phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm có 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về văn hóa công vụ của công chức cấp xã. Chƣơng 2: Thực trạng văn hóa công vụ của công chức cấp xã ở huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả văn hóa công vụ của công chức cấp xã ở huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VĂN HÓA CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
Các khái niệm công cụ 1. Khái niệm văn hóa Có nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau về văn hóa, cụ thể nhƣ: Theo “Tuyên bố về những chính sách văn hóa” thông qua tại Hội nghị quốc tế do UNESCO (Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp quốc) tổ chức tại Mexico năm 1982: Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người những suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý.
Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán những giá trị và thực thi những sự lựa chọn. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân [47]. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên, thì: Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử [56]. Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 đƣa ra một loạt quan niệm về văn hóa, đó là: 11 Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội. Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần. Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học [55]. Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: Văn hóa - vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa [19].
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [37]. Trong cuốn Hồ Chí Minh toàn tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đƣa ra định nghĩa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa [1]. Nhƣ vậy có thể khẳng định rằng, mặc dù trên nhiều phƣơng diện, góc độ tiếp cận khác nhau nên cách hiểu và quan niệm cũng khác nhau, song tựu chung, hầu hết các nhà nghiên cứu văn hóa đều có quan niệm văn hóa gắn với 12 con ngƣời, là hệ thống những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra.
Là bộ phận cơ bản trong xã hội, nhằm tạo ra những giá trị chuẩn mực trong xã hội. Khái niệm công vụ Để hiểu đƣợc khái niệm về công vụ, trƣớc hết chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm công và vụ: công đƣợc hiểu là là những hoạt động mang tính cộng đồng, công việc chung của toàn đất nƣớc; vụ đƣợc hiểu là những vụ việc, công việc đƣợc giao phải thực hiện. Nhƣ vậy, công vụ hiểu đơn giản chính là hoạt động đƣợc tiến hành trên cơ sở pháp luật nhằm thực hiện các công việc, nhiệm vụ đƣợc giao thuộc thẩm quyền của Nhà nƣớc vì lợi ích chung của toàn thể quốc gia, dân tộc, lợi ích xã hội và những lợi ích chính đáng của các tổ chức và cá nhân. Nhìn chung, đây là những hoạt động có tính bắt buộc và kỷ cƣơng nghiêm khắc, bắt buộc những chủ thể thực hiện những nhiệm vụ đƣợc giao phải đảm bảo chính xác, công bằng.
Đây là những công việc đƣợc thực hiện liên tục để đảm bảo cho cơ chế Nhà nƣớc đƣợc thực hiện một cách thƣờng xuyên và liên tục trên nguyên tắc sử dụng quyền lực Nhà nƣớc và đảm bảo bằng quyền lực Nhà nƣớc. Do đó mà những chủ thể thực hiện hành vi này chính là đội ngũ công chức chuyên nghiệp thực hiện. Hiện nay, để phù hợp với tình hình thực tế nền chính trị của nƣớc ta thì công vụ sẽ có một số tính chất và đặc điểm cơ bản nhƣ: Mục đích của công vụ là phục vụ cho những lợi ích của Nhà nƣớc và Nhân dân; Chủ thể thực thi nhiệm vụ chính là đội ngũ cán bộ, công viên chức đang làm việc trong bộ máy Nhà nƣớc; Nguyên tắc hoạt động và làm việc của công vụ chính là theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn đƣợc Nhà nƣớc giao và tuân theo quy định của pháp luật. Khái niệm văn hóa công vụ Với tƣ cách một lĩnh vực, một loại hình hoạt động của xã hội, hoạt động công vụ là hoạt động thể hiện khả năng sáng tạo của con ngƣời.
Chính ở hoạt động công vụ là môi trƣờng tốt để cho văn hóa công vụ hình thành và phát triển. Đó là sự khái quát sâu sắc chức năng căn bản, giá trị cốt lõi và sức mạnh to lớn của văn hóa. Dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, văn hóa vật thể hay văn hóa phi vật thể, thì văn hóa - với ý nghĩa là những giá trị sáng tạo của con ngƣời, đều là nguồn lực nội sinh vô tận, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến con đƣờng phát triển của một quốc gia. Trong đó, thành tố có ảnh hƣởng sâu rộng, mạnh mẽ đến hƣớng đi của một dân tộc chính là văn hóa chính trị, mà nòng cốt là văn hóa lãnh đạo, quản lý.
Kế thừa và phát triển sáng tạo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về văn hóa, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội; đặc biệt coi trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo và quản lý [2]. Từ khái niệm văn hóa đến tìm hiểu văn hóa công vụ, có thể hiểu: Văn hóa công vụ chính là những giá trị tốt đẹp để tạo nên niềm tin tưởng, tự hào, lòng yêu nghề, sự gắn kết đội ngũ cán bộ, công chức. Đó là nét đẹp trong giao tiếp ứng xử, đó là tinh thần, trách nhiệm, tác phong lề lối làm việc, là những chuẩn mực thi công vụ của đội ngũ cán bộ công chức, góp phần xây dựng nền hành chính vì Nhân dân phục vụ. Khái niệm công chức, công chức cấp xã Khái niệm công chức: Ở nƣớc ta, khái niệm “công chức” có từ khá lâu, nhƣng chỉ đến năm 1950, sau 05 năm đất nƣớc ta giành độc lập thì khái niệm 14 đó mới xuất hiện trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nƣớc.
Văn bản đầu tiên là Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch Nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định quy chế công chức Việt Nam. Điều 1 của Sắc lệnh ghi: Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong nước hay ở nước ngoài đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định [32]. Đến thời kỳ đổi mới (sau năm 1986), trƣớc yêu cầu khách quan cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức Nhà nƣớc, khái niệm công chức đƣợc sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Chính phủ. Nghị định nêu rõ: Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước [27].
Năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời, là văn bản pháp lý cao nhất của nƣớc ta về cán bộ, công chức [53]. Dƣới Pháp lệnh là Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Nghị định đã cụ thể hóa khái niệm công chức: Là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng [12]. 15 Sau hai lần sửa đổi, năm 2003, Pháp lệnh Cán bộ, công chức cho khái niệm gộp cả cán bộ, công chức (quy định tại Điều 1): Mặc dù tiến bộ hơn rất nhiều so với Pháp lệnh năm 1998 và sửa đổi năm 2000, Pháp lệnh Cán bộ công chức sửa đổi năm 2003 đã phân định được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước được gọi là “viên chức” [54].