ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư đại trực tràng là căn bệnh ung thư phổ biến thứ ba trên thế giới. Theo Quỹ nghiên cứu ung thư quốc tế (World Cancer Research Fund), Ung thư đại trực tràng là ung thư thường gặp thứ ba ở nam giới và là bệnh ung thư phổ biến thứ hai ở phụ nữ [21], [43]. Theo số liệu của Tổ chức nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC), có đến hơn 1,8 triệu trường hợp mắc mới ung thư đại trực tràng vào năm 2018, chiếm 10,2% tổng số ca mắc mới ung thư trên thế giới và hơn 880 nghìn ca tử vong do ung thư đại trực tràng, chiếm 9.2% tổng số ca tử vong do ung thư trên toàn thế giới [42]. Nghiên cứu của Phạm Văn Bình trên 135 trường hợp được phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt cụt trực tràng tại bệnh viện K, thời gian sống thêm không bệnh tật và thời gian sống thêm toàn bộ ở nhóm người bệnh (NB) được hóa xạ trước mổ cao hơn nhóm người bệnh không được hóa xạ trước mổ [8],[10].
Để thành công trong điều trị các ca bệnh ung thư đại trực tràng (UTĐTT), điều trị và tuân thủ theo hướng dẫn của bác sỹ là vô cùng quan trọng, tuy nhiên việc chăm sóc sức khỏe cho người bệnh là phần không thể thiếu, đặc biệt là quá trình chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật. Người bệnh sau mổ ung thư đại trực tràng cần được chăm sóc và theo dõi một cách chặt chẽ, những bệnh nhân nặng và trải qua cuộc phẫu thuật lớn phải được theo dõi đặc biệt: như bệnh nhân có thời gian hồi sức kéo dài, có những biến chứng xảy ra trong lúc mổ và những bệnh nhân mổ cấp cứu. Điều dưỡng là người bên cạnh người bệnh 24/24 giờ, theo dõi sát các dấu hiệu sinh tồn như mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở. Duy trì dịch truyền sau mổ nhằm cân bằng nước, điện giải cho người bệnh.
Giúp bệnh nhân tự kiểm soát đau, theo dõi những bất thường, những biểu hiện sớm của các triệu chứng tái phát để thực hiện kịp thời các y lệnh của bác sỹ, góp phần hạn chế những biến chứng sau phẫu thuật, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người bệnh, đạt được sự hài lòng cao khi họ nằm viện. Tuy nhiên, đến nay còn ít nghiên cứu nói về chăm sóc, tư vấn, hướng dẫn người bệnh sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng tại bệnh viện, nên chúng tôi thực Thang Long University Library 2 hiện đề tài: “Kết quả chăm sóc ngƣời bệnh sau phẫu thuật ung thƣ đại trực tràng và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2020 - 2021” được tiến hành nghiên cứu với 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng của người bệnh sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Phân tích kết quả chăm sóc, tư vấn và một số yếu tố liên quan của người bệnh sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Sơ lƣợc giải phẫu, sinh lý đại trực tràng 1. Sơ lược giải phẫu đại trực tràng Đại trực tràng là phần cuối cùng của ống tiêu hóa trên cơ thể người, có chiều dài từ 1,4m đến 1,8m chiếm 1/5 tổng chiều dài cả ruột non và ruột già. Đường kính của đại tràng to nhất ở manh tràng 6 -7 cm, giảm dần đến đoạn đại tràng sigma, ở trực tràng có đoạn phình to gọi là bóng trực tràng.
Các đoạn của đại tràng và trực tràng (Nguồn https: http://bvbinhdan.vn/vn/hieu-ve-ung-thu-dai-truc-trang.html) Cấu tạo của thành đại tràng nhìn chung có 4 lớp: Lớp thanh mạc tạo bởi lá tạng của phúc mạc có túi thừa mạc nối Lớp dưới thanh mạc: lớp ngoài là cơ dọc tập chung thành 3 dải cơ. Phần giữa các dải cơ dọc thành đại tràng rất mỏng. Lớp trong là cơ vòng. Nằm giữa lớp cơ vòng và cơ dọc là mạng thần kinh Auerbach.
Lớp dưới niêm mạc: là tổ chức liên kết có nhiều mạch máu và thần kinh. Nằm trong lớp dưới niêm mạc là mạng thần kinh Meisser. Thang Long University Library 4 Lớp niêm mạc: niêm mạc đại tràng không có nhung mao như ruột non. Bề mặt của lòng đại tràng phẳng có nhiều hốc dạng ống thẳng.
Các hốc này chạy dài đến lớp mô đệm, được lót bởi các tế bào bài tiết chế nhầy và đôi khi có tế bào nội tiết. Trong lớp niêm mạc có mô lympho. Sinh lý đại trực tràng Vai trò của đại trực tràng trong việc giữ cân bằng nước và điện giải rất là quan trọng đối với cơ thể. Các tế bào biểu mô bề mặt niêm mạc đại tràng chịu trách nhiệm chính cho việc hấp thụ.
Các tế bào tuyến Lieberkuhn tham gia quá trình tiết dịch nhưng cũng có đóng góp vào sự hấp thu [17], [22]. Nước được hấp thu chủ yếu bằng con đường thụ động theo cơ thế thẩm thấu phụ thuộc và chênh lệch nồng độ Na+ trong các tế bào biểu mô niêm mạc đại tràng và lòng ruột [17], [35]. Quá trình hấp thu nước được thúc đẩy bởi các hormone chống bài niệu. Khi quá trình hấp thu nước bị ảnh hưởng dẫn đến bị tiêu chảy.
Sự hấp thu natri diễn ra ở đại tràng rất cần thiết để phục hồi lượng natri cho cơ thể. Trong điều kiện bình thường, đại tràng chủ yếu hấp thu natri và clorua nhưng tiết bicarbonate và kali [17], [39]. Khoảng 95% natri vận chuyển vào ruột già được hấp thu. Sự hấp thu các chất điện giải natri trong đại tràng và trực tràng là điều kiện cho quá trình làm khô phân.
Không giống như ruột non, đại tràng phân giải các chất dinh dưỡng từ các sản phẩm trong lòng ruột thông qua quá trình lên men. Quá trình lên men xảy ra nhờ các vi khuẩn phân giải carbohydrate và phân giải protein hiện diện trong đại tràng. Có hơn 400 loài vi khuẩn sống trong đại tràng, phần lớn trong số đó là vi khuẩn yếm khí [17], [39]. Sản phẩm cuối cùng quá trình lên men carbohydrate của vi khuẩn chủ yếu là các axit béo chuỗi ngắn như butyrate (15%), propionate (25%), và acetate (60%) [17], [21], [39].
Các axit béo chuỗi ngắn, butyrate thúc đẩy tốt hấp thu nước, natri, clorua từ đại tràng giúp chống lại quá trình tiêu chảy. Acid béo chuỗi ngắn này cũng thúc đẩu quá trình sinh trưởng, biệt hóa tế bào niêm mạc ruột và tế bào có chức năng miễn dịch. Butyrate đã được chứng minh ảnh hưởng đến ung thư đại tràng [22]. Ung thƣ đại trực tràng 1.
Khái niệm Ung thư (khối u ác tính) là một thuật ngữ chung cho một nhóm lớn các bệnh đặc trưng bởi sự tăng trưởng của các tế bào bất thường vượt ra ngoài ranh giới thông thường của chúng, sau đó có thể xâm nhập các bộ phận liền kề của cơ thể và / hoặc lan sang các cơ quan khác, gọi là di căn. Ung thư có thể ảnh hưởng đến hầu như bất kỳ phần nào của cơ thể. Di căn là nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư. Ung thư phát sinh từ sự biến đổi của các tế bào bình thường thành các tế bào khối u trong một quá trình nhiều tầng thường tiến triển từ một tổn thương tiền ung thư đến một khối u ác tính [21], [22], [30].
Ung thư đại trực tràng là loại ung thư xảy ra ở phần cuối của hệ tiêu hóa: đại tràng (còn được gọi là ruột già, ruột kết, kết tràng) và trực tràng. Ngay cả khi chẩn đoán và điều trị sớm để loại bỏ hoàn toàn, ung thư đại tràng vẫn có thể xuất hiện lại [22]. Ung thư đại trực tràng (Nguồn: benhvienk. Cơ chế sinh ung thư đại trực tràng Cơ chế bệnh sinh hiện nay đã được làm sáng tỏ qua cơ chế gen sinh ung thư.
Quá trình sinh bệnh của ung thư đại trực tràng trải qua nhiều giai đoạn, liên quan đến tổn thương nhiều gen gây ung thư do tác động của các yếu tố gây ung thư. Những nghiên cứu còn cho thấy, gen hMSH2 và hMLH1 là những gen kiểm soát sửa chữa AND, khi bị đột biến đã làm các gen sinh ung thư bị mất bền vững, trở nên dễ bị đột biến khi có tác động của các yếu tố gây ung thư [22], [52]. Thang Long University Library 6 1. Các yếu tố nguy cơ 1.
Yếu tố dinh dưỡng Ung thư đại trực tràng liên quan chặt chẽ với chế độ ăn nhiều thịt, mỡ động vật, ít chất xơ, thiếu các vitamin A, B, C, E, thiếu canxi. Chế độ ăn uống nhiều các loại thịt đỏ như thịt lợn, thịt bò… làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng. Chế độ ăn nhiều chất xơ và ít chất béo bão hòa có thể giúp làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng [22],[52]. Các thực phẩm có chứa benzopyren, nitrosamine… có khả năng gây ung thư.
Tổn thương tiền ung thư Một số tổn thương tiền ung thư cũng là yếu tố nguy cơ dẫn tới ung thư đại trực tràng như bệnh Crohn, polyp đại trực tràng, hay viêm đại trực tràng chảy máu. Bệnh viêm loét đại trực tràng có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư đại trực tràng [44], [52]. Viêm loét đại trực tràng chảy máu có nguy cơ ung thư đại trực tràng cao gấp 2 đến 4 lần so với người không bị [21]. Nguy cơ ung thư ở người có bệnh lý viêm loét đại trực tràng chảy máu có kèm theo dò hậu môn trực tràng cao hơn so với người không có lỗ dò [22], [43], [52].
Yếu tố di truyền Yếu tố di truyền có vai trò quan trọng trong sinh bệnh ung thư đại trực tràng, với gen sinh ung thư và các hội chứng di truyền: Hội chứng ung thư đại trực tràng di truyền không polyp (hội chứng Lynch – HNPCC – hereditary nonpolyposis colorectal cancer): là bệnh di truyền nhiễm sắc thể xảy ra do sai sót quá trình sửa chữa AND được Henry T. Lynch phát hiện năm 1966 [22]. Bệnh đa polyp đại trực tràng gia đình (FAP – Familial adenomatous polyposis): là bệnh di truyền do đột biến gen APC gây ra. Người bị bệnh có rất nhiều polyp hình thành từ lớp biểu mô của đại trực tràng.
Tỷ lệ đột biến gen APC gây bệnh FAP từ 1/10. Hầu hết số người bệnh sẽ chuyển thành ung thư đại trực tràng nếu polyp không được loại bỏ ở trước tuổi 40. Hội chứng Peutz-Jeghers: bệnh di truyền gen trội nhiễm sắc thể thường. Hội chứng Gardner: gồm đa polyp kèm theo các u bó sợi (desmoid tumor).
Tiền sử gia đình Khoảng 20% những người ung thư đại trực tràng có ít nhất một người thân trong gia đình cũng bị ung thư đại trực tràng. Nếu một người có người thân bị ung thư đại trực tràng thì nguy cơ bị bệnh tăng gấp 2 lần [22].