Chương I TONG QUAN LY THUYET |. CHAT LUQNG NUGC VA NGUON Ô NHIÊM NGUÒN NƯỚC. Chất lượng nước và nhu cầu đánh giá chất lượng nước Tài nguyên nước là thành phần thiết yếu của môi trường sống, là yếu tố không thể tách rời đối với sự sống, phát triển của con người và sinh vật. Nguồn nước do thiên nhiên ban tặng là vô cùng phong phú, khó bị mắt đi nhưng chất lượng.
nước sử dụng đang có nguy cơ suy giảm do việc sử dụng chưa hợp lý của con người. Việt Nam có hệ thống sông, suối nhiều. điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý: tạo nguồn tài nguyên nước dồi dào từ nước mặt, nước ngầm và lượng mưa đáng kể hằng năm. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên va Mé trường, Việt Nam có 3450 sông, suối với chiều đài từ 10 km trở lên.
Các sông suối này nằm trong 108 lưu vực. sông được phân bố và trải dài trên cả nước với tổng diện tích trên 1167 triệu kmẺ. Tổng lượng nước mặt trung bình năm của Việt Nam khoảng 830 ti m’, Tuy nhiên, khoảng 63% nguồn nước mặt của Việt Nam (tương ứng với 520 ty m’) có nguồn gốc ở ngoài biên giới quốc gia, chỉ có gần 310 tỉ m` mỗi năm được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam [2] Hiện nay nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt. Nguy cơ thiếu nước, đặc biệt là nước ngọt và sạch là một hiểm họa lớn đối với sự tồn vong của con người cũng như toàn bộ sự sống trên Trái đất.
Do đó con người cần phải nhanh chóng có các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước đặc biệt trong khung cảnh biến đổi khí hậu. Để đánh giá chất lượng nước cũng như mức độ gây ô nhiễm nước, có thể dựa vảo một số chỉ tiêu cơ bản và quy định giới hạn của từng chỉ tiêu đó theo Luật bảo vệ môi trường của một số quốc gia hay tiêu chuẩn quốc tế quy định cho từng loại nước sử dụng theo mục đích khác nhau. Để phân tích chất lượng nước ta cần phải phân tích các thông số CLN. Dựa vào bản chất các thông số CLN, người ta chia các thông số CLN thành các nhóm: thông số vật lý, thông số hóa học, các thông số vi sinh [18], [26] Các thông sổ vật lý: màu s mùi, nhiệt độ (Tem), tổng chất rin (TS), tổng.
chất rắn hòa tam (TDS), độ đục (TUR), độ dẫn dign (EC), Các thông số hóa học: các thông số hóa học có thể chia thành các thông số đặc trung cho chất hữu cơ và các thông số đặc trung cho chất vô cơ: ~ Các thông số đặc trưng cho chất hữu cơ: Nhu cầu oxi sinh hóa (BOD), nhu cầu oxi hóa học (COD), tổng eacbon hữu cơ (TOC), các hợp chất phenol, céc hoa chất bảo vệ thực vật ~ Các thông số đặc trưng cho chất vô cơ: độ cứng, độ mudi (Sal), pH, nitrat (NO;), nitit (NO;”), amoni (NHạ/ NH,`), photphat (PO,), sunfat (SO,”"), các kim loại độc (Cd”, Cu", Pb", Hg",.), Các thông số vi sinh: tong coliform (TC), coliform phân (FC) hoặc Escherichia coli (E. li những thông số cho biết sự ô nhiễm vi khuẩn có nguồn gốc phân Ngoài cách phân chia trên, người ta cũng có thể dựa vào khoảng nng độ của các chất có mặt trong nước để chia các thông số CLN thành các nhóm như sau: Các cấu tử chính (nồng độ cỡ 10 + 100 ppm): BOD, COD, DO, TOC, độ. cứng, độ kiềm, TDS, SS, độ mặn. Các ion thường gặp (nồng độ cỡ I + 10 ppm): NO,,, NO;, NH,”, PO,*, F, SO, Các cấu tử lượng vết (nồng độ cỡ ppb + Ippm): các kim loại độc (Cd”, Cu”, Pb”, Ni”, As'".), các hóa chất bảo vệ thực vật (nhóm DDT, nhóm HCH, aldrine,.) Các cấu tử siêu vết (nồng độ nhỏ hơn ppb) Hg", PCBs, dioxins, furans, lượng các thông số chất lượng nước là rất lớn nên nếu phân tích tất cả các thông số thì sẽ gặp khó khăn về nhiều mặt: kinh tế, thời gian, nhân lực,.
Do đó tùy thuộc vào nguồn nước và mục đích phân tích mà người ta thường lựa chọn số lượng. thông số CLN cần thiết để phân tích. Ô nhiễm nước và các nguồn gây ô nhiễm. Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy 10 hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật muôi và các loài hoang đã" Có hai nguyên nhân gây ra ô nhiễm nước, một là các hiện tượng bắt thường, của tự nhiên, sự khắc nghiệt của thời tiết, khí hậu (mưa, tuyết, gió bão, lũ lụt,.), hai là từ các hoạt động sinh tồn của con người.
Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên có. thể rất nghiêm trọng nhưng không thường xuyên nên không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái CLN toàn cầu. Các nguồn gây ô nhiễm nước chủ yếu xuất phát từ nguyên nhân thứ bai: quá trình sinh hoạt và hoạt động sản xuất của con người tạo nên (công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải. Người ta chia các nguồn ô nhiễm nước thành hai loại là nguồn điểm và nguồn không điểm [14], [32] Nguén diém (point sources): là nguồn gây ô nhiễm có thể xác định được vị trí, lưu lượng, đặc điểm và tính chất của nó.
Các nguồn điểm được chia thành 3 loại như sau: Nước thải sinh hoạt (domestic wastewater) nước thải sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình, khách sạn, cơ quan, trường học, chứa các chất thải từ các quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người. Thành phần cơ bản của nước thải sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bi phân hủy sinh học (cacbonhidrat, protein.) chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất thải rắn và vi trùng. Tùy theo mức sống mà lượng nước thải cũng như tải lượng các chất ô nhiễm là khác nhau. Nhìn chung mức sống càng cao.
thì lượng nước thải và tải lượng thải các chất ô nhiễm càng cao. Nước thải đô thị (municipal wastewater): Nước thải đô thị là nước thải tạo thành do sự gộp chung nước thải sinh hoạt, nước thải vệ sinh và nước thải của các cơ sở thương mại, dich vụ (khách sạn, nhà hàng, bệnh viện.), cơ sở sản xuất nhỏ trên địa bàn. Nước thải đô thị thường thu gom vào hệ thống cống thải thành phố, đô. thị để xử lý chung.
Thông thường các đô thị lớn có các hệ thống cống thải và khoảng 70% đến 90% tổng lượng nước sử dụng sẽ trở thành nước thải đô thị cháy vào đường cống [21]. Nhin chung thành phẩn của nước thải đô thị cũng tương tự nước thải sinh hoạt Do chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học nên khi được nguồn tiếp nhận, nước thải sinh hoạt và nước thải đô thị sẽ tiêu thụ oxi hòa tan trong nước, làm suy giảm lượng oxi hòa tan trong đó. Mặt khác, do chứa nhiều chất dinh dưỡng chúng. tạo điều kiện cho rong tảo phát triển, gây hiện tượng phú dưỡng.
Tắt cả các nguyên. nhân trên làm suy giảm chất lượng nước, nơi tiếp nhận nguồn nước thải này. Nude thai cong nghiép (industrial wastewater): Nuéc thai công nghiệp phát sinh từ các khu chế xuất, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, nuôi trồng thủy sản,. Khác với nước thải sinh hoạt và nước thải đô thị, nước thải công nghiệp không có thành phần cơ bản giống nhau, mà phụ thuộc vào ngành sản xuất công nghiệp cụ thể.
Ví dụ: nước thải của các xí nghiệp sản xuất và chế biến thực phẩm (đường, sữa, thịt, tôm, cá, nước ngọt, bia.) chứa nhiều chất hữu cơ với hàm lượng cao; nước thải của các xí nghiệp thuộc da ngoài chất hữu cơ còn có các kim loại nặng, sunfua,. Nhìn chung, nước thải công. nghiệp thường chứa các chất ô nhiễm với nồng độ cao hơn nhiều nước thải sinh hoạt, nước thải đô thị và chứa nhiều chất ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường, sức khỏe con người, và các chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học. Trong nhiều trường hợp người ta tách riêng nước thải y tế và coi nó là nước thải nguy hại.
Nước thải từ các cơ sở y tế gồm nước thải từ các phòng phẫu thuật, phòng xét nghiệm, phòng thí nghiệm, các khu vệ sinh, các khu giặt là, từ việc làm vệ sinh phòng,. Nước thải y tế có khả năng lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh, nhất là đối với nước thải được xả ra từ những bệnh viên hay khoa truyền nhiễm, lây. Ngoài ra, nước thải y tế còn có thể chứa các phế phẩm thuốc, chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh, các đồngvị phóng xa. được sử dụng trong các quá trình chẳn đoán và điều trị bệnh [14], [21], [32] Nguôn không điểm (nguôn phân tán) ( non-point sources) là nguồn gây ô.
nhiễm không thế xác định được vị trí, lưu lượng, đặc điểm và chất của nó nước. chây tràn ở các khu đô thị, nước mưa bị ô nhiễm, nước mưa, nước lũ, Nước chảy tràn là nước mưa chảy qua các khu đô thị, các khu dân cư, các khu vực sản xuất, khai thác khoáng sản, các cánh đồng nông nghiệp, trại chăn muôi. kéo theo các chất căn bã, các chất dinh dưỡng thải vào sông, hỗ. Khối lượng và đặc điểm của nước chảy tràn phụ thuộc vào diện tích vùng mưa và khối lượng, 2 thanh phan chat 6 nhiém trén bé mat ving mua chiy qua.
Dac biét vao thời gian đầu. của trận mưa, thì nước mưa làm nhiệm vụ rửa bề mặt đô thị. Vì vậy sự ô nhiễm của. nước mưa có thể bằng hoặc lớn hơn nước thải đô thị rất nhiề u.
Nước chảy tran 1a yếu tố gây 6 nhiễm do thiên nhiên nên rất khó kiểm soát và xử lý [14], [21] 1. KHÁI QUÁT VỀ SÔNG GIANH 1.Vị trí địa lý Sông Gianh bắt nguồn từ Phu Cô Pi có tọa độ 17°49'20” wĩ độ Bắc và 105%41'30° độ kinh Đông với độ cao 1350 m. Đây là hệ thống sông lớn nhất tỉnh Quảng Bình. Nó là hợp lưu của 3 con sông vào loại trung bình của tỉnh: sông Rảo 'Nây, sông Rào Nan và sông Son (còn gọi là sông Troóc) [13], [19] Sông có chiều dài 15§ km, chiều rộng bình quân lưu vực 38,8 km, chiều dài lưu vực 121 km, lưu vực sông rộng 4680 km”, bao gồm hầu hết diện tích các huyện.
Tuyên Hóa, Minh Hoá, Quảng Trạch và một phẩn của huyện Bố Trạch. Mật độ sông suối trong lưu vực là 1,04 km/kmỶ. Sông có 16 phụ lưu cắp 1, 20 phụ lưu cấp2 và 10 phụ lưu cấp 3. Lưu vực sông có gần 26 km bờ biển và gần 100 km đường.