Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm nhân lực và nhân lực y tế 1. Khái niệm “Bất kỳ tổ chức nào cũng được hình thành bởi các thành viên là con người hay nguồn nhân lực của nó. Do đó, có thể nói nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn nhân lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thể lực và trí lực” [20].
Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa về nhân lực y tế: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nâng cao sức khỏe” [43]. “Theo đó NLYT bao gồm những người cung cấp DVYT, người làm công tác quản lý và các nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp DVYT. Nó bao gồm cán bộ y tế chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người CSSK gia đình, lang y, …); kể cả những người làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp)” [9]. Thực trạng nguồn nhân lực y tế thế giới Theo WHO (2006) ước tính có khoảng 59,2 triệu nhân viên y tế trên toàn thế giới (Bảng 1.1), những người này đang làm việc tại những cơ sở y tế mà nhiệm vụ chính là cải thiện sức khỏe (như các chương trình y tế hoạt động bởi các tổ chức chính phủ và phi chính phủ) và những nhân viên y tế trong các cơ sở không phải y tế (như nhân viên trong các công ty, trường học).
Người cung cấp DVYT chiếm 2/3 tổng số nguồn nhân lực y tế toàn cầu, trong khi 1/3 còn lại là những người quản lý và nhân viên khác. Có khoảng 70% bác sĩ là nam và hơn 70% điều dưỡng là nữ, khoảng 2/3 NVYT làm việc trong các cơ sở y tế nhà nước và 1/3 làm việc trong các cơ sở tư nhân [9].1: Nguồn nhân lực y tế thế giới Người quản lý và Người cung cấp Tổng số nhân viên hỗ trợ DVYT Khu vực theo khác WHO Mật % tổng % tổng Số lượng độ/1000 Số lượng số Số lượng số dân số NVYT NVYT Châu Phi 1.000 25 Đông Đông Nam Á 7.000 33 Tây Thái Bình 10.000 23 Dương Châu Âu 16.000 43 Tổng cộng 59.000 33 Nguồn: WHO report 2006 [43] Theo ước tính của WHO 57/192 quốc gia thiếu hụt nhân viên. Cần phải có thêm 4,3 triệu NVYT, trong đó có 2,4 triệu BS, ĐD, nữ hộ sinh để đáp ứng nhu cầu về y tế (Bảng 1.2: Số lượng bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh thiếu hụt theo các vùng của WHO (2006) Số quốc gia Số thiếu hụt NVYT Vùng theo WHO Tổng Số thiếu Số Ước tính Tỷ lệ số hụt NVYT hiện có thiếu hụt % Châu Phi 46 36 590.001 50 Châu Âu 52 00 - - - Trung cận Đông 21 07 312.301 98 Tây Thái Bình Dương 27 03 27.560 119 Tổng cộng 192 57 3.470 70 Nguồn: WHO report 2006 [43] Mặt khác, NVYT phân bố không đồng đều giữa các quốc gia. Những quốc gia có nhu cầu tương đối thấp lại có số lượng NVYT rất cao, trong khi đó những quốc gia với gánh nặng bệnh tật lớn phải giải quyết vấn đề với nguồn nhân lực ít hơn.
Châu Mỹ chỉ có 10% gánh nặng bệnh tật của Thế giới, nhưng chiếm đến 37% NVYT thế giới và 50% chi tiêu y tế toàn cầu. Trái lại, Châu Phi chịu hơn 24% gánh nặng bệnh tật nhưng chỉ chiếm 3% nguồn nhân lực và có ít hơn 1% chi tiêu y tế toàn cầu [43]. Thực trạng nhân lực y tế tại Việt Nam Theo báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2013, “số lượng NVYT tiếp tục được cải thiện. Số y sĩ, BS trên 1 vạn dân tiếp tục tăng lên và đạt 13,3 vào năm 2011, riêng số BS trên 1 vạn dân tăng từ 7,33 năm 2011 lên 7,46 năm 2012 (đạt mục tiêu đề ra cho năm 2012 trong kế hoạch 5 năm).
Số dược sĩ đại học trên 1 vạn dân năm 2011 đạt 1,92 (vượt mục tiêu đề ra cho năm 2015 trong kế hoạch là 1.8/vạn dân); số lượng ĐD trên 1 vạn dân cũng tăng (đạt 10,02 năm 2011). Số lượng cán bộ y tế ở tuyến cơ sở cũng tăng lên là một kết quả đáng ghi nhận. So với 7 năm 2010, số lượng nhân lực y tế tuyến xã năm 2011 tăng thêm 3549 cán bộ (trong đó 346 BS) và tuyến huyện tăng thêm 6878 cán bộ trong đó (585 BS). Năm 2012, tỷ lệ trạm y tế (TYT) xã có BS đạt 76,0% tăng lên 6 điểm phần trăm so với năm 2010; tỷ lệ TYT xã có y sỹ sản nhi, hộ sinh đạt 93,4% (giảm xuống nên không đạt kế hoạch đề ra).
Số thôn, bản, ấp thuộc xã, thị trấn có NVYT hoạt động được duy trì ở mức trên 96% từ năm 2009 đến năm 2012, nhưng do sự suy giảm tỷ lệ tổ dân phố khu vực thành thị có NVYT hoạt động nên tỷ lệ thôn, bản, tổ dân phố có NVYT hoạt động chỉ đạt 81,2%” [10]. “Mặc dù đã có những thay đổi tích cực trong việc tăng cường số lượng nguồn NLYT nói chung và nguồn NLYT cho y tế cơ sở nói riêng, nhưng trên thực tế vẫn còn nhiều khó khăn trong phát triển nguồn nhân lực. Tình trạng thiếu hụt NLYT nói chung và nhân lực có trình độ là BS ở truyến cơ sở, cũng như nhân lực y tế dự phòng vẫn còn là vấn đề đáng lo ngại. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Chiến lược và chính sách y tế tiến hành tại 4 tỉnh, tình trạng biến động cán bộ tại tuyến huyện, xã là một vấn đề cần phải quan tâm.
Số cán bộ nghỉ việc, chuyển đi ở các cơ sở tuyến huyện (BV huyện, trung tâm y tế huyện) bằng 50% tổng số cán bộ y tế mới tuyển dụng, ở tuyến xã số đối tượng nghỉ việc, chuyển đi bằng 30% số đối tượng mới tuyển. Nhiều BV huyện, trung tâm y tế huyện nhiều năm không tuyển được BS nào trong khi số lượng cán bộ dịch chuyển tới nơi khác vẫn tiếp diễn. Lý do dịch chuyển cán bộ ở tuyến xã chủ yếu là điều chuyển công tác lên tuyến huyện” [10]. “Kết quả của một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số các yếu tố gây nên sự kém thu hút cán bộ y tế tuyến cơ sở, trong đó thu nhập thấp và điều kiện làm việc không bảo đảm do thiếu trang thiết bị là 2 nguyên nhân chủ yếu làm cho các cán bộ y tế nói chung đặc biệt là BS không muốn làm việc tại tuyến huyện, xã” [10].
Trong Báo cáo tổng quan chung ngành y tế năm 2014 cũng đã chỉ ra một số khó khăn, hạn chế liên quan đến tình hình NLYT Việt Nam: “Nhân lực y tế công tác trong lĩnh vực bệnh không lây nhiễm được đánh giá là còn yếu, thiếu và không đồng bộ. Báo cáo của các dự án phòng chống bệnh không lây nhiễm đều đề cập đến sự thiếu hụt này. Nguyên nhân là do một số chuyên ngành như nội tiết chuyển hóa chưa có các khóa đào tạo sau đại học, hoặc một số chuyên ngành (như chuyên 8 ngành tâm thần) chưa được nhiều học viên lựa chọn. Đội ngũ BS có năng lực chẩn đoán và điều trị tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng và các cơ sở y tế trung ương.
Năng lực của đội ngũ cán bộ y tế tuyến tỉnh hạn chế do họ ít được đào tạo và được chuyên gia có kinh nghiệm hướng dẫn. Cán bộ y tế ít hiểu biết về bệnh không lây nhiễm” [11]. “Các chế độ chính sách ưu tiên cho cán bộ y tế nói chung và các khu vực, lĩnh vực khó khăn đã được ban hành nhưng vẫn còn bất cập. Mức độ ưu tiên chưa đủ hấp dẫn để cán bộ y tế sẵn sàng chấp nhận các khó khăn về điều kiện làm việc, điều kiện sống của bản thân và gia đình.
Đối với những người nằm trong phạm vi áp dụng của hai loại chế độ ưu tiên trở lên cũng chỉ được hưởng một mức ưu tiên cao nhất. Vì vậy, với mức ưu đãi lớn nhất là thêm 70% lương và phụ cấp, cũng chưa đủ để khuyến khích cán bộ y tế có năng lực nhận công tác tại các khu vực và lĩnh vực khó khăn. Điều này thể hiện rõ nét qua tình trạng thiếu hụt nhân lực ở chuyên khoa Tâm thần, là một chuyên khoa có thu nhập ngoài lương kém so với các chuyên khoa khác” [11]. Qua các số liệu về tình hình nhân lực y tế thế giới và ở Việt Nam cho thấy có sự thiếu hụt nghiêm trọng, chính điều này làm tăng khối lượng công việc, tăng áp lực công việc trong khi các yếu tố về chế độ đãi ngộ, thu nhập chưa được cải thiện nhiều, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới động lực làm việc của NVYT.
Quản trị nhân lực 1. Khái niệm Quản trị nhân lực “Có nhiều cách hiểu về Quản trị nhân lực (QTNL) (còn gọi là Quản trị nhân sự, Quản lý nhân sự, Quản lý nguồn nhân lực). Khái niệm QTNL có thể được trình bày ở nhiều góc độ khác nhau. Song dù ở giác độ nào thì QTNL vẫn là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về số lượng và chất lượng.
Thực chất của QTNL là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ một tổ chức, là đối xử của tổ chức với người lao động. Nói cách khác, QTNL chịu trách nhiệm đưa con người vào tổ chức giúp họ thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề phát sinh” [20]. Tổng quan chính sách của Nhà nước, Bộ Y tế liên quan đến nguồn nhân lực Trong những năm qua Quốc Hội, Chính phủ, Bộ Y tế đã ban hành, sửa đổi một số văn bản chính sách quy định về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền hạn và chế độ của người lao động: Bộ Luật Lao động; Luật Cán bộ, Công chức; Luật Viên chức; Luật Bảo hiểm Xã hội; Luật Thi đua Khen thưởng, quy chế bệnh viện, …. Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BNV-BYT ngày 05/06/2007 hướng dẫn định mức biên chế trong các cơ sở y tế nhà nước.