Đặt vấn đề Cây Mảnh cộng, một số nơi gọi là cây Bìm bịp, Tiểu cốt tiếp ở Trung Quốc gọi là cây Thanh tiễn, Trúc tiết hoàng hay Tiểu cốt tiếp (Tiểu là nhỏ - cốt tiếp là nối liền xương). Tên khoa học của loài cây là Clinacanthus nutans Burm.f Lindau, thuộc họ Ô rô (Acanthaceae). Trên thế giới Mảnh cộng phân bố chủ yếu ở Malaysia, Lào, Campuchia, Myanma, Trung Quốc và Việt Nam [24]. Trên thế giới, cây Mảnh cộng được phát hiện đầu tiên từ dãy Hymalaya thuộc biên giới của Trung Quốc và Ấn Độ.
Tại các nước có phát hiện và khai thác Clinacanthus nutans đều biết đến chúng chủ yếu theo hướng dùng làm thuốc điều trị hỗ trợ mau lành vết thương, các bệnh liên quan đến xương khớp [24]. Trong cây có một số chất như alkaloid, carbohydrate, teroid, sterpenoid, flavonoid, tanin và polyphenol, tinh chất saponin - paridin C16H28O7 và tinh chất paristaphin C38H64O18 đều là một glucozit có lợi cho sức khỏe. Trong thân rễ và quả Mảnh cộng, người ta chiết xuất được một chất nhựa gọi là paridol [6]. Một số tác dụng nổi bật của cây dưới đây cho thấy, Mảnh cộng đang là đối tượng quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới như nghiên cứu của Lee và cộng sự, hợp chất steroid saponin (polyphylin D) của cây Mảnh cộng có thể được sử dụng trong hỗ trợ điều trị cho các bệnh nhân liên quan đến xương và chấn thương ngoại khoa.
Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng các hợp chất của cây mảnh cộng có khả năng kháng một số vi khuẩn như: Bacillus dysentery, B. Năm 2008, Deng và cộng sự đã đánh giá hoạt tính kháng nấm của saponin từ cây Mảnh cộng với Cladosporium cladosporioides và loài Candida. Tác giả cũng so sánh và thấy được tính ưu việt trong hoạt động của saponin tách từ cây Mảnh cộng với các hóa chất khác cùng sử dụng có trong một số sản phẩm thương mại. Giá trị sử dụng của cây dược liệu trên thế giới nói chung và hiệu quả chữa bệnh của Mảnh cộng nói riêng làm cho các loài quý hiếm có nguy cơ ngày càng cạn kiệt [24].
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), 80% dân số dựa vào nền y học cổ truyền để chăm sóc sức khoẻ, trong đó chủ yếu là thuốc từ cây cỏ. Sự quan tâm về các hệ thống y học cổ truyền, đặc biệt là các loại thuốc thảo dược đã ngày càng gia tăng tại các nước phát triển và đang phát triển [16]. Các thị trường thảo dược tăng trưởng nhanh chóng và Luan van 2 mang lại nhiều lợi nhuận kinh tế. Ước tính, việc mua bán trao đổi cây dược liệu hàng năm đem lại khoảng 60 triệu USD (WorldBank, 2004), tăng so với những năm trước khoảng 7%.
Khoảng 3500 cây thuốc được buôn bán trên thế giới. Có ít nhất 2000 cây thuốc được sử dụng ở châu Âu. Ở Ấn Độ, y học Ayurvedic (hệ thống y học hơn 5000 năm tuổi) sử dụng khoảng 2000 loài thực vật để chữa bệnh, có 80% các bệnh được chữa trị bằng thực vật. Trong số các loại cây thuốc được sử dụng, có đến 90% thảo dược được thu hái hoang dại, một số ít hiện nay được trồng với quy mô nhỏ lẻ.
Có khoảng vài trăm loài được trồng ở các nước trên thế giới, 20-50 loài ở Ấn Độ, 100 - 250 loài ở Trung Quốc [24]. Thấy được tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc, nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có các nước đang phát triển đã xây dựng những khu vực bảo tồn cây thuốc. Các khu bảo tồn như: Guatemala, Nepal, Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập, Nam Phi. là nơi quan trọng lưu giữ các nguồn gen quý hiếm của nhân loại.
Theo báo cáo của Tổ chức bảo tồn quốc tế (IUCN, 2003) số khu bảo tồn trên toàn thế giới tính đến năm 2003 là hơn 100 nghìn khu, với tổng diện tích ước tính là 18,8 triệu km2, chiếm 11,5% diện tích bề mặt trái đất, tăng hơn 100 lần so với năm 1962 khoảng hơn 1. Và cũng theo tổ chức này, Clinacanthus nutans (Satuwa) là một trong những cây thuốc được liệt kê trong nhóm dễ bị tổn thương, việc tìm kiếm hạt giống rất khó khăn và hạt giống rất khó nảy mầm trong điều kiện phòng thí nghiệm. Nhiều nhà khoa học đã tuyên truyền phổ biến việc sử dụng có hiệu quả của cây Mảnh cộng và đồng thời cần thiết phải có kế hoạch bảo tồn loài thực vật này [24].Cây Mảnh cộng Luan van 3 Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km2, Việt Nam là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới. Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật.
Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Indo - Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nước ta trở thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao trên thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới [10][19][24]. Ở Việt Nam, cây Mảnh cộng không nằm trong danh sách được bảo tồn ở sách đỏ, quý hiếm theo nghị định 60, Sách đỏ Việt Nam và danh mục cây thuốc Việt Nam, hiện cây phân bố rải rác ngoài tự nhiên thường gặp ở các tỉnh có một phần diện tích tự nhiên là núi đá vôi như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Yên Bái, vườn Quốc gia Yok Don (Đắk Lắk)…[4][10][19]. Cây Mảnh cộng đã thấy được đem trồng ở vườn của một số ông lang ở miền Bắc, là cây thuốc đông Y trong một số bài cổ truyền dân gian của đồng bào dân tộc Dao, Tày, Nùng, Thái.
ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam [16]. Cây được sử dụng trong việc điều trị hỗ trợ mau lành vết thương, các bệnh liên quan đến xương khớp, tăng khả năng kháng khuẩn, giải độc. Người dân bản địa thường xuyên quen với việc sử dụng thuốc nam, các loại thực vật rừng trong một số điều trị một số bệnh hay gặp trong cộng đồng hoặc một số tổn thương trên cơ thể do sự sơ xuất trong quá trình lao động sản xuất ví dụ: Khi bị ngã hay va đập liên quan đến rạn tổn thương đến cơ – xương tay hoặc chân đồng bào dân tộc Dao ở Lạng Sơn được các thầy thuốc đông Y (thầy lang) sử dụng lá cây Mảnh cộng để đắp hỗ trợ chữa trị, giải pháp tương tự như bó bột của y học hiện nay, nhưng hiệu quả điều trị đem lại là tương đương nhau sau hai tuần điều trị [16]. Là cây dược liệu y học cổ truyền nằm trong các bài thuốc dân gian và thường chỉ biết đến qua các người dân bản địa giàu kinh nghiệm hay các thầy lang, do vậy cây Mảnh cộng chỉ được biết đến là cây thường mọc ở rừng nguyên sinh và thứ sinh nghèo, nơi có độ cao từ 100 – 200 m trở lên so với mặt nước biển.
Về đặc điểm thực vật: Mảnh cộng là loài cây nhỏ, mọc trườn, thành bụi, chiều cao có thể lên đến 3m. Luan van 4 Lá nguyên, cuống ngắn, phiến lá dài hình thuôn hay hình mác, mặt lá hơi nhẵn có màu xanh thẫm. Hoa màu đỏ hay hồng, rủ xuống ở ngọn, tràng hoa có 2 môi, môi dưới có 3 răng, bao phấn vàng xanh, nang dài 1,5 cm. Quả hình truỳ dài khoảng 1,5 cm, cuống quả ngắn, quả chứa khoảng 4 hạt [6][16][24].
Nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá về sinh giới này, có thể đáp ứng những nhu cầu hiện tại và tương lai của chúng ta trong quá trình phát triển về kinh tế, y tế. Tuy nhiên thay vì bảo tồn nguồn tài nguyên này, thì trong thực tế hoạt động khai thác quá mức và bừa bãi nguồn tài nguyên quý giá này. Nhiều loài hiện đã trở nên hiếm, một số loài đang có nguy cơ bị diệt vong. Hiện nay, nguồn tài nguyên này đang suy thoái nhanh chóng.
Nhiều báo cáo đã ghi nhận sự biến mất của các loài thực vật bị đe dọa ở Việt Nam trong đó có những loài cây thuốc quý có tên trong sách đỏ do tình trạng khai thác không có kế hoạch. Khi các loài thực vật biến mất khỏi tự nhiên, đó là sự ra đi vĩnh viễn và nguồn gen không thể tái tạo được [1][2][10][18]. Có thể nói rằng các nghiên cứu về cây dược liệu quý nói chung và cây Mảnh cộng nói riêng hiện nay mới chỉ tập trung vào việc sử dụng phục vụ y học cổ truyền, chưa thấy công bố, công trình nghiên cứu tách chiết dược chất cơ bản, các chất sinh học quý và hoàn toàn chưa chú ý đến nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen [16]. Do vậy nguồn gen cây Mảnh cộng đang bị đe dọa do khai thác quá mức bởi các cá nhân, doanh nghiệp, thương lái thu mua bán ra nước ngoài.
Đã có một số nghiên cứu tái sinh cây ngoài tự nhiên bằng hạt, giâm cành. nhưng tỷ lệ tái sinh không cao. Ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô thực vật sẽ là giải pháp khắc phục hạn chế này, đồng thời cũng là định hướng nghiên cứu bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững nguồn gen cây Mảnh cộng trước khi chúng bị cạn kiệt và tuyệt nguy cơ bị diệt vong. Hiện nay, nguồn tài nguyên này đang suy thoái nhanh chóng.
Nhiều báo cáo đã ghi nhận sự biến mất của các loài thực vật bị đe dọa ở Việt Nam trong đó có những loài cây thuốc quý có tên trong sách đỏ do tình trạng khai thác không có kế hoạch. Khi các loài thực vật biến mất khỏi tự nhiên, đó là sự ra đi vĩnh viễn và nguồn gen không thể tái tạo được [2][9][19]. Luan van 5 Theo số liệu điều tra của Viện Dược liệu năm 2017 Việt Nam có tới 5.017 loài thực vật và nấm lớn, cây thuốc thuộc khoảng 270 họ thực vật. Các loài cây thuốc phân bố khắp các vùng sinh thái ở Việt Nam.
Trong số đó, phần lớn các cây thuốc là mọc tự nhiên và khoảng 20% đã được gieo trồng. Từ năm 1988, công tác bảo tồn nguồn gen cây thuốc đã được triển khai. Tuy vậy, trong số 848 loài cây thuốc được xác định cần bảo tồn mới chỉ có 120 loài, dưới loài được bảo tồn trong các vùng và các cơ sở nghiên cứu [1]. Hiện nay có rất nhiều vườn cây thuốc đã được thành lập, ngoài ra còn có hệ thống các vườn cây thuốc của các hộ gia đình làm nghề thuốc nam và thuốc bắc [13][16].