Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu lá húng quế ocimum basilicum trên một số loài vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp

Nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu lá húng quế ocimum basilicum trên vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp, mang lại tiềm năng ứng dụng trong y học.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

61
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN VỀ HÚNG QUẾ

1.1.1. Vị trí phân loại, đặc điểm thực vật, phân bố

1.1.2. Thành phần hóa học

1.1.3. Một số nghiên cứu về các tác dụng khác nhau của O.basilicum ngoài khả năng kháng khuẩn

1.2. TỔNG QUAN VỀ VI KHUẨN

1.2.1. Vi sinh vật gây bệnh và tình trạng đề kháng kháng sinh

1.2.2. Nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp

1.3. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HOẠT TÍNH KHÁNG VI SINH VẬT

1.3.1. Phương pháp khuếch tán trên thạch

1.3.2. Phương pháp pha loãng

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. NGUYÊN VẬT LIỆU

2.1.1. Đối tượng thử nghiệm. Môi trường thử nghiệm. Thiết bị dụng cụ

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Phương pháp thu hái xử lý dược liệu. Phương pháp xác định hoạt tính kháng khuẩn

2.2.2. Xử lý số liệu thống kê

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. HIỆU SUẤT CHIẾT TINH DẦU

3.2. HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN

3.2.1. Sàng lọc hoạt tính kháng khuẩn

3.2.2. Xác định MIC và MBC

3.2.3. Hiệu suất chiết tinh dầu

3.2.4. Hoạt tính kháng khuẩn

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: BẢNG KẾT QUẢ ĐƯỜNG KÍNH VÒNG ỨC CHẾ

PHỤ LỤC 2: BẢNG KẾT QUẢ GIÁ TRỊ MIC

PHỤ LỤC 3: BẢNG KẾT QUẢ GIÁ TRỊ MIC

PHỤ LỤC 4: ĐƯỜNG KÍNH VÒNG ỨC CHẾ VI SINH VẬT

PHỤ LỤC 5: KẾT QUẢ MIC

Tóm tắt

I. Tổng quan về húng quế

Húng quế, với tên khoa học là Ocimum basilicum, là một loại thảo mộc thuộc họ Lamiaceae, nổi bật với khả năng kháng khuẩn. Nghiên cứu cho thấy tinh dầu từ lá húng quế chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học, đặc biệt là linalool, cineole và estragole. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hàm lượng tinh dầu trong húng quế có thể đạt từ 0,5% đến 1,7%, tùy thuộc vào điều kiện sinh trưởng. Húng quế được trồng rộng rãi ở nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam, nơi mà nó được sử dụng như một loại gia vị và dược liệu. Việc nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu húng quế không chỉ có ý nghĩa trong y học mà còn trong ngành thực phẩm và mỹ phẩm. Theo một nghiên cứu, tinh dầu húng quế có khả năng ức chế nhiều loại vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là các chủng vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Điều này mở ra triển vọng cho việc sử dụng tinh dầu húng quế như một biện pháp tự nhiên trong điều trị và phòng ngừa bệnh tật.

1.1. Đặc điểm thực vật và phân bố

Húng quế là cây thân thảo, cao từ 0,5 đến 1,2m, có mùi thơm đặc trưng. Cây ưa sáng và ẩm, thường được trồng ở những vùng đất phù sa màu mỡ. Húng quế có hai loại chính là húng quế lá lớn và lá nhỏ, mỗi loại có đặc điểm hình thái và thành phần hóa học khác nhau. Việc phân biệt giữa hai loại này không chỉ giúp trong việc thu hoạch mà còn trong việc chiết xuất tinh dầu, từ đó tối ưu hóa hoạt tính kháng khuẩn của sản phẩm. Nghiên cứu cho thấy rằng tinh dầu từ lá nhỏ có hoạt tính kháng khuẩn mạnh hơn so với lá lớn, đặc biệt là đối với các vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp như Streptococcus pyogenes.

II. Tình hình nghiên cứu khả năng kháng vi sinh vật của O

Nghiên cứu về kháng khuẩn của Ocimum basilicum đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới. Các nghiên cứu cho thấy tinh dầu từ lá húng quế có khả năng ức chế nhiều loại vi khuẩn, bao gồm cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Một nghiên cứu tại Iran cho thấy tinh dầu húng quế có hoạt tính kháng khuẩn tốt trên các vi khuẩn như Escherichia coliStaphylococcus aureus. Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng tinh dầu húng quế có khả năng ức chế các vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp, đặc biệt là Streptococcus pneumoniae. Điều này cho thấy tiềm năng lớn của húng quế trong việc phát triển các sản phẩm kháng khuẩn tự nhiên, giúp giảm thiểu việc sử dụng kháng sinh tổng hợp và hạn chế tình trạng kháng thuốc.

2.1. Nghiên cứu trên thế giới

Nhiều nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng tinh dầu húng quế có hoạt tính kháng khuẩn mạnh mẽ. Một nghiên cứu của Moghaddam và cộng sự cho thấy tinh dầu chiết xuất từ lá húng quế có khả năng ức chế vi khuẩn Gram âm và Gram dương, với giá trị MIC dao động từ 18-36μg/ml. Tương tự, nghiên cứu của Patil và cộng sự tại Ấn Độ cũng khẳng định hoạt tính kháng khuẩn của các chiết xuất từ húng quế, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong y học và thực phẩm. Những kết quả này khẳng định rằng tinh dầu húng quế không chỉ là một gia vị mà còn là một nguồn tài nguyên quý giá trong việc phát triển các sản phẩm kháng khuẩn tự nhiên.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện bằng cách chiết xuất tinh dầu từ hai loại lá húng quế thông qua phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước. Sau đó, tinh dầu được thử nghiệm trên sáu chủng vi khuẩn chuẩn, bao gồm Escherichia coli, Staphylococcus aureus kháng methicillin, và các chủng vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp khác. Phương pháp khuếch tán trên thạch được sử dụng để sàng lọc hoạt tính kháng khuẩn, trong khi phương pháp pha loãng trong môi trường rắn được áp dụng để xác định giá trị MIC và MBC. Kết quả cho thấy cả hai loại tinh dầu đều có khả năng ức chế vi khuẩn, đặc biệt là trên các chủng Streptococcus. Điều này chứng tỏ rằng tinh dầu húng quế có thể là một giải pháp tiềm năng trong việc điều trị các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp.

3.1. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng tinh dầu trong lá lớn và lá nhỏ lần lượt là 0,49% và 0,51%. Tinh dầu lá nhỏ cho thấy hoạt tính ức chế mạnh mẽ hơn, đặc biệt là đối với Streptococcus pyogenes với MIC là 2,5μl/ml. Ngược lại, tinh dầu lá lớn có hoạt tính yếu hơn, với MIC là 5μl/ml. Những phát hiện này không chỉ khẳng định hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu húng quế mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc phát triển các sản phẩm kháng khuẩn tự nhiên, giúp giảm thiểu tình trạng kháng thuốc hiện nay.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Giữa thế kỉ 16, Antony van Leeuwenhoek (1632 – 1723) hoàn thiện kính hiển vi và khám phá ra thế giới vi sinh vật. Những năm sau đó, nhiều nhà khoa học đã chứng minh vi sinh vật là nguyên nhân của các bệnh nhiễm trùng. Tuy nhiên đến trƣớc thế kỉ 20, việc chữa trị các bệnh nhiễm trùng chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiệm dân gian. Năm 1928, Alexander Flemming tìm ra kháng sinh đầu tiên từ chủng nấm Penicillium notatum.

Việc phát hiện penicillin và các kháng sinh sau đó trở thành cứu cánh cho điều trị bệnh nhiễm trùng trong một thời gian dài. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hiện tƣợng đề kháng kháng sinh ngày càng phát triển phức tạp đƣa nhân loại bƣớc vào thời kỳ hậu kháng sinh [6]. Nhiễm trùng đƣờng hô hấp là loại bệnh phổ biến nhất trong các bệnh nhiễm trùng. Những chủng vi khuẩn gây bệnh đƣờng hô hấp thƣờng là chủng gây nhiều đề kháng nhất với kháng sinh và có khả năng gây bùng phát dịch bệnh cao.

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em trên toàn thế giới. Khoảng ba phần tƣ kháng sinh điều trị cho bệnh nhân ngoại trú dành cho các bệnh nhiễm trùng đƣờng hô hấp, đặc biệt là đối với viêm xoang do vi khuẩn cấp tính cho ngƣời lớn và viêm tai giữa do vi khuẩn cấp tính cho trẻ em. Việc lạm dụng nhiều thuốc kháng sinh cho nhiễm trùng hô hấp mắc phải cộng đồng và bệnh viện làm tăng nguy cơ mức độ kháng kháng sinh. Sự xuất hiện của vi khuẩn methicillin- resistant Staphylococcus aureus mắc phải cộng đồng và các chủng vi sinh vật đa kháng thuốc (ví dụ: Acinetobacter, Pseudomonas aeruginosa) trong bệnh viện tăng thách thức trong việc điều trị thành công những ca nhiễm trùng này [18].

Nghiên cứu để tìm ra các kháng sinh mới bằng con đƣờng tổng hợp hóa học đang không theo kịp với sự đề kháng của chúng. Để chống lại sự đề kháng của vi sinh vật, đòi hỏi có những cấu trúc hóa học mới phức tạp hơn và các hợp chất tự nhiên có trong cây cỏ là một trong những nguồn cấu trúc đó [3], [14]. Trong những năm gần đây, các loại tinh dầu và chiết xuất thảo dƣợc thu hút đƣợc rất nhiều sự quan tâm từ các ngành khoa học nhờ vào tiềm năng lớn của chúng nhƣ nguồn chất chống oxy hóa tự nhiên và các hợp chất hoạt tính sinh học [12]. Một số 1 Luan van nghiên cứu cũng đã đƣợc thực hiện để khám phá tiềm năng của một số tinh dầu để điều trị các bệnh truyền nhiễm nhƣ biện pháp thay thế dƣợc phẩm tiêu chuẩn [13].

Húng quế (Ocimum basilicum L.), là một thành viên của họ Lamiaceae, là một loại thảo mộc phát triển hàng năm ở nhiều khu vực trên thế giới. Trong số hơn 150 loài thuộc chi Ocimum, húng quế là loài chính để thu hoạch tinh dầu và chúng đƣợc trồng thƣơng mại ở nhiều quốc gia [39]. Các bộ phận của cây Ocimum basilicum, các hợp chất và tinh dầu chiết đƣợc cho thấy tiềm năng lớn trong việc kháng khuẩn điển hình nhƣ nghiên cứu của Moghaddam và cs. (2011), Patil và cs.

Hoạt tính kháng khuẩn của các loài tinh dầu mặc dù có cùng nguồn gốc từ một loài thực vật nhƣng có thể khác nhau, điều này có thể là do kiểu gen quy định các đặc điểm về hình thái giống cây trồng khác nhau cho hoạt tính kháng khuẩn khác nhau. Do đó đề tài “Nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu lá húng quế Ocimum basilicum trên một số loài vi khuẩn gây bệnh đƣờng hô hấp” đƣợc thực hiện với những mục tiêu chính sau: - Sàng lọc hoạt tính kháng khuẩn các chủng vi khuẩn chuẩn gây bệnh đƣờng hô hấp của hai loại tinh dầu húng quế lá lớn và lá nhỏ. - Xác định giá trị MIC (Minimum Inhibitory Concentration) và MBC (Minimum Bactericidal Concentration) của tinh dầu trên các chủng vi khuẩn chuẩn. 2 Luan van CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

TỔNG QUAN VỀ HÚNG QUẾ 1. Vị trí phân loại, đặc điểm thực vật, phân bố 1. Danh pháp, vị trí phân loại Tên gọi:  Tên khoa học: Ocimum basilicum L.  Tên tiếng Anh: Sweet basil (Anh), basilic aux sauces (Pháp)  Tên khác: Húng chó, Húng giổi, Rau é, É tía, É quế Giới thực vật: Plantae Ngành Ngọc Lan: Magnoliophyta Lớp Ngọc Lan: Magnoliophyta Phân lớp Hoa Môi: Lamiidae Bộ Hoa Môi: Lamiales Họ Bạc hà: Lamiaceae Chi: Ocimum Loài: Ocimum basilicum [49] 1.

Đặc điểm thực vật Cây mọc quanh năm, cỏ đứng, cao 0,5-1,2m, rất phân nhánh, toàn cây có mùi thơm. Thân non màu xanh có phớt tía hoặc màu tía, rất ít lông. Lá đơn, mọc đối ch o chữ thập. Phiến lá hình trứng nhọn ở đầu và đáy phiến hình nêm men dần xuống cuống, kích thƣớc 3-8 x 2-5cm, màu xanh lục, mặt trên đậm hơn mặt dƣới, bìa có răng cƣa cạn ở 2/3 phía trên, nhiều đốm tuyến.

Gân lá hình lông chim, nổi r ở mặt dƣới, 6-8 cặp gân phụ hơi cong lên ở m p lá, có ít lông tơ ngắn. Cuống lá màu xanh nhạt, hình trụ hơi phẳng ở mặt trên, dài 2-5cm, ít lông ngắn. Cụm hoa ở ngọn cành kiểu chùm xim bó hoặc chùm xim biến dạng hình tháp. Kiểu chùm xim bó: 2 xim co 6 hoa mọc đối tạo thành vòng giả, khoảng cách giữa hai vòng giả 0,5-2cm, các vòng giả tạo thành chùm dài 10-30cm.

Kiểu chùm xim biến dạng hình tháp do phía dƣới trục hoa phân nhánh phức tạp. Hoa nhỏ, không đều, lƣ ng tính, mẫu 5. Cánh hoa 3 Luan van màu trắng hồng, rìa màu hồng. Quả bế tƣ, màu đen, hình trứng ngƣợc, dài khoảng 1,2mm, đựng trong đài tồn tại [5].

 Phân biệt hai loại lá húng quế Húng quế lá lớn: kích thƣớc 6-8 x 2-3cm, gân lá hình lông chim, 6-8 cặp gân phụ hơi cong lên ở m p lá, có ít lông tơ ngắn. Bìa mép lá có răng cƣa cạn, không nhún. Húng quế lá nhỏ: kích thƣớc 3-4 x 1-2cm, gân lá hình lông chim nhƣng không có cặp gân phụ. Bìa mép lá có răng cƣa cạn nhƣng nhún nhiều hơn so với lá lớn.

Hai loại lá húng quế A: Húng quế lá lớn B: Húng quế lá nhỏ 1. Phân bố Húng quế là một loài rau gia vị thuộc họ Hoa môi, có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Quốc nhƣng hiện nay chúng đƣợc trồng ở nhiều nƣớc ôn đới và nhiệt đới thuộc Châu Âu và Châu Á nhƣ Pháp, Ý, Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam. Trên thế giới có nhiều loại húng quế, nhƣng húng quế Việt Nam có mùi dịu nhẹ hơn. Ở Việt Nam, húng quế có ở nhiều tỉnh.

Cây ƣa sáng và ẩm, sinh trƣởng mạnh trong mùa mƣa ẩm, thích hợp với đất phù sa và đất thịt. Mùa ra hoa thƣờng vào tháng 7-9 [1]. 4 Luan van Hình 1. Cây Húng quế Hình 1.

Hoa Húng quế 1. Thành phần hóa học Húng quế hiện nay là một loại cây chuyên dùng để sản xuất tinh dầu. Phần trên mặt đất của cây Húng quế chứa tinh dầu có hàm lƣợng cao nhất lúc cây đã ra hoa. Lƣợng tinh dầu chứa trong cây húng quế khá cao là 0,5-1,7%, trong tinh dầu có linalool (60%), cineole, estragole (methyl-chavicol) cùng một số chất khác nhƣ Germacrene D, Tau-cadinol, δ-Gurjunen, δ-Cadinene… Ngoài tinh dầu, trong lá và hoa còn chứa protein, carbonhydrat và một lƣợng nhỏ Vitamin A và Vitamin C.

Cho tới nay ngƣời ta đã khám phá hơn 140 hợp chất khác nhau, trong đó có trên 30 hợp chất monoterpen, khoảng 20 carboxylic acid, 11 aldehyd mạch thẳng, khoảng 20 hợp chất có mùi thơm và khoảng 20 hợp chất khác [1]. 5 Luan van Hình 1. Cấu trúc hóa học của Linalool Hình 1. Cấu trúc hóa học của Cineole Hình 1.

Cấu trúc hóa học của Estragole 1. Một số nghiên cứu về các tác dụng khác nhau của O.basilicum ngoài khả năng kháng khuẩn  Nghiên cứu về hoạt tính chống oxy hóa 6 Luan van Khả năng chống oxy hóa của cao chiết methanol từ Ocimum gratissimum và Ocimum basillicum đƣợc nghiên cứu với nhiều phƣơng pháp khác nhau: phƣơng pháp làm sạch các gốc tự do 1,1-diphenyl-2-picryl-hydrazyl (DPPH), làm sạch hydrogen peroxi, phƣơng pháp Ferric thiocyanate (FTC)… Khả năng chống oxy hóa của O.basilicum đƣợc cho là yếu hơn O. Theo phƣơng pháp DPPH, phần trăm làm sạch các gốc tự do phụ thuộc vào nồng độ. Cao chiết acetone và ethanol của O.basilicum đƣợc thƣc hiện ở nồng độ 50, 100, 250 và 500µg/ml.

Theo phƣơng pháp FTC, cao chiết ethanol của O.basilicum ở nồng độ 500µg/ml cho 75,87%, khả năng kháng khuẩn gần với α-tocopherol (500µg/ml) 82,14% theo tham chiếu [20].  Nghiên cứu về hoạt tính kháng viêm Cao chiết từ hạt O.basilicum trong phân đoạn ete dầu mỏ (400mg/kg) và ethanol (400mg/kg) đƣợc sử dụng để điều trị kháng viêm do histamin và prostaglandin (PGF2-a) gây ra ở 60 con chuột chia làm 10 nhóm. Ức chế đáng kể tình trạng phù nề ở chân do histamine và PGF2-a đã chứng minh rằng hạt O.basilicum có hoạt tính kháng viêm tiềm năng [35]. Kết quả ghi nhận rằng các chất chiết xuất methanol thô ức chế các cytokine tiền viêm và các chất trung gian.

Qua nghiên cứu cho thấy các chất chiết xuất có hoạt tính chống viêm [40]. Tình hình nghiên cứu khả năng kháng vi sinh vật của O.basilicum ở Việt Nam và trên thế giới  Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới có nhiều nghiên cứu đánh giá khả năng kháng khuẩn của O.basilicum khá tốt. Theo một nghiên cứu của Moghaddam và cộng sự tại Iran, tinh dầu chiết xuất từ lá O.basilicum bằng phƣơng pháp chƣng cất lôi cuốn hơi nƣớc cho hoạt tính kháng khuẩn tốt trên các vi khuẩn Gram âm và Gram dƣơng bao gồm E.aeruginosa, Bacillus cereus, S. Kết quả MIC đối với Bacillus cereus dao động từ 36-18μg/ml S.aeruginosa là 18-9μg/ml [33].

Theo một nghiên cứu khác của Patil và cộng sự tại Ấn Độ, khả năng kháng khuẩn của các cao chiết ethanol, methanol và hexane của húng quế bằng phƣơng pháp đĩa 7 Luan van giấy khuếch tán và phƣơng pháp pha loãng trong môi trƣờng thạch cho thấy hoạt tính kháng khuẩn rất tốt trên các chủng Gram (-) và Gram (+). Trong đó cao chiết hexan cho thấy hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất [36].  Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Tại Việt Nam, thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn trên O.basilicum cũng đã đƣợc tiến hành và cho kết quả rất tốt. Theo một nghiên cứu thực hiện trên húng quế của tác giả Ánh đƣợc trồng và thu hoạch tại Tiền Giang cho thấy tinh dầu O.basilicum có thể ức chế đƣợc một số chủng vi khuẩn gây bệnh đƣờng ruột nhƣ E.coli, Salmonella typhmumrium, Shigella, Bacillus cereus, MRSA ngoại trừ P.

Ở một nghiên cứu khác, tinh dầu húng quế (O.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu lá húng quế Ocimum basilicum đối với vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp" của tác giả Lê Lương Phương Nghi, dưới sự hướng dẫn của Ths. Nguyễn Thanh Tố Nhi tại Trường Đại Học Nguyễn Tất Thành, tập trung vào việc khảo sát khả năng kháng khuẩn của tinh dầu lá húng quế đối với các vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quý giá về tiềm năng sử dụng tinh dầu húng quế như một phương pháp điều trị tự nhiên mà còn mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các sản phẩm y tế an toàn và hiệu quả.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và điều trị, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Phân Tích Thực Trạng Sử Dụng Thuốc Kháng Sinh Cephalosporin Trong Điều Trị Nội Trú Bệnh Đường Hô Hấp Tại Bệnh Viện Quận Tân Phú TP Hồ Chí Minh Năm 2022, Phân Tích Hiệu Quả Áp Dụng Kháng Sinh Dự Phòng Trên Bệnh Nhân Phẫu Thuật Tại Bệnh Viện Xanh Pôn, và Thực Trạng Kê Đơn Thuốc Trong Điều Trị Ngoại Trú Tại Trung Tâm Y Tế Huyện Kon Rẫy, Tỉnh Kon Tum Năm 2022. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về việc sử dụng thuốc kháng sinh và các phương pháp điều trị liên quan đến bệnh đường hô hấp.