Luận văn Quản lý công: Tạo động lực làm việc cho viên chức BLĐTBXH

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Luận văn thạc sĩ tạo động lực làm việc cho viên chức tại trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức lao động xã hội bộ lao

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

114
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tạo động lực làm việc cho viên chức trường bồi dưỡng

Quản lý nhân lực giữ vai trò hạt nhân quyết định hiệu quả tổ chức. Đơn vị sự nghiệp công lập cần đội ngũ viên chức tâm huyết để hoàn thành nhiệm vụ chính trị. Tạo động lực làm việc là đòn bẩy khai phóng tiềm năng của người lao động. Khái niệm này bao hàm chuỗi chính sách tác động đến nhu cầu vật chất và tinh thần. Viên chức có động lực cao luôn nỗ lực vượt qua khó khăn chuyên môn. Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội giữ trọng trách bồi dưỡng năng lực công vụ. Đội ngũ viên chức tại đây đóng góp trực tiếp vào chất lượng đào tạo chung của toàn ngành. Môi trường giáo dục đặc thù đòi hỏi sự tận tâm và sáng tạo không ngừng. Do đó, nghiên cứu lý luận tạo động lực cho khối đơn vị này mang tính cấp thiết cao. Hoạt động quản lý cần kết hợp hài hòa mục tiêu tổ chức với nguyện vọng cá nhân. Khi nhu cầu chính đáng được đáp ứng, viên chức sẽ phát huy tối đa tinh thần cống hiến bền vững.

1.1. Khái niệm và bản chất của tạo động lực làm việc cho viên chức

Động lực làm việc là yếu tố thúc đẩy con người hành động kiên trì vì mục tiêu chung. Tạo động lực là quá trình nhà quản trị thiết lập các điều kiện làm việc thuận lợi. Quá trình này kích thích đồng thời cả động cơ bên trong lẫn tác nhân thúc đẩy bên ngoài của nhân sự. Đối với viên chức tại đơn vị sự nghiệp, động lực gắn liền với sự thỏa mãn nghề nghiệp và trách nhiệm phục vụ xã hội. Viên chức luôn mong muốn môi trường công bằng, cơ hội thăng tiến minh bạch và chế độ đãi ngộ tương xứng. Lãnh đạo cần nắm bắt chính xác tâm lý từng vị trí việc làm. Từ đó, tổ chức dễ dàng đưa ra chính sách quản trị nhân sự khoa học và hiệu quả nhất.

1.2. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu trong đơn vị sự nghiệp công

Khu vực công hiện nay chịu sự cạnh tranh nhân lực gay gắt từ khu vực tư nhân. Mức thu nhập và cơ chế đãi ngộ của doanh nghiệp thường linh hoạt hơn đơn vị nhà nước. Tình trạng chuyển dịch nhân sự giỏi gây nhiều áp lực cho công tác quản lý cán bộ. Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội cần giữ chân nhân tài để nâng cao chất lượng giảng dạy. Đề tài luận văn thạc sĩ này giải quyết bài toán cấp bách về cơ chế giữ người. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học giúp lãnh đạo nhà trường hoàn thiện chính sách đãi ngộ nhân sự toàn diện.

II. Thực trạng tạo động lực làm việc cho viên chức trường bồi dưỡng

Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội đã đạt nhiều kết quả tích cực trong quản trị nhân sự. Nhà trường thực hiện nghiêm túc các quy định nhà nước về lương thưởng và thi đua khen thưởng. Viên chức được tạo điều kiện tham gia các khóa học nâng cao trình độ. Văn hóa đoàn kết nội bộ được củng cố qua từng năm học. Bầu không khí làm việc nhìn chung thân thiện và tôn trọng lẫn nhau. Tuy nhiên, công tác tạo động lực vẫn bộc lộ nhiều hạn chế đáng kể. Cơ chế tiền lương còn mang nặng tính bình quân và phụ thuộc vào khung ngạch nhà nước. Thu nhập chưa thực sự phản ánh đúng mức độ đóng góp chuyên môn của từng cá nhân. Hình thức khen thưởng chưa đa dạng, chủ yếu áp dụng mức thưởng theo danh hiệu thi đua cơ bản. Đơn vị thiếu các quy chế khen thưởng đột xuất cho sáng kiến đột phá. Bên cạnh đó, áp lực công việc ngày càng tăng nhưng điều kiện cơ sở vật chất chưa đồng bộ. Thực tế này làm giảm bớt nhiệt huyết cống hiến lâu dài của viên chức trẻ.

2.1. Hạn chế trong chính sách đãi ngộ tài chính và khen thưởng thi đua

Chính sách tài chính hiện tại của nhà trường chịu sự ràng buộc chặt chẽ từ ngân sách nhà nước. Mức tiền thưởng cho danh hiệu thi đua cá nhân còn thấp so với mặt bằng thị trường. Danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở hay Lao động tiên tiến chỉ có mức thưởng định mức khiêm tốn. Tiền thưởng chưa tạo ra tác động đòn bẩy kinh tế đủ mạnh để kích thích viên chức bứt phá. Ngoài ra, trường chưa xây dựng quy chế thưởng nội bộ linh hoạt cho thành tích vượt bậc. Điều này dẫn đến tâm lý làm việc cầm chừng ở một bộ phận nhân viên.

2.2. Khó khăn từ môi trường làm việc và cơ hội thăng tiến nghề nghiệp

Bên cạnh yếu tố tài chính, môi trường làm việc và lộ trình phát triển nghề nghiệp còn nhiều rào cản. Quy trình đánh giá hiệu quả công việc đôi khi mang tính hình thức và dàn đều. Cơ hội thăng tiến vào các vị trí quản lý còn hạn hẹp do định biên vị trí việc làm cố định. Một số viên chức cảm thấy năng lực chuyên môn chưa được khai thác tối đa trong công việc thường nhật. Áp lực giảng dạy và xử lý thủ tục hành chính dễ gây ra tình trạng quá tải tâm lý. Sự thiếu hụt các hoạt động truyền cảm hứng làm giảm tính gắn kết của đội ngũ nhân sự.

III. Giải pháp tạo động lực làm việc cho viên chức trường bồi dưỡng

Để tạo động lực bền vững, nhà trường cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp chiến lược. Việc đổi mới phải kết hợp chặt chẽ giữa kích thích vật chất và khích lệ tinh thần. Trước hết, ban giám hiệu cần tối ưu hóa nguồn thu sự nghiệp để gia tăng thu nhập tăng thêm. Quy chế chi tiêu nội bộ phải công khai, minh bạch và gắn liền với năng suất lao động. Đánh giá viên chức cần dựa trên kết quả đầu ra rõ ràng thay vì thâm niên công tác. Song song với tài chính, nâng cao chất lượng môi trường làm việc là yếu tố then chốt. Nhà trường cần hoàn thiện văn hóa tổ chức dựa trên sự tôn trọng và hỗ trợ đồng nghiệp. Lãnh đạo cần phân quyền hợp lý, khuyến khích viên chức chủ động đề xuất sáng kiến chuyên môn. Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cần được xây dựng theo nhu cầu thực tế của từng vị trí việc làm. Khi tổ chức ghi nhận xứng đáng mọi đóng góp, viên chức sẽ yên tâm cống hiến hết mình.

3.1. Đổi mới cơ chế chi trả thu nhập và chính sách khen thưởng linh hoạt

Nhà trường cần chủ động khai thác các nguồn thu hợp pháp từ hoạt động dịch vụ đào tạo. Nguồn quỹ bổ sung này dùng để chi trả thu nhập tăng thêm dựa trên hiệu suất thực tế. Quy chế khen thưởng nội bộ cần bổ sung các hình thức thưởng nóng cho sáng kiến cải tiến phương pháp giảng dạy. Tiền thưởng phải trao kịp thời để phát huy tối đa giá trị động viên. Việc phân phối thu nhập công bằng sẽ tạo động lực cạnh tranh lành mạnh giữa các viên chức. Đây là giải pháp căn cơ để giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao.

3.2. Cải thiện môi trường làm việc và xây dựng văn hóa tổ chức chuyên nghiệp

Tạo dựng bầu không khí dân chủ và cởi mở là nền tảng thúc đẩy sáng tạo trong môi trường giáo dục. Lãnh đạo đơn vị cần lắng nghe tâm tư, giải tỏa kịp thời các xung đột nội bộ phát sinh. Nhà trường cần đầu tư nâng cấp trang thiết bị hiện đại phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Xây dựng văn hóa tổ chức đề cao sự tôn trọng, tương trợ lẫn nhau và trân trọng giá trị cống hiến. Bên cạnh đó, tổ chức cần thiết lập lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng cho từng cá nhân.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn đề tài tạo động lực cho viên chức

Đề tài luận văn thạc sĩ quản lý công đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tạo động lực cho viên chức. Kết quả nghiên cứu phản ánh chân thực bức tranh quản trị nhân lực tại Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội. Luận văn chỉ rõ những điểm nghẽn về chính sách tiền lương và môi trường công tác. Các giải pháp đề xuất có tính khả thi cao, bám sát các quy định pháp luật hiện hành. Nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách cán bộ. Ban giám hiệu có thể ứng dụng trực tiếp các kiến nghị để đổi mới quy chế chi tiêu và khen thưởng nội bộ. Ngoài ra, mô hình nghiên cứu này còn có thể nhân rộng sang các trường đào tạo bồi dưỡng trực thuộc các bộ ngành khác. Việc nâng cao động lực làm việc của viên chức sẽ tạo đòn bẩy vững chắc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia.

4.1. Giá trị đóng góp về mặt lý luận và phương pháp luận quản lý công

Luận văn thạc sĩ đã làm sâu sắc thêm lý thuyết tạo động lực trong bối cảnh đơn vị sự nghiệp công lập đặc thù. Công trình kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp định tính và dữ liệu thực tế tại đơn vị nghiên cứu. Các tiêu chí đánh giá mức độ thỏa mãn của viên chức được xây dựng có hệ thống và khoa học. Tài liệu cung cấp góc nhìn tham chiếu giá trị cho học viên, giảng viên chuyên ngành quản lý công. Đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, bổ sung dữ liệu thực chứng cho khoa học tổ chức cán bộ.

4.2. Khả năng chuyển giao và áp dụng giải pháp vào thực tiễn quản trị

Hệ thống giải pháp trong luận văn có tính ứng dụng cao đối với công tác điều hành của nhà trường. Ban lãnh đạo có thể triển khai ngay quy trình đánh giá hiệu quả công việc theo tiêu chí định lượng. Khung chính sách khen thưởng và cải thiện môi trường tâm lý dễ dàng thích ứng với điều kiện tài chính tự chủ. Hơn nữa, các cơ sở đào tạo bồi dưỡng tương đồng trong cả nước có thể học hỏi và áp dụng linh hoạt. Việc thực thi đồng bộ các giải pháp sẽ thúc đẩy chất lượng đào tạo công chức toàn diện.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

31/05/2026
Luận văn thạc sĩ tạo động lực làm việc cho viên chức tại trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức lao động xã hội bộ lao động thương binh và xã hội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CÁC BỘ, NGÀNH 1. Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ, công chức các bộ ngành 1. Một số vấn đề chung về trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các bộ ngành 1. Khái niệm, đặc điểm của Trường Đạo tạo, bồi dưỡng các Bộ ngành * Khái niệm Trường Đào tạo, bồi dưỡng các bộ, ngành là đơn vị sự nghiệp trực thuộc các bộ, ngành; thực hiện chức năng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật, kiến thức quản lý hành chính nhà nước, quản lý chuyên ngành, năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, các nguyên tắc về hoạt động nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp, kiến thức bổ trợ theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, ngoại ngữ và tin học, kiến thức về hội nhập quốc tế để nâng cao trình độ đối với cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ quản lý doanh nghiệp, người lao động trực thuộc bộ; giáo dục nghề nghiệp ờ các cấp trình độ, cung ứng nguồn nhân lực có chất lượng cho các bộ, ngành; nghiên cứu khoa học; chuyển giao công nghệ; hợp tác trong và ngoài nước, cung cấp các dịch vụ tư vấn về đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của pháp luật.

*Đặc điểm - Trường đào tạo bồi dưỡng các bộ ngành hầu hết được hình thành trên cơ sở hợp nhất của các trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ thuật thuộc bộ ngành. - Trường bồi dưỡng các bộ ngành là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc các bộ, ngành chịu sự quản lý của bộ ngành cả tổ chức và biên chế. Trường không nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân và không trực thuộc bộ Giáo dục đào tạo do vậy trường không được cấp bằng (trung cấp, đại học) mà chỉ được cấp chứng chỉ tương ứng với các chương trình đào tạo bồi dưỡng. 9 - Chức năng, nhiệm vụ của nhà trường liên tục được bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý của từng bộ ngành trong điều kiện hội nhập quốc tế.

- Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của các Trường là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc bộ ngành quản lý. - Quy mô các trường không lớn với đội ngũ cán bộ, viên chức dưới 100 người. Nhiệm vụ và quyền hạn của các trường bồi dưỡng các bộ ngành - Xây dựng quy hoạch, chiến lược, kế hoạch phát triển Trường theo yêu cầu phát triển nguồn nhân lực (công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức), trình Bộ trưởng Bộ quyết định và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt. - Về đào tạo, bồi dưỡng: + Xây dựng, đề xuất với cấp có thẩm quyền chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ngành, lĩnh vực, tổ chức thực hiện theo phân công của Bộ; + Tổ chức hoặc tham gia với các đơn vị liên quan biên soạn và lựa chọn giáo trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ngành Công Thương theo quy định của Bộ và quy định của pháp luật; + Phối hợp với các đơn vị có liên quan thuộc Bộ xây dựng kế hoạch: đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; kinh phí hoạt động của Trường cho các nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng hàng năm trình Bộ quyết định và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt; + Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành theo vị trí việc làm, theo tiêu chuẩn ngạch công chức (cán sự, ngạch chuyên viên, chuyên viên chính và tương đương), theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp phòng thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật; + Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, quản trị doanh nghiệp thuộc ngành theo quy định của pháp luật; 10 + Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng hành chính và kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ ngành cho cán bộ, công chức, viên chức ngành + Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản, nâng cao và chuyên sâu về hội nhập kinh tế quốc tế cho cán bộ, công chức, viên chức bộ ngành (bao gồm cả hình thức kết hợp ở trong nước và ngoài nước) theo quy định của pháp luật; + Phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức đối với công chức, viên chức trong thời gian tập sự và bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thuộc diện quy hoạch cán bộ; + Tổ chức các lớp tập huấn, cập nhật kiến thức, pháp luật, các quy định có liên quan quản lý nhà nước của bộ, ngành, bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, kiến thức khác cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; + Chủ trì hoặc tham gia nghiên cứu, điều tra, khảo sát, đánh giá nhu cầu, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thuộc Bộ, ngành theo quy định; + Phối hợp với Học viện Chính trị Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính quốc gia tổ chức đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch chuyên viên cao cấp cho các đối tượng công chức, viên chức bộ ngành; + Hợp tác đào tạo, đào tạo lại, nâng cao trình độ, chuẩn hóa về chuyên môn nghiệp vụ, đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành cho công chức, viên chức, người lao động theo quy định của pháp luật; + Hoạt động giáo dục và thực hiện chương trình giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên theo quy định của pháp luật, khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; + Thực hiện quản lý và cấp chứng chỉ, giấy chứng nhận tốt nghiệp cho người học, sau khi tốt nghiệp cấp học, trình độ đào tạo, bồi dưỡng sau 11 khi hoàn thành một chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành, và quy định của pháp luật.

Trường có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước và ngân hàng theo quy định của pháp luật. Viên chức các Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các bộ ngành 1. Khái niệm viên chức các Trường Đào tạo, Bồi dưỡng các bộ ngành Trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức các bộ ngành là một đơn vị sự nghiệp công lập, trực thuộc các Bộ ngành, do vậy viên chức của nhà trường phải thỏa mãn các yêu cầu theo quy định của Luật Viên chức Theo quy định tại Điều 2 Luật Viên chức số 58/2010/QH12: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [2, tr. Theo quy định tại khoản 1, Điều 9 của Luật Viên chức số 58/2010/QH12, viên chức phải là những người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩmquyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” [2, tr.

Từ quy định nói trên, có thể đưa ra cách hiểu về viên chức các Trường Đào tạo, Bồi dưỡng các bộ ngành như sau: Viên chức các Trường Đào tạo, Bồi dưỡng các bộ ngành là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm tại các Trường Đào tạo, Bồi dưỡng các bộ ngành, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo các quy định của pháp luật. Đặc điểm viên chức các Trường Đào tạo, Bồi dưỡng các bộ ngành Viên chức trong trường ĐTBD có những đặc điểm chung của viên chức đồng thời có những đặc điểm riêng của đối tượng này. Viên chức trong trường ĐTBD bao gồm đội ngũ các nhà khoa học, giảng viên, viên chức quản lý và những chuyên viên làm việc tại các phòng ban, đơn vị trực thuộc của các trường ĐTBD. Viên chức của trường ĐT, BD cán bộ công chức bao gồm những người lãnh đạo trường, lãnh đạo các ban khoa và phòng ban, trong đó đội ngũ trong đó chủ yếu là giảng viên chiếm (55% trên tổng số người làm việc tại trường), công việc của họ có ảnh hưởng đến sự phát triển của nhà trường Thứ nhất, về đội ngũ giảng viên Theo luật giáo dục được quốc hội thông qua 14/6/2005 ( được sửa đổi bổ sung năm 2009) thì nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục trường ĐTBD.

Xét về nghề nghiệp, giảng viên là những người làm công tác giảng dạy (lý thuyết và thực hành) được hiểu là chức vụ và phân công tác giảng dạy hoặc cán bộ khoa học làm trong giờ hay ngoài giờ tham gia dạy theo chế độ kiêm nhiệm. khái quát nhất giảng viên là được hiểu là viên chức chuyên môn đảm nhiệm về việc giảng dạy và đạo tạo. Nhiệm vụ của giảng viên được xác định trên hai phương diện: nhiệm vụ của viên chức cụ thể: giảng viên thực hiện công tác đào tạo giảng dạy, quy định của pháp luật và điều lệ của nhà trường giữ gìn phẩm chất, danh dự và uy tín của nhà giáo, tôn trọng nhân cách người học, bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của người học không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, đối với phương pháp giảng dạy, nêu gương cho người học. Giảng viên với tư cách là người làm nhiệm vụ giảng dạy trong các trường bồi dưỡng các bộ ngành mỗi 1 loại hình đào tạo có có những đặc thù riêng gồm: giảng dạy được phân giáo trình hay giáo trình môn học được phân công, tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học chủ yếu ở cấp khoa và cấp 13 trường; thực hiện đầy đủ các quy định về chuyên môn và nghiệp vụ theo quy chế của trường; thực hiện đày đủ các quy định về chuyên môn và nghiệp vụ theo quy chế các trường, tham gia quản lý đào tạo nếu có yêu cầu; chủ nhiệm lớp chỉ đạo viết đề án, bài tập tình huống.

Vì vậy so với giảng viên đại học thì giảng viên trường ĐTBD cần rất nhiều thời gian tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, sinh hoạt học thuật, trao đổi khoa học, tham dự các hội thảo hội nghị, các buổi tọa đàm, các hoạt động thực tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ