CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Nghiên cứu về họ Gừng (Zingiberaceae Lindl. Trên thế giới Van Rheede (1692) là người đầu tiên đã mô tả về Gừng (Zingiber officinale) bằng tên địa phương inschi trong tác phẩm Hortus Indicatorus Malabaricus [4], nhưng đến năm 1753, họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.) mới chính thức được phân loại bởi C. Linnaeus, ông đã mô tả và xếp 10 loài vào 4 chi của họ này [7].
Năm 1835, Lindley đã lấy tên chi Zingiber làm chi chuẩn để đặt tên cho họ Gừng là Zingiberaceae [8]. Từ đó đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.) trên thế giới, điển hình như công trình của P. Larsen và cs. Kress và cs.
Lamb và cs. Mới đây nhất, họ Gừng được công bố trên The Plant list gồm 52 chi với 1587 tên loài được chấp nhận [2]. Thành phần loài của họ Gừng ở các quốc gia trên thế giới cũng đã được các nhà khoa học nghiên cứu. Sirirugsa cho biết họ Gừng ở Bán đảo Đông Dương có 14 chi với 120 loài, Nepal có 11 chi với 35 loài và Malesia có 25 chi với 650 loài [9].
Wu và cs. Chong và cs. Ở Phillippines họ này đã được báo cáo gồm có 14 chi, 107 loài [12]; Lào có 15 chi, 104 loài [13]; Thái Lan có 26 chi và 300 loài [14]; Ấn Độ có 20 chi và khoảng 200 loài [15]; Mianma có 161 loài [16] và ở Malaixia có 18 chi và 160 loài [17]. Như vậy, Thái Lan, Trung Quốc và Ấn Độ là những quốc gia có sự đa dạng loài thuộc họ (Zingiberaceae) cao nhất, lần lượt là 300, 216 và 200 loài.
Năm 1908, Gagnepain ghi nhận ở Việt Nam có 13 chi và 63 loài trong “Zingiberaceae, Tổng hợp Thực vật Đông Dương” (Zingibéracées, Flore générale de l’Indo-Chine) [19]. Trong “Cây cỏ miền Nam Việt Nam”, Phạm Hoàng Hộ (1972) đã mô tả 19 chi với 45 loài [20]. Lê Khả Kế và cs. Đến năm 1993, Phạm Hoàng Hộ đã mô tả 22 chi, 116 loài và thứ trong “Cây cỏ Việt Nam” [22]; sau đó, trong bản tái bản của công trình này có bổ sung và chỉnh sửa vào năm 4 2000, tác giả cho biết họ Gừng ở Việt Nam có 22 chi, 118 loài và thứ [23].
Năm 2005, Nguyễn Quốc Bình ghi nhận họ Gừng có 18 chi với 131 loài [24]. Đến năm 2017, Nguyễn Quốc Bình đã mô tả 19 chi, 143 loài và thứ trong “Họ Gừng - Zingiberaceae Lindl., Thực vật chí Việt Nam” [3]. Bên cạnh các công trình nghiên cứu về phân loại, ở Việt Nam còn có các nghiên cứu về giá trị làm thuốc của các loài trong họ này. Năm 1991, Võ Văn Chi đã mô tả 12 loài thuộc 8 chi có ở An Giang được dùng làm thuốc chữa bệnh [25]; đến năm 1997, Võ Văn Chi đã mô tả trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam” 35 loài thuộc 10 chi có giá trị làm thuốc, trong đó các chi Riềng (Alpinia), Sa nhân (Amomum), Nghệ (Curcuma) là chủ yếu (22 loài) [26].
Trong “Cây thuốc Việt Nam, trồng, hái, chế biến, trị bệnh ban đầu”, tác giả Lê Trần Đức (1997) đã mô tả chi tiết cách trồng, hái và chế biến của 12 loài thuộc 5 chi của họ Gừng [27]. Trong bản xuất bản lần thứ XII năm 2004 của công trình “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Đỗ Tất Lợi đã mô tả 29 loài thuộc 9 chi, chủ yếu là Sa nhân (Amomum) - 10 loài và Riềng (Alpinia) - 7 loài được sử dụng làm thuốc [28]. Cũng năm 2004, Đỗ Huy Bích và cs. đã mô tả và giới thiệu 16 loài, 7 chi có giá trị làm thuốc [29].
Gần đây nhất là công trình của Võ Văn Chi (2012) trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam” đã giới thiệu 43 loài và thứ, thuộc 9 chi được sử dụng làm thuốc ở Việt Nam [30]. Các công trình tuy ít có ý nghĩa về phân loại học, nhưng nó đã cung cấp những thông tin quan trọng về giá trị sử dụng của những loài thuộc họ Gừng ở Việt Nam. Ở Bắc Trung Bộ, tính đa dạng về hệ thực vật, trong đó có các taxon họ Gừng đã nhận được nhiều sự quan tâm. Năm 2003, Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai Văn Phô công bố 18 loài thuộc 6 chi có ở VQG Bạch Mã [31].
Ở VQG Pù Mát, Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn (2004) ghi nhận 32 loài thuộc 7 chi [32]. Năm 2010, Đỗ Ngọc Đài và Lê Thị Hương ghi nhận 23 loài có ở Khu BTTN Xuân Liên [33]. Năm 2013, Đậu Bá Thìn và cs. cho biết có 11 loài thuộc 6 chi có ở Khu BTTN Pù Luông [34].
Võ Minh Sơn và cs. Ở VQG Vũ Quang được Lê Thị Hương và cs. Đậu Bá Thìn và cs. Năm 2018, Nguyễn Danh Hùng và cs.
đã xác định được 59 loài thuộc 12 chi có Khu BTTN Pù Hoạt [38]. 5 Từ đó cho thấy rằng, tính đa dạng của họ Gừng (Zingiberaceae) ở Việt Nam nói chung và ở Bắc Trung Bộ nói riêng gần đây đã và đang nhận được sự quan tâm lớn từ các nhà khoa học. Các báo cáo cho thấy, họ Gừng ở các VQG, Khu BTTN ở Bắc Trung Bộ có tính đa dạng khá cao. Ví dụ ở VQG Bến En, diện tích rừng chỉ chiếm 0,08% so với diện tích rừng của cả nước (11738.07 ha [39] so với 14,6 triệu ha), nhưng số loài họ Gừng tại đây chiếm tới 22,38% so với cả nước (32 loài [39] so với 143 loài); hay ở Khu BTTN Pù Hoạt, số loài họ Gừng chiếm 41,26% (59 loài [40] so với 143 loài) trong khi diện tích rừng chỉ chiếm 0,622% (90741 ha [40] so với 14,6 triệu ha) so với cả nước.
Nghiên cứu về thành phần loài của chi Gừng (Zingiber Boehm.) và chi Ngải tiên (Hedychium Koen. Chi Gừng (Zingiber Boehm. Trên thế giới Chi Gừng (Zingiber Boehm. Kể từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài của chi này; điển hình là công trình nghiên cứu về Hệ Thực vật Đông Dương của M.
Gagnepain, các công trình nghiên cứu về chi Gừng của I. Sabu, … Tính đến năm 2020, đã có khoảng 213 loài thuộc chi Gừng được miêu tả [44] và đã xác định được tính đa dạng về sự phân bố tại các vùng có khí hậu nhiệt đới ở Châu Á, châu Úc và Nam Thái Bình Dương, trong đó khu vực Đông Nam Á được ghi nhận có sự đa dạng thành phần loài là cao nhất [45]. Khu vực Đông Nam Á đặc trưng bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa quanh năm với lượng sông ngòi dày đặc, phù hợp với các đại diện chi Gừng thường mọc nơi đất mùn nóng ẩm, ưa bóng [3]. Thành phần loài trong chi Zingiber tại nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã được báo cáo.
Tại Thái Lan, P. Trboun và cs. (2014) đã mô tả thêm 10 loài mới [48], nâng tổng số loài thuộc chi Zingiber ở Thái Lan lên khoảng 77 loài. Số loài thuộc chi này được ghi nhận tại Lào là 25 loài [49].
Ardiyani và cs. Ở Ấn Độ có khoảng 35 loài [51]–[57]. Docot và cs. công bố 2 loài mới là Zingiber aguingayae và Zingiber subroseum, đồng thời cho biết tại Philippin hiện có 13 loài thuộc chi Zingiber, trong đó 9 loài đặc hữu và 4 loài được 6 đưa về trồng [58].
Và mới đây, R. Li và cs. (2020) đã công bố loài mới Zingiber natmataungense [60], nâng số loài ở Mianma lên 34 loài. Wang và cs.
Và gần đây nhất, H. Ding và cs. Từ đó cho thấy, Thái Lan (77 loài), Trung Quốc (54 loài) và Inđônêxia (45 loài và 6 thứ) là những quốc gia có sự đa dạng về loài Zingiber cao. Năm 1993, Phạm Hoàng Hộ đã mô tả 11 loài thuộc chi Gừng ở Việt Nam [63].
Bình và cs. đã bổ sung thêm 9 loài mới cho chi Zingiber ở Việt Nam [64]. Năm 2016 đã có thêm 1 loài mới cho khoa học là Zingiber skornickovae [65] và 1 loài bổ sung là Zingiber ottensii [66]. Năm 2017, Lý Ngọc Sâm và cs.
cho biết Việt Nam hiện có 32 loài, đồng thời công bố 1 loài bổ sung cho Hệ Thực vật Việt Nam là Zingiber nudicarpum [67]. Nguyễn Viết Hùng và cs. Như vậy, chi Gừng (Zingiber) ở Việt Nam có tính đa dạng khá cao, tính đến thời điểm hiện tại, số lượng loài trong chi Gừng ở Việt Nam tương đương với Ấn Độ, chỉ kém Thái Lan (77 loài), Trung Quốc (54 loài) và Inđônêxia (45 loài và 6 thứ). Ở Bắc Trung Bộ chưa có công trình nào mang tính hệ thống mà chỉ có các thống kê riêng lẻ về chi này, như: Đậu Bá Thìn và cs.
(2013) xác nhận có 2 loài ở Khu BTTN Pù Luông [34], Võ Minh Sơn (2015) ghi nhận 8 loài có ở Khu BTTN Pù Huống [35], Đậu Bá Thìn và cs. (2017) cho biết có 7 loài đã được ghi nhận tại VQG Bến En [37], Nguyễn Danh Hùng và cs. Điều này cho thấy, ở Việt Nam việc nghiên cứu tính đa dạng trong chi Gừng (Zingiber) đã và đang được quan tâm trong những năm gần đây. Tuy nhiên, ở Bắc Trung Bộ, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc báo cáo số lượng đơn lẻ ở các VQG, Khu BTTN, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện ở cả khu 7 vực.
Vì vậy, nghiên cứu về sinh học, sinh thái của chi Gừng (Zingiber) là vấn đề cần thiết, phù hợp với xu thế nghiên cứu thảm thực thực vật nhằm đánh giá một cách toàn diện về đa dạng thành phần loài thuộc chi Gừng (Zingiber) tại Bắc Trung Bộ. Chi Ngải tiên (Hedychium Koen. Trên thế giới Chi Ngải tiên (Hedychium Koen.), còn có tên gọi khác là hoa Gừng lily hay Bướm lily, bao gồm những loài có hoa đẹp và thơm nhất trong họ Gừng (Zingiberaceae Lindl. Chi Hedychium đầu tiên được Rumphius đặt tên là Gandasulinum, sau đó, Koenig đã đặt tên chính thức cho chúng là chi Hedychium vào năm 1783 [70].
Các đại diện của chi này thường phân bố ở các khu vực nhiệt đới, cận nhiệt đới, ôn đới của Châu Á và Madagascar [71], nhưng sự đa dạng loài tập trung cao nhất ở Himalaya [69]. Newman và cs. Ở Trung Quốc, chi này có khoảng 34 loài [73]–[76]. Wongsuwan ghi nhận có 21 loài và 6 thứ ở Thái Lan [77].
Thomas và cs. Kể từ đó đến nay đã có thêm 3 loài bổ sung và 2 loài mới được mô tả [79]–[82], nâng số loài chi Hedychium tại Ấn Độ lên 50. Tanaka và cs. đã công bố 4 loài bổ sung, 2 loài mới và cho biết tại Mianma có 22 loài thuộc chi Hedychium [83]; đến năm 2018, H.
Ding và cs. đã mô tả 1 loài mới Hedychium putaoense [71], tổng số loài thuộc chi Hedychium ở Mianma là 23 loài.