Đánh Giá Khả Năng Kháng Khuẩn Của Dịch Chiết Cây Mảnh Cộng Clinacanthus Nutans Tại Thái Nguyên

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp đánh giá khả năng kháng khuẩn từ dịch chiết cây mảnh cộng clinacanthus nutans, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

56
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1. Mục tiêu chung

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.2.3. Yêu cầu

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học

2.2. Tổng quan về các chất có hoạt tính sinh học từ thực vật

2.3. Tổng quan về các vi sinh vật thử nghiệm

2.3.1. Escherichia coli (Vi khuẩn E.)

2.3.2. Trực khuẩn Proteus (Vi khuẩn đường ruột)

2.4. Một số phương pháp tách chiết các chất từ thực vật

2.4.1. Tách chiết bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước

2.4.2. Tách chiết bằng soxlet

2.4.3. Phương pháp ngấm kiệt

2.4.4. Chiết siêu âm

2.4.5. Chiết xuất ngược dòng

2.4.6. Chiết xuất bằng khí hóa lỏng siêu tới hạn

2.4.7. Tách chiết bằng dung môi

2.5. Một số phương pháp đánh giá tác động kháng khuẩn

2.5.1. Phương pháp khuếch tán qua giếng thạch

2.5.2. Phương pháp khoanh giấy kháng sinh khuếch tán

3. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Vật liệu nghiên cứu

3.2. Chủng vi sinh vật thử nghiệm

3.3. Môi trường nuôi cấy vi khuẩn

3.4. Dụng cụ - thiết bị và hóa chất

3.5. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu

3.6. Nội dung nghiên cứu

3.7. Phương pháp nghiên cứu

3.7.1. Xử lí nguyên liệu

3.7.2. Phương pháp thu nhận dịch chiết

3.7.3. Phương pháp đánh giá khả năng kháng khuẩn

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu về quy trình thu nhận phù hợp để tách chiết dịch chiết từ cây Clinacanthus nutans Burm.

4.2. Kết quả nghiên cứu khả năng kháng khuẩn dịch chiết cây Clinacanthus nutans Burm.

4.2.1. Khả năng kháng khuẩn của khoanh giấy kháng sinh (đối chứng dương)

4.2.2. Khả năng kháng khuẩn của nước cất (đối chứng âm)

4.2.3. Khả năng kháng khuẩn của dịch chiết Mảnh cộng

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Quy trình thu nhận để tách chiết dịch chiết từ cây Clinacanthus nutans Burm.

5.2. Khả năng kháng một số vi khuẩn ở dịch chiết cây Clinacanthus nutans Burm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cây Mảnh cộng Clinacanthus nutans

Cây Mảnh cộng, hay còn gọi là cây Bìm bịp, có tên khoa học là Clinacanthus nutans Burm.f Lindau, thuộc họ Ô rô (Acanthaceae). Cây này phân bố chủ yếu ở các nước Đông Nam Á như Malaysia, Lào, Campuchia, Myanma, Trung Quốc và Việt Nam. Cây Mảnh cộng được biết đến với nhiều tác dụng dược lý, đặc biệt là khả năng hỗ trợ điều trị các bệnh liên quan đến xương khớp và mau lành vết thương. Theo nghiên cứu, trong cây có chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học như alkaloid, flavonoid, và saponin, có khả năng kháng khuẩn và kháng nấm. Điều này đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong việc nghiên cứu và ứng dụng cây Mảnh cộng trong y học cổ truyền và hiện đại.

1.1. Đặc điểm sinh học của cây Mảnh cộng

Cây Mảnh cộng là loài cây nhỏ, có thể cao tới 3m, với lá nguyên, cuống ngắn, phiến lá dài hình thuôn hoặc hình mác. Hoa của cây có màu đỏ hoặc hồng, thường rủ xuống ở ngọn. Quả của cây có hình truỳ, chứa khoảng 4 hạt. Cây thường mọc ở các vùng rừng rụng lá, bờ bụi hoặc các bãi đất trống. Theo Đông y, cây Mảnh cộng có vị ngọt, tính bình, có nhiều tác dụng như giảm đau, điều kinh, và liền xương. Việc sử dụng cây Mảnh cộng trong y học cổ truyền đã được ghi nhận từ lâu, và hiện nay, cây này đang được nghiên cứu để xác định khả năng kháng khuẩn từ dịch chiết của nó.

II. Khả năng kháng khuẩn của dịch chiết cây Mảnh cộng

Nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn từ dịch chiết cây Mảnh cộng đã chỉ ra rằng dịch chiết này có thể ức chế sự phát triển của nhiều loại vi khuẩn gây bệnh. Các phương pháp chiết xuất như chiết bằng dung môi và chiết siêu âm đã được áp dụng để thu nhận dịch chiết có hoạt tính kháng khuẩn cao. Kết quả cho thấy dịch chiết từ lá cây Mảnh cộng có khả năng kháng lại các vi khuẩn như Escherichia coli, Staphylococcus aureus, và Pseudomonas aeruginosa. Điều này chứng tỏ rằng cây Mảnh cộng không chỉ có giá trị trong y học cổ truyền mà còn có tiềm năng lớn trong việc phát triển các sản phẩm kháng khuẩn tự nhiên.

2.1. Phương pháp nghiên cứu khả năng kháng khuẩn

Để đánh giá khả năng kháng khuẩn của dịch chiết cây Mảnh cộng, các phương pháp như khuếch tán qua giếng thạch và khoanh giấy kháng sinh đã được sử dụng. Kết quả cho thấy kích thước vòng kháng khuẩn của dịch chiết lớn hơn so với các đối chứng âm, cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Các hợp chất sinh học trong dịch chiết có thể là nguyên nhân chính dẫn đến hoạt tính kháng khuẩn này. Việc nghiên cứu sâu hơn về các hợp chất này sẽ mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các sản phẩm dược phẩm từ thiên nhiên.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn từ dịch chiết cây Mảnh cộng không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm thông tin cho các nhà khoa học về hoạt tính sinh học của thực vật, đồng thời mở ra cơ hội ứng dụng trong lĩnh vực y dược. Việc phát triển các sản phẩm từ cây Mảnh cộng có thể giúp nâng cao giá trị sử dụng của các hoạt chất có tính kháng khuẩn trong y học, dược học và đời sống con người. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng góp phần vào việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc quý hiếm, giúp duy trì sự đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường.

3.1. Ứng dụng trong y học và dược học

Kết quả nghiên cứu cho thấy dịch chiết từ cây Mảnh cộng có thể được ứng dụng trong việc phát triển các sản phẩm kháng khuẩn tự nhiên, phục vụ cho việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu việc sử dụng kháng sinh tổng hợp mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Hơn nữa, việc sử dụng các sản phẩm từ thiên nhiên như cây Mảnh cộng có thể giúp nâng cao nhận thức về giá trị của thảo dược trong việc chăm sóc sức khỏe, đồng thời khuyến khích việc bảo tồn các loài thực vật quý hiếm.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Cây Mảnh cộng, một số nơi gọi là cây Bìm bịp, Tiểu cốt tiếp ở Trung Quốc gọi là cây Thanh tiễn, Trúc tiết hoàng hay Tiểu cốt tiếp (Tiểu là nhỏ - cốt tiếp là nối liền xương). Tên khoa học của loài cây là Clinacanthus nutans Burm.f Lindau, thuộc họ Ô rô (Acanthaceae). Trên thế giới Mảnh cộng phân bố chủ yếu ở Malaysia, Lào, Campuchia, Myanma, Trung Quốc và Việt Nam [24]. Trên thế giới, cây Mảnh cộng được phát hiện đầu tiên từ dãy Hymalaya thuộc biên giới của Trung Quốc và Ấn Độ.

Tại các nước có phát hiện và khai thác Clinacanthus nutans đều biết đến chúng chủ yếu theo hướng dùng làm thuốc điều trị hỗ trợ mau lành vết thương, các bệnh liên quan đến xương khớp [24]. Trong cây có một số chất như alkaloid, carbohydrate, teroid, sterpenoid, flavonoid, tanin và polyphenol, tinh chất saponin - paridin C16H28O7 và tinh chất paristaphin C38H64O18 đều là một glucozit có lợi cho sức khỏe. Trong thân rễ và quả Mảnh cộng, người ta chiết xuất được một chất nhựa gọi là paridol [6]. Một số tác dụng nổi bật của cây dưới đây cho thấy, Mảnh cộng đang là đối tượng quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới như nghiên cứu của Lee và cộng sự, hợp chất steroid saponin (polyphylin D) của cây Mảnh cộng có thể được sử dụng trong hỗ trợ điều trị cho các bệnh nhân liên quan đến xương và chấn thương ngoại khoa.

Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng các hợp chất của cây mảnh cộng có khả năng kháng một số vi khuẩn như: Bacillus dysentery, B. Năm 2008, Deng và cộng sự đã đánh giá hoạt tính kháng nấm của saponin từ cây Mảnh cộng với Cladosporium cladosporioides và loài Candida. Tác giả cũng so sánh và thấy được tính ưu việt trong hoạt động của saponin tách từ cây Mảnh cộng với các hóa chất khác cùng sử dụng có trong một số sản phẩm thương mại. Giá trị sử dụng của cây dược liệu trên thế giới nói chung và hiệu quả chữa bệnh của Mảnh cộng nói riêng làm cho các loài quý hiếm có nguy cơ ngày càng cạn kiệt [24].

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), 80% dân số dựa vào nền y học cổ truyền để chăm sóc sức khoẻ, trong đó chủ yếu là thuốc từ cây cỏ. Sự quan tâm về các hệ thống y học cổ truyền, đặc biệt là các loại thuốc thảo dược đã ngày càng gia tăng tại các nước phát triển và đang phát triển [16]. Các thị trường thảo dược tăng trưởng nhanh chóng và Luan van 2 mang lại nhiều lợi nhuận kinh tế. Ước tính, việc mua bán trao đổi cây dược liệu hàng năm đem lại khoảng 60 triệu USD (WorldBank, 2004), tăng so với những năm trước khoảng 7%.

Khoảng 3500 cây thuốc được buôn bán trên thế giới. Có ít nhất 2000 cây thuốc được sử dụng ở châu Âu. Ở Ấn Độ, y học Ayurvedic (hệ thống y học hơn 5000 năm tuổi) sử dụng khoảng 2000 loài thực vật để chữa bệnh, có 80% các bệnh được chữa trị bằng thực vật. Trong số các loại cây thuốc được sử dụng, có đến 90% thảo dược được thu hái hoang dại, một số ít hiện nay được trồng với quy mô nhỏ lẻ.

Có khoảng vài trăm loài được trồng ở các nước trên thế giới, 20-50 loài ở Ấn Độ, 100 - 250 loài ở Trung Quốc [24]. Thấy được tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc, nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có các nước đang phát triển đã xây dựng những khu vực bảo tồn cây thuốc. Các khu bảo tồn như: Guatemala, Nepal, Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập, Nam Phi. là nơi quan trọng lưu giữ các nguồn gen quý hiếm của nhân loại.

Theo báo cáo của Tổ chức bảo tồn quốc tế (IUCN, 2003) số khu bảo tồn trên toàn thế giới tính đến năm 2003 là hơn 100 nghìn khu, với tổng diện tích ước tính là 18,8 triệu km2, chiếm 11,5% diện tích bề mặt trái đất, tăng hơn 100 lần so với năm 1962 khoảng hơn 1. Và cũng theo tổ chức này, Clinacanthus nutans (Satuwa) là một trong những cây thuốc được liệt kê trong nhóm dễ bị tổn thương, việc tìm kiếm hạt giống rất khó khăn và hạt giống rất khó nảy mầm trong điều kiện phòng thí nghiệm. Nhiều nhà khoa học đã tuyên truyền phổ biến việc sử dụng có hiệu quả của cây Mảnh cộng và đồng thời cần thiết phải có kế hoạch bảo tồn loài thực vật này [24].Cây Mảnh cộng Luan van 3 Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km2, Việt Nam là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới. Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật.

Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Indo - Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nước ta trở thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao trên thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới [10][19][24]. Ở Việt Nam, cây Mảnh cộng không nằm trong danh sách được bảo tồn ở sách đỏ, quý hiếm theo nghị định 60, Sách đỏ Việt Nam và danh mục cây thuốc Việt Nam, hiện cây phân bố rải rác ngoài tự nhiên thường gặp ở các tỉnh có một phần diện tích tự nhiên là núi đá vôi như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Yên Bái, vườn Quốc gia Yok Don (Đắk Lắk)…[4][10][19]. Cây Mảnh cộng đã thấy được đem trồng ở vườn của một số ông lang ở miền Bắc, là cây thuốc đông Y trong một số bài cổ truyền dân gian của đồng bào dân tộc Dao, Tày, Nùng, Thái.

ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam [16]. Cây được sử dụng trong việc điều trị hỗ trợ mau lành vết thương, các bệnh liên quan đến xương khớp, tăng khả năng kháng khuẩn, giải độc. Người dân bản địa thường xuyên quen với việc sử dụng thuốc nam, các loại thực vật rừng trong một số điều trị một số bệnh hay gặp trong cộng đồng hoặc một số tổn thương trên cơ thể do sự sơ xuất trong quá trình lao động sản xuất ví dụ: Khi bị ngã hay va đập liên quan đến rạn tổn thương đến cơ – xương tay hoặc chân đồng bào dân tộc Dao ở Lạng Sơn được các thầy thuốc đông Y (thầy lang) sử dụng lá cây Mảnh cộng để đắp hỗ trợ chữa trị, giải pháp tương tự như bó bột của y học hiện nay, nhưng hiệu quả điều trị đem lại là tương đương nhau sau hai tuần điều trị [16]. Là cây dược liệu y học cổ truyền nằm trong các bài thuốc dân gian và thường chỉ biết đến qua các người dân bản địa giàu kinh nghiệm hay các thầy lang, do vậy cây Mảnh cộng chỉ được biết đến là cây thường mọc ở rừng nguyên sinh và thứ sinh nghèo, nơi có độ cao từ 100 – 200 m trở lên so với mặt nước biển.

Về đặc điểm thực vật: Mảnh cộng là loài cây nhỏ, mọc trườn, thành bụi, chiều cao có thể lên đến 3m. Luan van 4 Lá nguyên, cuống ngắn, phiến lá dài hình thuôn hay hình mác, mặt lá hơi nhẵn có màu xanh thẫm. Hoa màu đỏ hay hồng, rủ xuống ở ngọn, tràng hoa có 2 môi, môi dưới có 3 răng, bao phấn vàng xanh, nang dài 1,5 cm. Quả hình truỳ dài khoảng 1,5 cm, cuống quả ngắn, quả chứa khoảng 4 hạt [6][16][24].

Nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá về sinh giới này, có thể đáp ứng những nhu cầu hiện tại và tương lai của chúng ta trong quá trình phát triển về kinh tế, y tế. Tuy nhiên thay vì bảo tồn nguồn tài nguyên này, thì trong thực tế hoạt động khai thác quá mức và bừa bãi nguồn tài nguyên quý giá này. Nhiều loài hiện đã trở nên hiếm, một số loài đang có nguy cơ bị diệt vong. Hiện nay, nguồn tài nguyên này đang suy thoái nhanh chóng.

Nhiều báo cáo đã ghi nhận sự biến mất của các loài thực vật bị đe dọa ở Việt Nam trong đó có những loài cây thuốc quý có tên trong sách đỏ do tình trạng khai thác không có kế hoạch. Khi các loài thực vật biến mất khỏi tự nhiên, đó là sự ra đi vĩnh viễn và nguồn gen không thể tái tạo được [1][2][10][18]. Có thể nói rằng các nghiên cứu về cây dược liệu quý nói chung và cây Mảnh cộng nói riêng hiện nay mới chỉ tập trung vào việc sử dụng phục vụ y học cổ truyền, chưa thấy công bố, công trình nghiên cứu tách chiết dược chất cơ bản, các chất sinh học quý và hoàn toàn chưa chú ý đến nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen [16]. Do vậy nguồn gen cây Mảnh cộng đang bị đe dọa do khai thác quá mức bởi các cá nhân, doanh nghiệp, thương lái thu mua bán ra nước ngoài.

Đã có một số nghiên cứu tái sinh cây ngoài tự nhiên bằng hạt, giâm cành. nhưng tỷ lệ tái sinh không cao. Ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô thực vật sẽ là giải pháp khắc phục hạn chế này, đồng thời cũng là định hướng nghiên cứu bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững nguồn gen cây Mảnh cộng trước khi chúng bị cạn kiệt và tuyệt nguy cơ bị diệt vong. Hiện nay, nguồn tài nguyên này đang suy thoái nhanh chóng.

Nhiều báo cáo đã ghi nhận sự biến mất của các loài thực vật bị đe dọa ở Việt Nam trong đó có những loài cây thuốc quý có tên trong sách đỏ do tình trạng khai thác không có kế hoạch. Khi các loài thực vật biến mất khỏi tự nhiên, đó là sự ra đi vĩnh viễn và nguồn gen không thể tái tạo được [2][9][19]. Luan van 5 Theo số liệu điều tra của Viện Dược liệu năm 2017 Việt Nam có tới 5.017 loài thực vật và nấm lớn, cây thuốc thuộc khoảng 270 họ thực vật. Các loài cây thuốc phân bố khắp các vùng sinh thái ở Việt Nam.

Trong số đó, phần lớn các cây thuốc là mọc tự nhiên và khoảng 20% đã được gieo trồng. Từ năm 1988, công tác bảo tồn nguồn gen cây thuốc đã được triển khai. Tuy vậy, trong số 848 loài cây thuốc được xác định cần bảo tồn mới chỉ có 120 loài, dưới loài được bảo tồn trong các vùng và các cơ sở nghiên cứu [1]. Hiện nay có rất nhiều vườn cây thuốc đã được thành lập, ngoài ra còn có hệ thống các vườn cây thuốc của các hộ gia đình làm nghề thuốc nam và thuốc bắc [13][16].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh Giá Khả Năng Kháng Khuẩn Của Dịch Chiết Cây Mảnh Cộng Clinacanthus Nutans Tại Thái Nguyên" của tác giả Nông Thị Cẩm Tú, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Xuân Vũ và BSCKII. Lương Thị Hồng Nhung, trình bày một nghiên cứu quan trọng về khả năng kháng khuẩn của dịch chiết từ cây Mảnh Cộng. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin về tính chất kháng khuẩn của cây mà còn mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các sản phẩm tự nhiên phục vụ cho y tế. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về ứng dụng của cây thuốc trong điều trị bệnh, cũng như tiềm năng của nó trong việc phát triển các loại thuốc kháng khuẩn.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến y học và dược học, hãy tham khảo thêm bài viết "Thực Trạng Kê Đơn Thuốc Trong Điều Trị Ngoại Trú Tại Trung Tâm Y Tế Huyện Kon Rẫy, Tỉnh Kon Tum Năm 2022", nơi phân tích thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú. Bài viết này có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình kê đơn và các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về "Phân Tích Thực Trạng Tồn Trữ Vaccine Tại Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật TP.HCM Năm 2022", một nghiên cứu quan trọng về việc quản lý và bảo quản vaccine, điều này có liên quan mật thiết đến khả năng kháng khuẩn và sức khỏe cộng đồng.

Cuối cùng, bài viết "Thực Trạng Kê Đơn Thuốc Trong Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đa Khoa Vùng Tây Nguyên Năm 2022" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về lĩnh vực này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các vấn đề liên quan đến y tế và dược phẩm.