế và vướng mắc, tác giả chia thành 2 nhóm:

  1. Vướng mắc trong tổ chức thực hiện: Cơ sở vật chất hạn chế (đến năm 2019 mới được trang bị máy tính cấu hình bảo đảm); đội ngũ công chức có 5 lần thay đổi/luân chuyển từ năm 2016 đến 2022, thiếu tính chuyên trách ổn định, phải kiêm nhiệm nhiều đầu việc tư pháp khác; Phần mềm hộ tịch dùng chung thường xuyên phát sinh lỗi cấp số định danh cá nhân khi khai sinh; nhận thức người dân còn hạn chế dẫn đến tình trạng khai sinh quá hạn (chỉ khi con ốm đi viện mới đăng ký), khai tử quá hạn (chờ khi giải quyết chia thừa kế đất đai mới làm thủ tục), và chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn dẫn đến phải giải quyết đồng thời cả thủ tục kết hôn, nhận cha con và khai sinh.
  2. Vướng mắc về quy định pháp luật:
  • Khoản 1 Điều 70 Luật Hộ tịch quy định thu hồi, hủy bỏ giấy tờ cấp trái luật nhưng thiếu quy định về trình tự, thủ tục thực hiện.
  • Thiếu mẫu Giấy báo tử áp dụng cho trường hợp cá nhân chết ngoài cơ sở y tế (Khoản 2 Điều 34 Luật Hộ tịch, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP); việc quy định UBND cấp xã vừa cấp giấy báo tử vừa đăng ký khai tử tại nơi cư trú gây trùng lặp thủ tục (Điều 32 Luật Hộ tịch và Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP).
  • Xung đột giữa Khoản 1 Điều 25 Luật Hộ tịch (bắt buộc các bên phải có mặt khi nhận cha, mẹ, con) với Điều 90–92 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (cho phép nhận cha, mẹ, con kể cả khi một bên đã chết).
  • Thiếu quy định, biểu mẫu về thủ tục đăng ký giám sát việc giám hộ (quy định tại Điều 51 Bộ luật Dân sự năm 2015).
  • Mâu thuẫn giữa Khoản 3 Điều 10 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP (đăng ký khai sinh lại cho con nuôi) và Khoản 2 Điều 26 Luật Hộ tịch (áp dụng thủ tục thay đổi hộ tịch).
  • Khoản 1 Điều 26 Luật Hộ tịch quy định thay đổi "họ, chữ đệm và tên", trong khi Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định quyền thay đổi họ (Điều 27) và tên (Điều 28), không quy định riêng về chữ đệm.
  • Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 công nhận quyền chuyển đổi giới tính nhưng chưa có văn bản hướng dẫn đăng ký hộ tịch tương ứng.
  • Xung đột giữa Khoản 3 Điều 11 Luật Căn cước công dân năm 2014 (ưu tiên thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư) và Khoản 2 Điều 60 Luật Hộ tịch (ưu tiên thông tin trong Sổ hộ tịch).

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hộ tịch và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về đăng ký hộ tịch

Chương 3 đề xuất 2 nhóm giải pháp lớn:

  1. Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:
  • Ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất việc đặt tên, xác định dân tộc, quê quán cho trẻ em có cha hoặc mẹ là người nước ngoài.
  • Ban hành quy trình chuẩn về việc số hóa đối với các sổ hộ tịch cũ bị mờ, rách hoặc thiếu thông tin.
  • Bổ sung quy định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục, thời hạn và trách nhiệm trong việc thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch cấp trái pháp luật.
  • Quy định chuẩn hóa tiêu chuẩn trình độ ứng dụng CNTT đối với công chức làm công tác đăng ký, quản lý hộ tịch.
  • Đơn giản hóa thủ tục hành chính, đồng bộ hóa các quy định còn chồng chéo giữa Luật Hộ tịch và Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Căn cước công dân.
  1. Nhóm kiến nghị nâng cao hiệu quả thi hành:
  • Tăng cường nguồn lực Tư pháp - Hộ tịch: Đẩy mạnh đào tạo kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu và kỹ năng mềm xử lý tình huống; duy trì ổn định nhân sự, hạn chế điều động, luân chuyển công chức đã qua bồi dưỡng; bố trí ít nhất 01 công chức hộ tịch chuyên trách theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Khoản 2 Điều 72 Luật Hộ tịch.
  • Tăng cường phối hợp liên ngành: Thiết lập cơ chế trao đổi thông tin định kỳ giữa cơ quan Tư pháp với Công an (đối chiếu thông tin công dân), cơ quan Y tế (chia sẻ dữ liệu sinh, tử và thẻ BHYT), cơ quan Nội vụ (chuẩn hóa hồ sơ cán bộ), Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể (đa dạng hóa hình thức tuyên truyền pháp luật).
  • Đổi mới chế độ, chính sách đãi ngộ: Nâng cao mức lương, phụ cấp trách nhiệm, bổ sung chính sách ưu đãi cho cán bộ làm công tác tư pháp - hộ tịch tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng thời xây dựng tiêu chí đánh giá và lộ trình thăng tiến rõ ràng.

Kết quả và đóng góp

Về mặt dữ liệu thực tiễn, khóa luận cung cấp bức tranh cụ thể về kết quả thi hành Luật Hộ tịch năm 2014 tại một đơn vị hành chính cấp xã miền núi:

  • Tổng số dữ liệu sổ hộ tịch được số hóa thành công: 3.586 dữ liệu (gồm 895 dữ liệu giai đoạn 2016–2018 và 2.691 dữ liệu giai đoạn 2006–2015).
  • Kết quả liên thông thủ tục khai sinh và cấp thẻ BHYT trên môi trường điện tử: trên 1.000 trường hợp từ năm 2020 đến thời điểm khảo sát.
  • Số đợt tuyên truyền pháp luật: 20 buổi với hơn 1.000 lượt người tham gia.
  • Đánh giá thực trạng nhân sự: Ghi nhận chi tiết 5 lần biến động công chức tư pháp - hộ tịch từ năm 2016 đến năm 2022.

Về giải pháp, công trình xây dựng hệ thống kiến nghị đồng bộ từ việc sửa đổi, bổ sung quy phạm pháp luật hộ tịch đến việc bố trí biên chế chuyên trách, nâng cấp đường truyền phần mềm dùng chung và thiết lập quy chế chia sẻ dữ liệu liên ngành cấp cơ sở.

Đóng góp mới của đề tài: Đây là công trình đầu tiên khảo sát trực tiếp, toàn diện thực trạng áp dụng Luật Hộ tịch năm 2014 tại địa bàn thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng. Khóa luận chỉ rõ những vướng mắc pháp lý và rào cản kỹ thuật đặc thù của vùng đồng bào dân tộc thiểu số khi chuyển đổi từ phương thức quản lý hộ tịch truyền thống sang môi trường điện tử.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do phạm vi và điều kiện nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát tập trung tại một địa bàn cấp xã (thị trấn Quảng Uyên), chưa so sánh đối chiếu số liệu tổng thể với các xã lân cận trong huyện Quảng Hòa để làm rõ mức độ chênh lệch.
  • Số liệu thống kê chi tiết về từng loại việc hộ tịch theo bảng phân loại hàng năm chưa được thể hiện đầy đủ các chỉ số thành phần trong văn bản.
  • Địa bàn nghiên cứu chưa phát sinh dữ liệu về hồ sơ đăng ký trực tuyến toàn trình do người dân tự nộp, do đó chưa đánh giá được đầy đủ hiệu quả triển khai Cổng dịch vụ công trực tuyến tại chỗ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát ra toàn huyện Quảng Hòa hoặc trên địa bàn tỉnh Cao Bằng để đánh giá tính đại diện của các phát hiện.
  • Nghiên cứu sâu về tác động của Đề án 06 và việc tích hợp Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Luật Hành chính, Luật Dân sự khi nghiên cứu về thể chế hộ tịch và kỹ thuật xử lý xung đột pháp luật giữa các đạo luật chuyên ngành.
  • Cán bộ, công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã, Phòng Tư pháp cấp huyện tại các địa phương miền núi, biên giới trong việc tổ chức công tác số hóa sổ hộ tịch và giải quyết các vướng mắc nghiệp vụ thực tế.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước về tư pháp khi xây dựng chính sách đào tạo, bố trí biên chế và hoàn thiện các biểu mẫu, quy trình hộ tịch điện tử.

Câu hỏi thường gặp

1. Tình hình số hóa Sổ hộ tịch tại thị trấn Quảng Uyên đạt kết quả như thế nào?
Thị trấn bắt đầu sử dụng phần mềm dùng chung từ tháng 6/2019. Kết quả số hóa chia làm 2 giai đoạn: năm 2021 hoàn thành giai đoạn 1 (2016–2018) với 895 dữ liệu; đến tháng 6/2023 hoàn thành giai đoạn 2 (2006–2015) với 2.691 dữ liệu, nâng tổng số dữ liệu số hóa lên 3.586.

2. Đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch tại thị trấn Quảng Uyên giai đoạn 2016–2022 có biến động ra sao?
Trong giai đoạn này, địa phương trải qua 5 lần thay đổi nhân sự. Giai đoạn 2016–2018 chỉ có 1 công chức trình độ trung cấp chưa có chứng chỉ hộ tịch; giai đoạn sáp nhập xã Quốc Phong (04/2020–07/2021) có 2 công chức đại học và có chứng chỉ; đến cuối năm 2022 có 2 công chức (1 đại học, 1 trung cấp) nhưng cả hai đều chưa có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch.

3. Khóa luận chỉ ra điểm xung đột nào giữa Luật Hộ tịch và Bộ luật Dân sự năm 2015?
Khóa luận chỉ ra 3 điểm xung đột/thiếu đồng bộ chính: (1) Luật Hộ tịch (Điều 26) cho phép thay đổi "chữ đệm" trong khi Bộ luật Dân sự chỉ quy định quyền thay đổi họ và tên; (2) Bộ luật Dân sự (Điều 51) có quy định giám sát việc giám hộ nhưng Luật Hộ tịch thiếu biểu mẫu, thủ tục đăng ký; (3) Bộ luật Dân sự (Điều 37) công nhận quyền chuyển đổi giới tính nhưng pháp luật hộ tịch chưa có văn bản hướng dẫn đăng ký.

4. Dịch vụ công trực tuyến và liên thông thủ tục hành chính tại thị trấn Quảng Uyên diễn ra như thế nào?
Địa phương chưa ghi nhận hồ sơ đăng ký hộ tịch trực tuyến nào do người dân nộp trực tiếp trên hệ thống trực tuyến. Tuy nhiên, việc liên thông thủ tục khai sinh - cấp thẻ BHYT cho trẻ em trên môi trường điện tử đã được thực hiện hiệu quả với hơn 1.000 hồ sơ từ năm 2020 đến thời điểm khảo sát.

5. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đăng ký khai sinh và khai tử quá hạn tại địa phương là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do nhận thức pháp luật và tập quán của một bộ phận người dân tộc thiểu số ở vùng sâu, đi lại khó khăn; người dân thường chỉ đi khai sinh khi con bị ốm cần điều trị tại bệnh viện, và chỉ đi khai tử khi cần giải quyết thủ tục phân chia di sản thừa kế đất đai.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Nông Trung Hiếu đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về đăng ký hộ tịch theo Luật Hộ tịch năm 2014, đồng thời phản ánh chân thực thực trạng thi hành tại thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2016–2023. Công trình làm rõ những thành tựu trong công tác số hóa dữ liệu và liên thông thủ tục hành chính, đồng thời chỉ ra những rào cản nghiêm trọng về biến động nhân sự, hạ tầng kỹ thuật và sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật. Các đề xuất hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành được xây dựng sát hợp với điều kiện thực tế, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác quản lý hộ tịch ở cấp cơ sở miền núi.