MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn ca lâm sàng Theo một thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization — WHO) (WHO, 2014): Tự sát được định nghĩa là hành vi cố ý kết thúc cuộc sống của mình. Nó không chỉ là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng ở các nước phát triển; trên thực tế, hầu hết các vụ tự sát xảy ra ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, nơi các nguồn lực và dịch vụ, nếu có, thường khan hiếm và hạn chế dé xác định sớm, điều trị và hỗ trợ những người cần giúp đỡ. Tự sát có thé ngăn ngừa được, mặc dù vậy, cứ sau 40 giây lại có một người chết vì tự sát ở đâu đó trên thế giới và nhiều người khác đã cố gắng tự sát.
Tự sát xảy ra ở tất cả các khu vực trên thế giới và trong suốt cuộc đời. Đáng chú ý, trong giới trẻ 15-29 tuổi, tự sát là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư trên toàn cầu. Tự sát tác động đến những người dé bị tổn thương nhất trên thế giới và rất phd biến ở các nhóm xã hội vốn đã bị gạt ra bên lề và bị phân biệt đối xử. Những sự thật nổi bật này và việc thiếu các biện pháp can thiệp kịp thời được triển khai khiến tự sát trở thành một vấn dé sức khỏe cộng đồng toàn cầu cần được giải quyết cấp bách.
Một thống kê tỉ lệ tự sát ở California năm 2023 cho biết, một trong số những nhóm dân số có tỷ lệ tự sát cao nhất đó là người lớn và thanh thiếu niên LGBT+, đặc biệt nam giới có tỉ lệ tự sát cao gấp 3,7 lần so với nữ giới (Golenkova, 2023). Theo một cuộc khảo sát từ dự án Trevor (2021), 45% thanh niên LGBT+ nghiêm túc cân nhắc việc tự sát, 60% thanh niên LGBT+ muốn được chăm sóc sức khỏe tâm thần đã không thé nhận được, 73% thanh niên LGBT+ cho biết có các triệu chứng lo âu và 58% cho biết có các triệu chứng trầm cảm. Những người được xác định là đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính sử dụng các dịch vụ sức khỏe tâm thần thường xuyên hơn những người dị tính, tuy nhiên, còn khá ít thông tin về hiệu quả của các dịch vụ sức khỏe tâm thần dành cho cộng đồng LGBT+ (Pachankis, 2014). Đặc biệt với vấn đề hành vi tự sát ở cộng đồng LGBT+, mặc dù đã có rất nhiều báo cáo về nguy cơ tự sát xác định những thanh niên đồng tính nam và song tính là nhóm có nguy cơ nhưng có rât ít thông tin vê các yêu tô rủi ro và cách thức can thiệp, hỗ trợ có mục tiêu, chiến lược phòng ngừa hoặc chính sách y tế công cộng dé giảm nguy cơ tự sát trong cộng đồng (Haas và cộng sự.
Các nghiên cứu về người đồng tính và chuyên giới ở Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây khá phổ biến đã cho thấy, khi họ bị xã hội, gia đình, bạn bè kỳ thị, phân biệt đối xử và đặc biệt phải đối mặt với bạo lực trong gia đình và ngoài xã hội đã dẫn đến những tốn thương tâm ly vô vùng nghiêm trọng như tram cảm, lo âu thậm chí là có ý tưởng tự sát hoặc hành vi tự sát (Phạm Thu Hoa, Đồng Thị Yến, 2015). Van dé tu sát cần được xem xét với nhiều bình diện khác nhau, có su do lường và đánh giá chính xác dé có quá trình hỗ trợ tốt nhất. Ứng phó ý tưởng tự sát là mục tiêu quan trọng cho các nỗ lực ngăn ngừa tự sát, đặc biệt là một chỉ số để phát hiện và can thiệp sớm nhằm tránh hoặc giảm các kết cục không gây tử vong và tử vong (Biischer và cộng sự. Do đó việc can thiệp cho một trường hợp đồng tính nam có ý tưởng tự sát là một ca lâm sàng dién hình và cần thiết, những thông tin trong nghiên cứu này cũng có thể nâng cao sự hiểu biết, cung cấp thông tin cách hỗ trợ và giúp đỡ cho cộng đồng LGBT+.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu lý tuận: tổng quan tài liệu, trình bay cơ sở lý luận về ý tưởng tự sát ở người đồng tính nam; xác định các khái niệm, phương pháp đánh giá, chân đoán và can thiệp hỗ trợ tâm lý cho người đồng tính nam có ý tưởng tự sát. - Nghiên cứu thực tiễn: thực hiện đánh giá va can thiệp tâm lý với khách thé là người đồng tính nam có ý tưởng tự sát, đưới sự giám sát của giảng viên hướng dẫn. - Đánh giá tiến trình thực hiện và hiệu qua can thiệp dé từ đó đưa ra kết luận và khuyến nghị cho ca lâm sàng. CHUONG 1: CƠ SỞ LY LUẬN VE Ý TUONG TỰ SAT Ở NGƯỜI DONG TÍNH NAM 1.
Tổng quan nghiên cứu về ý tưởng tự sát ở người đồng tính nam 1. Nghiên cứu dịch té Theo thông tin cập nhật từ Tổ chức y tế thế giới (WHO, 2023), tự sát là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 15, chiếm 1,4% tổng số ca tử vong trên toàn thế giới.000 người chết vì tự sát mỗi năm. Tỉ lệ tử vong chuan hoá theo độ tuổi toàn cầu hang năm vào năm 2012 được ước tính là 11,4 trên 100.000 và WHO (2014) dự đoán tỉ lệ này sẽ duy trì én định đến năm 2030. Bên cạnh những cái chết do tự sát, ý tưởng tự sát và những nỗ lực tự sát không gây tử vong cũng cần được chú ý, Y tưởng va nỗ lực tự sát là dấu hiệu dự đoán rõ ràng về những cái chết do tự sát.
Trên toàn cầu, tỷ lệ phô biến trong đời là khoảng 9,2% đối với ý tưởng tự sat và 2,7% đối với cố gang tự sát (Nock và cộng sự, 2008). Khảo sát quốc gia về sử dụng ma túy và sức khỏe National Survey on Drug Use and Health (NSDUH, 2018) cho thay ty lệ của ca ba hành vi liên quan dén tu sát - suy nghĩ, kế hoạch, nỗ lực - thường cao hon ở những người trưởng thành đồng tính nữ, đồng tính nam và lưỡng tính so với những người trưởng thành dị tính. Sau khi tính đến các yếu tố nhân khẩu học, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng nguy cơ tự sát ở người lớn đồng tính nữ, đồng tính nam và song tính cao hơn từ 3 đến 6 lần so với người trưởng thành dị tính ở mọi nhóm tuổi và chủng tộc/sắc tộc. Trong số những người đồng tính nam và song tính nam, có khoảng 12% đến 17% người đã từng nghĩ đến việc tự kết liễu đời mình trong năm qua, trong đó có khoảng 5% người đã lên kế hoạch tự sát và khoảng 2% người đã có ý tưởng tự sát, kết quả này cũng cho thấy không có sự khác biệt về nguy cơ tự sát theo chủng tộc/sắc tộc (Ramchand và cộng sự, 2022).
Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng những cá nhân thuộc nhóm LGBT+ có nguy cơ cao xuất hiện ý tưởng tự sát và cố gắng tự sát là một kết quả dường như không có sự khác biệt trên toàn thế giới (Figueiredo & Abreu, 2015). Các nghiên cứu tại Trung Quốc về nam giới có hành vi tình dục đồng giới (men who having sex with men — MSM) chi ra rằng nam giới có bạn tình đồng giới có nguy cơ tự sát cao hơn nam giới có bạn tình khác giới (Mu và cộng sự, 2016). Có 19 nghiên cứu với tổng số 26.667 MSM được thu nhận, trong đó 9374 người được xác định có ý tưởng tự sát. Phân tích cho thấy tỷ lệ suy nghĩ tự sát suốt đời của MSM là 33,2%, cao hơn đáng kể so với ty lệ của dân số chung.
Tỷ lệ này cũng được phát hiện cao hơn ở MSM đã trải qua sự phân biệt đối xử, có quá khứ bị lạm dụng tình dục hoặc có địa vị kinh tế xã hội thấp hơn. Nghiên cứu kết luận rằng tỷ lệ suy nghĩ tự sát cao của MSM nhân mạnh đáng kề tầm quan trọng của việc đánh giá sớm ý tưởng tự sát ở nhóm MSM, cũng như nhu cầu tăng cường các biện pháp can thiệp tâm lý (Luo và cộng sự, 2017). Nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ và các yếu tố bảo vệ Quan điểm khoa học hiện nay về tự sát cho rằng, mặc dù phức tạp, nhưng tự sát là một sự kiện liên quan đến sức khỏe bao gồm một loạt các yếu tố văn hoá, đi truyền, môi trường và tâm lý xã hội. Nghiên cứu về tự sát và hành vi tự sát của Turecki và Brent (2016) chỉ ra rằng hành vi tự sát có sự khác biệt về giới tính, nhóm tuổi, khu vực địa lý và bối cảnh chính trị xã hội, đồng thời có liên quan khác nhau với các yêu tô nguy cơ khác nhau, từ đó cho thấy sự không đồng nhất về căn nguyên.
Theo thống kê của trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC, 2023), danh sách các yếu tố nguy cơ bao gồm: - Các yếu tố cá nhân: nỗ lực tự sát trước đó; tiền sử bệnh tram cảm và các bệnh tâm thần khác; bệnh mãn tính; phạm pháp; nghiện chat; các rủi ro hoặc mat mát về công việc, tài chính; xu hướng bốc đồng hoặc hung hang; trải nghiệm tổn thương thời thơ ấu; cảm giác tuyệt vọng; nạn nhân hoặc tội phạm các hình thức bạo lực, lạm dụng. - Các yếu tố trong mối quan hệ: bắt nạt; có người thân tự sát; mat mát mối quan hệ; xảy ra xung đột hoặc bạo lực; cô lập xã hội. - Các yêu tố cộng đồng: thiếu cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ; lây lan hành vi tự sát trong cộng đồng; thiếu thích nghi xã hội; kỳ thị, bạo lực cộng đồng; phân biệt đối xử; trải qua sang chan như chiến tranh, thiên tai. - Các yếu tố môi trường, xã hội: kỳ thị liên quan đến việc tìm kiếm sự giúp đỡ về mặt tâm lý và tâm thần; dễ dàng tiếp cận các phương tiện có thể gây tử vong ở người có nguy cơ; truyền thông các thông tin không an toàn liên quan đến tự sát.
Sự hiện diện của rồi loạn tâm thần là một yếu tố nguy cơ quan trọng dẫn đến tự sát. Người ta thường thừa nhận rằng hơn 90% những người tự sát đã được chân đoán tâm than vào thời điểm chết (Ritchie et al. Trong nghiên cứu của O’Conno va Nock (2014), các yếu tố tâm lý liên quan đến tự sát bao gồm su tuyệt vọng, cảm giác bat lực và cảm giác cô đơn, đặc biệt là khi có các sự kiện cuộc sống gây stress. Nghiên cứu cũng đề cập đến việc các hành vi và suy nghĩ về tự sát có thé là một cách dé giải quyết tạm thời những van dé tâm lý đang gặp phải.