ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh viện là nơi khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân, thực hiện năng lực và vai trò của ngành y tế trong chiến lược chăm sóc sức khỏe và bảo vệ con người. Trong đó khoa học dược giữ vai trò quan trọng trong công tác cung ứng và hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý an toàn và hiệu quả cho người bệnh. Kê đơn thuốc không đúng chỉ định, liều dùng, thời gian dùng, kê quá nhiều thuốc trong một đơn, kê đơn thuốc với tên biệt dược đã gây ra hiện tượng kháng kháng sinh, lạm dụng thuốc và gây lãng phí không cần thiết. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã chỉ ra rằng việc sử dụng thuốc hợp lý đòi hỏi người bệnh phải nhận được liệu pháp điều trị phù hợp với tình trạng lâm sàng của họ, với liều lượng phù hợp trong một khoảng thời gian thích hợp, với chi phí thấp nhất cho họ và cộng đồng.
Sử dụng thuốc hợp lý là việc dùng thuốc đáp ứng được yêu cầu lâm sàng của người bệnh ở liều thích hợp trên từng cá thể người bệnh (đúng liều, đúng khoảng cách đưa thuốc và thời gian sử dụng thuốc), đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng, khả năng cung ứng và có giá cả phù hợp nhằm giảm tới mức thấp nhất chi phí cho người bệnh và cộng đồng. Việc sử dụng thuốc hợp lý đang trở thành một vấn đề toàn cầu tuy nhiên hiện nay có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến việc sử dụng thuốc không hợp lý. Việc kê quá nhiều thuốc trong một đơn, lạm dụng kháng sinh, vitamin, kê đơn không phải thuốc thiết yếu mà là thuốc có tính thương mại cao đangcó nguy cơ phát triển và khó kiểm soát tại nhiều cơ sở y tế. Tại Việt Nam có nhiều bất cập về việc kê đơn thuốc ngoại trú, đơn thuốc sử dụng không hợp lý xảy ra ở nhiều bệnh viện trên cả nước, kê đơn không đúng quy chế, kê quá nhiều thuốc trong một đơn, kê đơn với nhiều biệt dược, kê đơn không phải là thuốc thiết yếu mà là thuốc có tính thương mại cao đang có nguy cơ phát triển và khó kiểm soát ở nhiều cơ sở điều trị.
Bên cạnh đó, khía cạnh kinh tế thị trường cũng tác động rất lớn đến việc kê đơn thuốc của Bác sĩ. Kê đơn không đúng dẫn đến việc điều trị không hiệu quả và không 1 an toàn, làm bệnh không khỏi, làm cho bệnh nhân lo lắng, chưa kể đến chi phí điều trị cao. Trước tình hình đó Bộ y tế đã ra Thông tư 52/2017/TT-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2017 quy định về đơn thuốc và việc kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú và Thông tư 18/2018/TT-BYT ( ngày 22/08/2018; sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 52/2017-BYT), Thông tư 23/2011/TT-BYT hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh. Các quy định này là các văn bản pháp lý góp phần quản lý chặt chẽ việc kê đơn thuốc với mục đích hướng đến việc đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, và hiệu quả cho người dân.
Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên là Bệnh viện đa khoa hạng I với hơn 1000 giường bệnh. Nhằm đánh giá tình hình kê đơn ngoại trú tại Bệnh viện, tôi lựa chọn đề tài: “Phân tích thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên năm 2022” với mục tiêu sau: 1. Phân tích một số chỉ số kê đơn thuốc điều trị ngoại trú bảo hiểm y tế tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên năm 2022. Phân tích thực trạng kê đơn thuốc điều trị kháng sinh trong điều trị bảo hiểm y tế tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên năm 2022.
Từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm đánh giá việc thực hiện một số quy định về kê đơn thuốc đạt được mục tiêu sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả. Kê đơn thuốc ngoại trú và các tiêu chí đánh giá 1. Định nghĩa về đơn thuốc Đơn thuốc Đơn thuốc là tài liệu chỉ định dùng thuốc của bác sĩ cho người bệnh. Đơn thuốc là căn cứ để bán thuốc, cấp phát thuốc, pha chế thuốc, cân (bốc) thuốc, sử dụng thuốc và hướng dẫn sử dụng thuốc [8].
Nội dung của đơn thuốc Theo khuyến cáo của WHO thì một đơn thuốc đầy đủ bao gồm các nội dung sau: 1. Tên, địa chỉ của người kê đơn và số điện thoại (nếu có). Ngày, tháng kê đơn. Tên thuốc khuyến cáo là gốc, hàm lượng thuốc.
Dạng thuốc, tổng lượng thuốc. Hướng dẫn sử dụng, cảnh báo. Tên, tuổi, địa chỉ của bệnh nhân. Chữ ký của người kê đơn [3].
Theo điều 6, Thông tư 52/2017/TT-BYT ngoài những điểm mới quy định về ghi địa chỉ, ghi tuổi của trẻ dưới 72 tháng tuổi…đã nêu, yêu cầu chung về nội dung kê đơn thuốc như sau. - Ghi đủ, rõ ràng và chính xác các mục in trong Đơn thuốc hoặc trong sổ khám bệnh của người bệnh. - Kê đơn thuốc theo quy định như sau: Thuốc có một hoạt chất; theo tên chung quốc tế (INN, generic); Ví dụ: thuốc có hoạt chất là Paracetamol, hàm lượng 500mg thì ghi tên thuốc như sau: Paracetamol 500mg; Theo tên chung quốc tế + (tên thương mại); Ví dụ: thuốc có hoạt chất là Paracetamol, hàm lượng 500mg, tên thương mại là A thì ghi tên thuốc như sau: Paracetamol (A) 3 500mg; Thuốc có nhiều hoạt chất hoặc sinh phẩm y tế thì ghi theo tên thương mại. - Ghi tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, số lượng/thể tích, liều dùng, đường dùng, thời điểm dùng của mỗi loại thuốc.
Nếu đơn thuốc có thuốc độc phải ghi thuốc độc trước khi ghi các thuốc khác. - Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa. - Số lượng thuốc chỉ có một chữ số (nhỏ hơn 10) thì viết số 0 phía trước. - Trường hợp sửa chữa đơn thì người kê đơn phải ký tên ngay bên cạnh nội dung sửa.
- Gạch chéo phần giấy còn trống từ phía dưới nội dung kê đơn đến phía trên chữ ký của người kê đơn theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải; ký tên, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người kê đơn [16]. Chỉ số kê đơn và sử dụng thuốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã định nghĩa việc sử dụng thuốc hợp lý là bệnh nhân được dùng thuốc phù hợp với nhu cầu lâm sàng của họ, với liều lượng đáp ứng yêu cầu cá nhân của họ, trong một khoảng thời gian thích hợp và với chi phí thấp nhất cho họ và cộng đồng của họ. Thông tin về các chỉ số và ý nghĩa của chỉ số kê đơn được thể hiện qua bảng 1. Các chỉ số và ý nghĩa của chỉ số kê đơn theo WHO Chỉ số Ý nghĩa Để đo lường mức độ tổng thể của sự việc sử dụng loại thuốc quan trọng, Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh nhưng thường bị lạm dụng và tốn kém trong chi phí điều trị bằng thuốc Để đo lường mức độ tổng thể của việc Tỷ lệ phần trăm đơn kê có TPCN sử dụng loại thuốc quan trọng, nhưng 4 thường bị lạm dụng và tốn kém trong chi phí điều trị bằng thuốc Số thuốc trung bình trong một đơn Để đo mức độ đơn kê nhiều thuốc Tỷ lệ phần trăm của các thuốc được Để đo lường xu hướng kê đơn theo kê theo tên generic tên generic Để đo mức độ thực hành phù hợp Tỷ lệ phần trăm của các thuốc được với chính sách quốc gia, bằng việc chỉ kê thuộc danh mục thuốc thiết yếu ra việc thực hiện kê đơn từ danh sách hoặc danh mục thuốc chủ yếu thuốc chủ yếu đối với từng loại hình cơ sở khảo sát.
Ngoài ra theo thông tư 21/2013/TT-BYT ban hành ngày 08 tháng 8 năm 2013 quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện cũng đưa ra các chỉ số sử dụng thuốc WHO/INRUD [10] cho cơ sở y tế ban đầu, bao gồm: Các chỉ số kê đơn - Số thuốc kê trung bình trong một đơn. - Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê tên generic hoặc tên quốc tế chung (INN). - Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh. - Tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc tiêm.
- Tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc vitamin. - Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê có trong danh mục thuốc thiết yếu do Bộ Y tế ban hành [15]. Các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện - Tỷ lệ phần trăm người bệnh được điều trị không dùng thuốc. - Chi phí trung bình cho mỗi đơn thuốc.
- Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho kháng sinh. - Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho thuốc tiêm. 5 - Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho vitamin. - Tỷ lệ phần trăm đơn kê phù hợp với phác đồ điều trị.
- Tỷ lệ phần trăm người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe. - Tỷ lệ phần trăm cơ sở y tế tiếp cận được với các thông tin khách quan [15]. Thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú 1. Trên thế giới Theo Tổ chức Y tế thế giới có 50% thuốc được cấp phát, phân phối hoặc bán không phù hợp, trong khi có tới 50% bệnh nhân sử dụng thuốc không hợp lý [4].
Một nghiên cứu gần đây về tác hại việc sử dụng thuốc không hợp lý tại Mỹ cho thấy sử dụng thuốc không hợp lý là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của Mỹ và uớc tính hằng năm đất nước này phải chi từ 30 tỷ USD đến 130 tỷ USD do tác hại của việc sử dụng thuốc không hợp lý gây ra [13]. Ở nhiều nước đang phát triển, người ta đã thống kê số thuốc được bán ra cao hơn rất nhiều so với số lượng bệnh tật cần điều trị. Kết quả phân tích cho thấy, có khoảng 45% bệnh nhân trên toàn cầu có sử dụng kháng sinh khi ốm đau, đặc biệt tỉ lệ này lên tới 70% ở một số nước như Indonesia, Ấn Độ, Pakistan. Nghiên cứu về việc kê đơn tại một số bệnh viện thực hành ở Thái Lan Udomthavomusuk cho thấy có tới 52,3% dùng kháng sinh không đúng và không cần thiết.
Việc sử dụng kháng sinh dự phòng ngoại khoa cũng có tỷ lệ không hợp lý cao (79,7%) [7]. Tổ chức Y tế thế giới ở khu vực Đông và Nam Á (WHO/SEARO) đã thực hiện các chiến lược khu vực để thúc đẩy sử dụng thuốc hợp lý (RUM), cập nhật tại các cuộc họp vào tháng 7 năm 2010, đề nghị thực hiện phân tích tình hình sử dụng thuốc tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe nhằm đưa ra kế hoạch phối hợp để cải thiện tình hình sử dụng thuốc, sử dụng một công cụ được thiết kế sẵn.