Luận văn thực trạng chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa tỉnh hà giang

Nghiên cứu thực trạng chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang. Đánh giá thực tiễn và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp I

2020

39
39
4

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện

1.2. Quy trình đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi

3. CHƯƠNG 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

2.1. Một số thông tin khái quát về bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang năm 2020

2.2. Thực trạng chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang năm 2020

2.2.1. Thông tin chung về điều dưỡng tham gia khảo sát

2.2.2. Thực trạng kiến thức của điều dưỡng về chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi

4. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu và Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn "Thực trạng chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang" của Hoàng Thị Lê, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định năm 2020, tập trung vào một kỹ năng cơ bản nhưng quan trọng của điều dưỡng: tiêm/truyền tĩnh mạch. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng kim luồn tĩnh mạch ngoại vi, một phương pháp an toàn và hiệu quả hơn so với kim sắt truyền thống, đặc biệt trong trường hợp cần tiêm truyền nhiều lần hoặc kéo dài. Tác giả chỉ ra rằng chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi đòi hỏi tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật để đảm bảo an toàn cho người bệnh và là một thách thức đối với điều dưỡng, nhất là ở các khoa cấp cứu, hồi sức và ngoại khoa. Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả thực trạng và đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại trong việc chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang. Điều này thể hiện qua việc tác giả đặt vấn đề về việc tuân thủ quy trình kỹ thuật tại bệnh viện và mong muốn tìm ra giải pháp để nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.

II. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận về nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện theo Thông tư số 07/2011/TT-BYT, nhấn mạnh người bệnh là trung tâm và việc tuân thủ quy trình kỹ thuật là bắt buộc. Tác giả trình bày chi tiết quy trình đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi, bao gồm chỉ định, chống chỉ định, các bước thực hiện, cũng như các tai biến có thể xảy ra. Việc sử dụng kim luồn được nhấn mạnh với các ưu điểm như giảm đau, giảm nhiễm khuẩn và tạo sự thoải mái cho người bệnh. Phần cơ sở thực tiễn, luận văn trích dẫn nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước về kiến thức và thực hành của điều dưỡng trong chăm sóc đường truyền tĩnh mạch. Ví dụ, nghiên cứu của Cicolini và cộng sự (2012) cho thấy kiến thức của điều dưỡng về phòng chống nhiễm khuẩn liên quan đến catheter tĩnh mạch ngoại vi còn hạn chế. Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng chỉ ra những tồn tại trong việc tuân thủ quy trình kỹ thuật, như nghiên cứu của Nguyễn Kim Sơn (2014) tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Điều này cho thấy vấn đề được nghiên cứu mang tính thời sự và cần thiết.

III. Thực trạng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang

Nghiên cứu được thực hiện tại ba khoa: Cấp cứu, Hồi sức tích cực và Ngoại tổng hợp của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang, với 40 điều dưỡng tham gia và 143 lượt quan sát. Kết quả khảo sát cho thấy sự chênh lệch về trình độ chuyên môn của điều dưỡng, phần lớn là nữ, tốt nghiệp trung cấp và có thâm niên 5-10 năm. Về kiến thức, hầu hết điều dưỡng nắm vững các kiến thức cơ bản về đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi, như vị trí đặt kim, sát khuẩn da, sử dụng gạc vô khuẩn. Tuy nhiên, luận văn chưa đề cập cụ thể đến tỷ lệ và mức độ nắm vững kiến thức của điều dưỡng về các tai biến và cách xử trí. Tác giả cũng trình bày số liệu về thực trạng tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi, nhưng chưa phân tích sâu vào những bước nào được tuân thủ tốt, những bước nào còn hạn chế. Việc thiếu phân tích chi tiết này khiến người đọc khó hình dung được bức tranh toàn cảnh về thực trạng tại bệnh viện.

IV. Đánh giá và ứng dụng thực tiễn

Luận văn cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang. Việc khảo sát cả kiến thức và thực hành của điều dưỡng là một điểm mạnh của nghiên cứu. Tuy nhiên, luận văn còn hạn chế ở việc phân tích số liệu và làm rõ những tồn tại cụ thể. Cần có thêm phân tích về mối liên hệ giữa kiến thức, thực hành và các yếu tố như trình độ chuyên môn, thâm niên công tác của điều dưỡng. Các đề xuất giải pháp cũng cần được cụ thể hóa hơn, ví dụ như các chương trình đào tạo, tập huấn, hướng dẫn thực hành, kiểm tra và giám sát. Mặc dù vậy, luận văn vẫn có giá trị thực tiễn trong việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc tuân thủ quy trình kỹ thuật trong chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm cơ sở để xây dựng các chương trình can thiệp nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh tại bệnh viện và các cơ sở y tế khác.

10/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện và nhiệm vụ thực hiện quy trình kỹ thuật chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên được thể hiện rõ trong Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, cụ thể: * Nguyên tắc chăm sóc người bệnh - Người bệnh là trung tâm của công tác chăm sóc nên phải được chăm sóc toàn diện, liên tục, bảo đảm hài lòng, chất lượng và an toàn. - Chăm sóc, theo dõi người bệnh là nhiệm vụ của bệnh viện, các hoạt động chăm sóc điều dưỡng, theo dõi do điều dưỡng viên, hộ sinh viên thực hiện và chịu trách nhiệm. - Can thiệp điều dưỡng phải dựa trên cơ sở các yêu cầu chuyên môn và sự đánh giá nhu cầu của mỗi người bệnh để chăm sóc phục vụ.

[1] * Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng. - Bệnh viện có các quy định, quy trình kỹ thuật điều dưỡng phù hợp, cập nhật trên cơ sở các quy định, hướng dẫn của Bộ Y tế. - Điều dưỡng viên, hộ sinh viên phải tuân thủ quy trình kỹ thuật chuyên môn, kỹ thuật vô khuẩn. - Điều dưỡng viên, hộ sinh viên thực hiện các biện pháp phòng ngừa, theo dõi phát hiện và báo cáo kịp thời các tai biến cho bác sĩ điều trị để xử trí kịp thời.

Quy trình đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi * Kim luồn tĩnh mạch ngoại vi Kỹ thuật tiêm truyền tĩnh mạch được thực hiện bằng kim luồn TMNV là phương pháp tiêm, truyền tĩnh mạch sử dụng loại kim làm bằng ống nhựa 4 mềm luồn vào trong lòng mạch. Những trường hợp tĩnh mạch của người bệnh khó đặt kim, cần tiêm truyền tĩnh mạch kéo dài như trẻ nhỏ, người béo, người bệnh nặng. thì việc sử dụng kim luồn tĩnh mạch là điều cần thiết. Được sử dụng phổ biến trong lâm sàng bởi nhiều ưu điểm: giảm đau đớn cho người bệnh, giảm nguy cơ nhiễm khuẩn và giảm áp lực công việc cho người điều dưỡng.

Đường truyền ổn định: truyền tĩnh mạch sử dụng kim luồn sẽ giúp đường truyền ổn định do kim được luồn sâu trong lòng mạch và kim lại mềm (độ đàn hồi tốt) nên tránh được va chạm với thành mạch mỗi khi người bệnh thay đổi tư thế hoặc di chuyển. Tạo sự an toàn và thoải mái cho người bệnh trong thời gian truyền dịch, đặc biệt đối với những trường hợp cần phải truyền với thời gian kéo dài trong nhiều giờ, nhiều ngày. Cấu tạo của kim luồn Phần đốc kim Phần thân kim Phần nòng kim Đầu báo * Quy trình đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi (Bảng 2.4) Quy trình đặt kim luồn tĩnh mạch ngoại vi là thủ thuật thường quy của điều dưỡng, mặc dù được coi là thủ thuật đơn giản nhưng là một thủ thuật xâm lấn và có khả năng cứu sống cao, đồng thời đòi hỏi người thực hiện quy trình có kỹ năng tốt và nhiều kinh nghiệm. - Chỉ định 5 + Các trường hợp người bệnh cần hồi sức cấp cứu: sốc, trụy mạch, suy hô hấp, hôn mê, ngừng tuần hoàn… + Tiêm, truyền thuốc qua đường tĩnh mạch + Truyền dịch liên tục + Truyền dịch ngắt quãng + Truyền máu và các chế phẩm của máu + Trước khi làm thủ thuật, phẫu thuật, các thuốc cản quang… + Các trường hợp cần nuôi dưỡng tĩnh mạch ngắn ngày - Chống chỉ định: Vùng tĩnh mạch bị tổn thương, bị nhiễm khuẩn, bầm tím, bỏng.

* Quy trình chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi.5) Quy trình chăm sóc đường truyền TMNV áp dụng cho tất cả các bệnh nhân được đặt và lưu kim luồn. - Tai biến sớm: Đâm nhầm vào động mạch, thoát mạch, tụ máu, tuột kim - Tai biến muộn: Viêm tĩnh mạch, nhiễm khuẩn tại chỗ, nhiễm khuẩn toàn thân - Một số tai biến khác: Co thắt tĩnh mạch, kích ứng tại nơi truyền, Quá tải tuần hoàn, Dị ứng thuốc, Tổn thương dây chằng, dây thần kinh, Tắc mạch do khí.2 Cơ sở thực tiễn 1. Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã tiến hành nhiều nghiên cứu về thực hành của người điều dưỡng, điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng của thực hành điều dưỡng trong công tác chăm sóc người bệnh. Nghiên cứu của Cicolini và cộng sự về kiến thức của điều dưỡng trong việc phòng chống nhiễm khuẩn liên quan đến các Catheter TMNV dựa trên bằng chứng được đăng tải trên Pubmed.

Nghiên cứu tiến hành từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 6 năm 2012 trên mười sáu bệnh viện từ sáu khu vực của Ý và 933 câu hỏi đã được thu thập. Điểm số trung bình của các điều dưỡng 6 tham gia nghiên cứu là 6/10. Phần lớn các điều dưỡng biết về việc có khuyến cáo nên thay thế Catheter TMNV thường xuyên (90%), để thực hiện một kỹ thuật vô trùng trong quá trình kết nối / ngắt kết nối dòng truyền (55,2%), và thay thế hệ thống truyền (dây nối và catheter) trong vòng 24 giờ khi truyền nhũ tương, lipid (88,4%). Đáng chú ý 52,6% điều dưỡng ủng hộ việc sử dụng kim thép, một thực hành có nguy cơ tiềm ẩn.

Điều này có thể là một yếu tố nguy cơ tiềm tàng cho sự an toàn của người bệnh [7]. Omorogbe và một số nhà nghiên cứu của Nigeria đã tiến hành nghiên cứu đánh giá kiến thức và thực hành TAT đối với các điều dưỡng trong khi làm nhiệm vụ trong bệnh viện tại thành phố Benin vào tháng 2-3/năm 2012. 122 điều dưỡng được hỏi qua bảng hỏi có cấu trúc. Kết quả cho thấy kiến thức của các điều dưỡng về TAT là thấp (55,7%) nhưng thực hành của họ đạt “Tốt” (48,4%) và “Xuất sắc” (47,5%).

Hai mươi tám (23,0%) và 40 (32,8%) trả lời thường xuyên hoặc đôi khi sử dụng kim. Đa số (71 [58,2%]) số người được hỏi đã bị thương do kim đâm nhưng chỉ có 4 (0,6%) trả lời đã có một dự phòng sau khi bị kim đâm. Nghiên cứu này cho thấy cần có các buổi tổ chức hội thảo, tập huấn thường xuyên để nâng cao kiến thức và thực hành về TAT cho điều dưỡng của thành phố này [8]. Sessa và cộng sự đã tiến hành một cuộc điều tra về kiến thức, thái độ và thực hành về chống nhiễm khuẩn của các điều dưỡng bệnh viện Ý vào năm 2011.

Cuộc phỏng vấn mặt đối mặt để thu thập các thông tin như đặc điểm nhân khẩu học, thực hành, kiến thức về các bệnh truyền nhiễm liên quan đến sức khỏe.Kết quả cho thấy những điều dưỡng có điểm trung bình về thái độ đối với các thực hành chống nhiễm khuẩn là khá cao 9,1/10. Điều dưỡng có trình độ giáo dục cao hơn và có nhận thức cao hơn về nguy cơ lây bệnh truyền nhiễm trong khi làm việc có nhiều khả năng thực hành các biện pháp chống nhiễm khuẩn khi chăm sóc vết thương phẫu thuật, rửa tay trước và sau khi dùng thuốc cao hơn [9]. Các nghiên cứu tại Việt Nam Một số nghiên cứu về thực hành điều dưỡng đã được tiến hành trước đó như: Nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc kim luồn TMNV của điều dưỡng và một số yếu tố liên quan tại ba khoa Hồi sức Bệnh viện nhi trung ương năm 2014” do Nguyễn Kim Sơn thực hiện. Nghiên cứu sử dụng bảng kiểm quan sát điều dưỡng thực hiện quy trình kỹ thuật đặt và chăm sóc catherte tĩnh mạch ngoại vi.

Kết quả cho thấy đối với quy trình đặt kim luồn: phần chuẩn bị dụng cụ tất cả điều dưỡng đã chuẩn bị đầy đủ những dụng cụ cần thiết để thực hiện quy trình. Phần điều dưỡng tuân thủ thấp nhất là “Kim không ngập trong mạch máu” với chỉ 20 trong tổng số 82 quan sát tương ứng 24,4% là thực hiện đúng với quy trình của bệnh viện. Tiếp theo là vấn đề trang phục của ĐDV chỉ có 21 quan sát tương ứng 25,6% là thực hiện đúng theo quy định: đội mũ, đeo khẩu trang và mặc trang phục quy định của khoa hồi sức. Hơn 90% ĐDV rút thông nòng dần dần rồi đẩy kim vào mạch máu (98,8%).

Đối với quy trình chăm sóc kim luồn: Đối với quy trình chăm sóc kim luồn TMNV đặt trên người bệnh thì chỉ có 13 phần trong quy trình được ĐDV thực hiện đầy đủ ở tất cả 148 quan sát, gần 1/3 quan sát tháo nút đầu nối đảm bảo vô khuẩn (28,4%) trong khi gần một nửa quan sát là có chuẩn bị Gạc vô khuẩn(42,6%). Chưa đến một nửa quan sát ĐDV mặc trang phục không đúng quy định (46,6%). Tỷ lệ điều dưỡng rửa tay hoặc sát khuẩn nhanh trước khi thực hiện y lệnh (90,5%) cao hơn sau khi thực hiện y lệnh phải rửa tay (65,5%). Hơn 80% các ĐDV thực hiện Bơm nước cất sau tiêm, truyền dịch (83,8%), kiểm tra sự lưu thông của kim luồn (88,5%), sát khuẩn và để khô đầu nút kim sau khi sát khuẩn (89,9%).[2] Nghiên cứu “ Kiến thức, thực hành của điều dưỡng về chăm sóc catherte tĩnh mạch ngoại vi và thực trạng lưu kim catherte tĩnh mạch ngoại vi tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh năm 2019” do Trần Thị Việt Hoa, Phùng Mỹ Hạnh thực hiện.

Nghiên cứu sử dụng phiếu phỏng vấn và bảng kiểm quan sát điều dưỡng thực hiện quy trình kỹ thuật đặt và chăm sóc 8 catherte tĩnh mạch ngoại vi. Kết quả cho thấy: Kiến thức của điều dưỡng về chăm sóc catherte tĩnh mạch ngoại vi những nội dung hiểu biết về kiến thức chiếm tỷ lệ cao, rửa tay trước khi đặt 100%, sát trùng da ở vị trí đặt kim 100%. Một số nội dung chiếm tỷ lệ chưa cao, việc đặt kim luồn TMNV sẽ tăng khả năng nhiễm trùng cho người bệnh thông qua kim luồn 51,9%. Thực hành của điều dưỡng về chăm sóc catherte tĩnh mạch ngoại vi những nội dung kiến thức tỷ lệ cao, Tôi luôn duy trì kỹ thuật vô khuẩn trong quá trình chuẩn bị, thực hiện và loại bỏ kim luồn TMNV 100%.[3] Cùng đề tài về TAT trong năm 2012, tác giả Lê Thị Kim Oanh đã tiến hành “Can thiệp nâng cao tuân thủ QTKT tiêm truyền của điều dưỡng tại bệnh viện Bắc Thăng Long năm 2012”.

Cuộc khảo sát trước can thiệp của tác giả về sự tuân thủ quy trình tiêm gồm: Bước 1 chuẩn bị người bệnh đạt chuẩn là 3 (5,7%), trong đó khâu tuân thủ thấp nhất của điều dưỡng là Hướng dẫn người bệnh biết phát hiện bất thường và báo cáo là 8(15,1%). Mức độ tuân thủ bước 2 về chuẩn bị dụng cụ đạt chuẩn là 36 (67,9%) và có 3 trong 4 khâu của bước này đạt 100%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn thực trạng chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang" của tác giả Hoàng Thị Lê, dưới sự hướng dẫn của TS. Ngô Huy Hoàng, nghiên cứu về tình hình chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi tại các khoa lâm sàng của bệnh viện. Bài luận văn không chỉ nêu rõ thực trạng mà còn chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc, từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện. Đây là một tài liệu hữu ích cho các điều dưỡng viên và các nhà quản lý y tế nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác trong lĩnh vực điều dưỡng và chăm sóc sức khỏe, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Luận văn thực trạng thực hành chăm sóc vết thương sau mổ của điều dưỡng khoa ngoại tổng hợp bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020, nơi cũng nghiên cứu về quy trình chăm sóc trong môi trường bệnh viện. Bên cạnh đó, bạn có thể tìm hiểu thêm về Thực trạng hoạt động giáo dục sức khỏe của điều dưỡng và sự hài lòng của người bệnh tại bệnh viện quân y 354 năm 2017, bài viết này tập trung vào vai trò giáo dục sức khỏe trong chăm sóc bệnh nhân. Cuối cùng, bài viết Kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2020 - 2021 cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về chăm sóc bệnh nhân trong lĩnh vực điều dưỡng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về chăm sóc sức khỏe trong môi trường bệnh viện.