MỞ ĐẦU Từ xa xưa, tinh dầu đã được mệnh danh là báu vật của thiên nhiên. Con người đã phát hiện và biết cách sử dụng tinh dầu vào nhiều mục đích khác nhau như chữa bệnh, làm đẹp, chăm sóc da, giảm stress. Ngày nay, tinh dầu có nguồn gốc từ thiên nhiên và ngày càng được con người chú ý đến và ưa chuộng, vai trò của tinh dầu ngày càng trở nên thiết yếu hơn. Chúng được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm…Qua các công trình nghiên cứu cho thấy khi sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc thực vật, nó ít có tác dụng phụ có hại và đây là lí do quan trọng mà ngày nay các loại thuốc có nguồn gốc thiên nhiên ngày càng phát triển.
Việt Nam có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc phát triển nhiều loài thực vật khác nhau. Trong đó, cây rau má là một loài rất dễ trồng, rẻ tiền và có tiềm năng trong việc khai thác tinh dầu và các hợp chất quý khác nhưng hầu như nó chỉ được sử dụng như loại rau quen thuộc trong các bữa ăn hàng ngày của gia đình. Về mặt y học tinh dầu rau má có khả năng chữa một số bệnh thông thường, có tác dụng chống lão hóa da, cải thiện trí nhớ, chữa các bệnh ngoài da và mau lành vết thương và còn phòng chống ung thư. Trên Thế Giới, tinh dầu rau má đã được các nhà khoa học nghiên cứu từ rất lâu và đi cùng với sự tiến bộ về khoa học kĩ thuật, tinh dầu rau má càng được khai thác tốt hơn về tính quý và ứng dụng của chúng vào đời sống.
Mặt khác, ở Việt Nam rau má được trồng ở rất nhiều nơi nhưng hầu như rất ít công trình nào nghiên cứu về tinh dầu của loại rau này mặc dù giá thành nguyên liệu khá thấp. Chính vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly và xác định hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu rau má” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. Với mục đích là vận dụng những kiến thức và các thao tác thí nghiệm đã được học trong các môn học thí nghiệm hóa học để tiến hành thực nghiệm ly trích tinh dầu. Đồng thời tôi hy vọng đề tài này sẽ mở ra một hướng đi mới cho nền công nghiệp khai thác tinh dầu tự nhiên của Việt Nam.
Trang xii do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: BÙI THANH TRÚC CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về cây rau má Rau má là loại rau dại mọc tương đối phổ biến ở các vùng đất nhiệt đới đặc biệt là ở châu Á. Nó được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như: Tích tuyết thảo (Trung Quốc), Phanok (Lào), Trachiek– Kranh (Campuchia), Gotu – Kola (Sri Lanka), Pegagan (Indonesia), Takip– Kohol (Philippine), Bua– Bok (Thái Lan)… Tên khoa học là Centella asiatica (L., Trisanthus cochinensis Lour) thuộc họ Hoa tán Apiacece (Umbelliferae).1 Đặc điểm phân bố Chi Centella L. có khoảng 40 loài, phân bố ở Nam và Đông Nam châu Á. Ở Việt Nam, rau má mọc tự nhiên ở khắp nơi, ưa những nơi ẩm ướt như thung lũng, bờ mương thuộc những vùng có khí hậu nóng ẩm.
Rau má có thể thu hái cả bốn mùa nên khả năng mở rộng diện tích trồng và tăng năng suất rất cao. Bên cạnh đó, việc trồng rau má không đòi hỏi đầu tư nhiều và việc chăm sóc tương đối dễ dàng. Trang 1 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: BÙI THANH TRÚC 1.2 Đặc điểm hình thái Thân rau má gầy và nhẵn, thuộc loại thân bò lan, màu xanh lục hay lục ánh đỏ, có rễ ở các mấu. Nó có các lá hình thận, khía tai bèo rộng 2 – 5 cm, màu xanh với cuống dài và phần đỉnh lá tròn, kết cấu trơn nhẵn với các gân lá dạng lưới hình chân vịt.
Các lá mọc ra từ cuống dài khoảng 5 – 20 cm. Bộ rễ bao gồm các thân rễ, mọc thẳng đứng có màu trắng kem và được che phủ bằng các lông tơ ở rễ. Hoa rau má có màu từ ánh hồng tới đỏ, mọc thành các tán nhỏ, tròn gần mặt đất. Mỗi hoa được bao phủ một phần trong 2 lá bắc màu xanh.
Các hoa lưỡng tính này khá nhỏ (nhỏ hơn 3mm), với 5–6 thùy tràng hoa. Hoa có 5 nhị và 2 vòi nhụy, quả có hình mắt lưới dày đặc. Quả của nó chín sau 3 tháng. Toàn bộ cây, bao gồm cả rễ thường được thu hái thủ công.3 Một số loại rau má a.
Rau má lá sen Hình 1.2 Rau má lá sen [24] Tên khoa học: Hydrocotyle bonariensis Đặc điểm thực vật học: Rau má thân mọc bò. Lá mọc so le hoặc tụ tập nhiều lá trên mấu, lá hơi tròn, có khía tai bèo, rộng 2-3cm, cuống dài 3-5cm, phiến lá xanh, toàn cây khi tươi có mùi hăng, vị đắng. Trang 2 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: BÙI THANH TRÚC Phân bố và sinh thái: Cây sống dễ trong nước, những nơi đất cát, bờ biển, mương rãnh. nhưng cũng chịu được môi trường khô, xuất xứ Nam Mỹ, gần đây phát hiện mọc ở Việt Nam.
Rau má mỡ Hình 1.3 Rau má mỡ [25] Tên khoa học: Hydrocotyle Sibthorpioides Lam Tên khác: Rau má họ, rau má chuột Đặc điểm thực vật học: Cây thân cỏ nhỏ, mọc quanh năm, thân mọc bò, mang rễ ở mấu, lá hơi tròn, mép khía răng không đều. Cụm hoa nhiều tán mọc ở nách lá, mang hoa màu trắng. Lá và cụm hoa đều có cuống màu trắng dài. Quả dẹt nhẵn hoặc có lông nhỏ.
Phân bố và sinh thái: Cây mọc ở những nơi ẩm ướt, ven ruộng, bờ ao.Rau má mỡ thường gặp mọc hoang khắp nơi ở nước ta và các nước châu Á, châu Phi, ngoài ra còn phân bố ở châu Mỹ và Australia. Trang 3 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: BÙI THANH TRÚC c. Rau má dại Hình 1.4 Rau má dại [26] Tên khoa học: Hydrocotyle Chinenisis (Cunn) Craib Tên khác: Rau má rừng. Đặc điểm thực vật học: Cây thân cỏ sống dai, có thân dài, cành mọc vươn lên dài 5 -20 cm, mang ít lá nhẵn, phiến lá hình thận mắt chim, lõm sâu hình tim, chia 5 thùy hình tròn hay khía tai bèo, cuống lá dài, hơi có lông, lá kèm mỏng, hình tròn hay hình trái xoan.
Phân bố và sinh thái: Cây mọc trên đất ẩm, gần khe suối trong rừng, núi cao, ra hoa vào mùa thu. Ở nước ta, rau má dại thường mọc ở Cao Bằng, Sơn La, Hòa Bình vào đến KonTum.4 Thành phần hóa học Một số nghiên cứu cho thấy thành phần hóa học của rau má rất phong phú. Ngoài ra, rau má còn chứa sterol, saponin, flavonol, saccharide, magnesium, manganese, potassium, zinc, các loại vitamin B2, B3, B6 và K. Tùy theo khu vực trồng hoặc mùa vụ thu hoạch mà tỉ lệ các hoạt chất trong rau má có thể sai khác nhau (B.
Trang 4 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: BÙI THANH TRÚC Bảng 1.1 Thành phần hoá học của rau má (B.S Siddiqui, 2014) STT Tên thành phần hoá học Đơn vị Hàm lƣợng 1 Nước % (khối lượng) 89.456 Trước đây, triterpenoid acid, tinh dầu và chất béo, alkaloids, glycosides, flavonoid và steroid được phân lập từ các bộ phận khác nhau của cây. Các nghiên cứu chỉ ra rằng rau má có chứa lượng lớn các dẫn xuất triterpene và đại diện cho các hợp chất này đã được các nhà khoa học xác định trong những năm 1940 đó là "acid asiatic và acid madecassic "cùng với họ heterosides đặt tên là "Asiaticoside" và "Madecassoside" chiếm xấp xỉ lên đến10% toàn bộ cây (Yusurin, 2014). Hai hợp chất này luôn được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Mặt khác, một số ít saponin ít được báo cáo, chẳng hạn như asiaticosides A đến G, centelloside, brahmoside và nhiều chất khác (Combined Chemical, Nhiêm cùng cộng sự, 2011, Singh cùng cộng sự, 2010).
Lượng asiaticoside này khi thủy phân cho asiatic acid và glucose, rhamnose. Hàm lượng asiaticoside trong mô rau má theo từng bộ phận khác nhau sẽ chiếm tỷ lệ khác nhau (H. Sau đó, các hợp chất hóa học khác nhau cũng được cô lập như flavonoids, polyacetylenes và acid phenolic. Trong rau má còn chứa một lượng alkaloid hydrocotylin, chất đắng vellarin và đặc biệt là glycoside (Yusurin, 2014).
Trang 5 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: BÙI THANH TRÚC Hình 1.5 Công thức cấu tạo của madecassoside và asiaticoside 1.5 Tác dụng của rau má Rau má là một loại rau thông dụng có tác dụng sát trùng, giải độc, thanh nhiệt lương huyết. Trong thực phẩm, rau má dùng như một loại gia vị, rau ăn (nấu canh, luộc, muối dưa…) và dùng làm nước giải khát (cả cây giã nhuyễn với nước và đường) (Tôn Nữ Liên Hương, 2012). Theo y học cổ truyền, rau má có là vị thuốc có tính hàn, vị ngọt, hơi đắng, tính bình, không độc, có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận gan, giải độc, lợi tiểu. Rau má còn được dùng để làm thuốc sát trùng, bổ dưỡng, chữa thổ huyết, tả lỵ, khí hư, bạch đới, mụn nhọt, rôm sảy.
Từ những năm 60 của thế kỷ 20, y học hiện đại đã có những nghiên cứu lâm sàng về tác dụng chữa bệnh của dịch chiết rau má và các hợp chất trong rau má. Rất nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện và công bố. Centella asiatica sử dụng chủ yếu cho lành vết thương, bỏng, loét, bệnh phong, bệnh lao, bệnh lupus, bệnh ngoài da, bệnh về mắt, chống ung thư, sốt, viêm, hen suyễn, cao huyết áp, thấp khớp, bệnh giang mai, bệnh động kinh, tiêu chảy và bệnh tâm thần (Nhiệm et al, 2011; Shen et al, 2009; Jiang et al, 2005; Van Wyk và Wink, 2004) Trang 6 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: BÙI THANH TRÚC Một trong những hoạt động chính trong thành phần rau má là triterpene saponin, asiaticoside có tác dụng làm lành vết thương và có thể kích thích tổng hợp 1 loại collagen trong các tế bào nguyên bào sợi, thúc đẩy sự hình thành tế bào da, giúp nhanh liền vết thương (Lee và cộng sự, 2006). Các nghiên cứu khác nhau đã cho thấy rau má có khả năng chống viêm, chống oxy hóa, và bảo vệ thần kinh.
Các hợp chất trong rau má được sử dụng rộng rãi trong các loại thuốc tự nhiên bao gồm thuốc mỡ, thuốc đánh rang và mỹ phẩm (Kim và các cộng sự, 2000). Gần đây, kem đánh răng có các hợp chất trong rau má được phát triển dựa trên nghiên cứu đó.