Kết Quả Điều Trị Ung Thư Đại-Trực Tràng Có Polyp Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Khám phá kết quả điều trị ung thư đại trực tràng có polyp đồng thời, phương pháp, hiệu quả và những điều cần lưu ý trong quá trình điều trị.

Chuyên ngành

Ngoại Tổng Quát

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Chuyên Khoa Cấp II

2021

102
8
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Dịch tễ học

1.2. Giải phẫu học

1.3. Mạch máu đại tràng và dẫn lưu hạch bạch huyết

1.4. Mạc treo đại tràng và trực tràng

1.5. Các mạc trong chậu hông

1.6. Chẩn đoán ung thư đại trực tràng

1.7. Triệu chứng lâm sàng

1.8. Các yếu tố thuận lợi của ung thư đại trực tràng

1.9. Chẩn đoán hình ảnh

1.10. Đánh giá giai đoạn ung thư đại trực tràng

1.11. Đặc điểm giải phẫu bệnh của ung thư đại-trực tràng và các polyp hiện diện đồng thời

1.12. Ung thư đại trực tràng

1.13. Polyp đại-trực tràng hiện diện đồng thời

1.14. Sự kết hợp nội soi với điều trị phẫu thuật ung thư đại trực tràng có polyp đồng thời

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu và thời gian nghiên cứu

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2.2. Thời gian nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn chọn bệnh

2.3.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh

2.3.2. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Biến số và định nghĩa biến số

2.5. Kỹ thuật thực hiện

2.6. Xử lý và thu thập số liệu

2.7. Đạo đức trong nghiên cứu

2.8. Qui trình nội soi cắt polyp tại Bệnh Viện Đa Khoa Xuyên Á

2.9. Cơ sở vật chất tại khoa nội soi

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm bệnh nhân ung thư đại trực tràng có polyp đồng thời

3.2. Triệu chứng lâm sàng

3.3. Triệu chứng cận lâm sàng

3.4. Nội soi đại trực tràng

3.5. Phẫu thuật bướu nguyên phát

3.6. Đặc điểm phân bố, số lượng polyp ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng

3.7. Đặc điểm mô bệnh học của polyp

3.8. Những thuận lợi, khó khăn của từng giải pháp khi thực hiện cắt polyp

3.9. Các thời điểm cắt polyp

3.9.1. Cắt polyp trước mổ

3.9.2. Cắt polyp trong lúc mổ

3.9.3. Cắt polyp sau khi đã phẫu thuật cắt bướu

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân

4.2. Đặc điểm mô bệnh học của polyp

4.3. Thời điểm cắt polyp và những thuận lợi-khó khăn

4.3.1. Cắt polyp trước mổ

4.3.2. Cắt polyp trong mổ

4.3.3. Cắt polyp sau mổ

4.4. Tai biến - biến chứng

TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Ung Thư Đại Trực Tràng và Polyp Dịch Tễ Học

Ung thư đại trực tràng là một vấn đề sức khỏe toàn cầu, đứng thứ 3 trong các loại ung thư thường gặp và là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 sau ung thư phổi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 2018, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng này, với ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ 4 ở nam và thứ 2 ở nữ. Đáng chú ý, nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi, đặc biệt sau 40 tuổi và cao nhất ở độ tuổi 50-70. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới thường cao hơn so với nữ giới, có thể do sự khác biệt trong lối sống và các yếu tố nguy cơ phơi nhiễm. Polyp đại trực tràng, những khối u phát triển trên bề mặt niêm mạc đại tràng, cũng là một bệnh lý phổ biến, với tỷ lệ hiện mắc dao động từ 30-50%. Sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa các khu vực địa lý và chủng tộc cũng được ghi nhận, với các nước phát triển ở Châu Âu và Bắc Mỹ có tỷ lệ phát hiện cao hơn so với các nước Châu Á và Châu Phi. Vị trí thường gặp của polyp là ở trực tràng và đại tràng sigma.

1.1. Tỷ Lệ Mắc Ung Thư Đại Trực Tràng Theo Giới Tính và Tuổi

Ung thư đại trực tràng có xu hướng ảnh hưởng đến nam giới nhiều hơn nữ giới. Theo thống kê của Globocan 2018, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới cao hơn ở nữ giới ở hầu hết các khu vực trên thế giới. Tuổi tác cũng là một yếu tố quan trọng, với nguy cơ tăng lên đáng kể sau 40 tuổi và đạt đỉnh điểm ở độ tuổi 50-70. Một khảo sát thống kê về ung thư của hiệp hội ung thư quốc gia Hoa Kỳ trong giai đoạn 1975 - 2013 cho thấy tuổi trung bình mắc ung thư đại tràng là 70 tuổi (nam 68 tuổi, nữ 72 tuổi). Các nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho thấy nhóm tuổi mắc ung thư đại tràng cao nhất là 50 – 80 tuổi.

1.2. Phân Bố Polyp Đại Trực Tràng Theo Vị Trí Giải Phẫu

Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều chỉ ra rằng polyp thường được phát hiện nhiều nhất ở vị trí trực tràng và đại tràng sigma. Theo Trần Văn Huy, tỷ lệ polyp phát hiện ở trực tràng và đại tràng sigma là 68,1% và 18,2%. Nghiên cứu của Tony J cũng cho thấy kết quả tương tự, với tỷ lệ tương ứng là 60,7% và 23,8%. Điều này có thể liên quan đến đặc điểm giải phẫu và chức năng của các khu vực này trong hệ tiêu hóa. Việc xác định vị trí polyp là rất quan trọng để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

II. Giải Phẫu và Chẩn Đoán Ung Thư Đại Trực Tràng Tổng Quan

Đại tràng, một phần quan trọng của hệ tiêu hóa, kéo dài từ van hồi manh tràng đến chỗ nối đại tràng sigma – trực tràng. Cấu trúc của nó bao gồm manh tràng, đại tràng lên, đại tràng góc gan, đại tràng ngang, đại tràng góc lách, đại tràng xuống và đại tràng sigma. Thành đại tràng được cấu tạo bởi 5 lớp từ trong ra ngoài: lớp niêm mạc, lớp dưới niêm, lớp cơ vòng, lớp cơ dọc và lớp thanh mạc. Việc chẩn đoán ung thư đại trực tràng có thể diễn ra thông qua tầm soát định kỳ, khi xuất hiện các triệu chứng nghi ngờ, hoặc trong trường hợp cấp cứu do biến chứng của ung thư. Các triệu chứng thường gặp bao gồm tiêu máu, thay đổi thói quen đi tiêu, đau bụng và thiếu máu thiếu sắt. Vị trí của khối u cũng ảnh hưởng đến biểu hiện lâm sàng, với các khối u ở bên trái thường gây ra thay đổi thói quen đi tiêu và tắc ruột, trong khi các khối u ở bên phải thường gây ra thiếu máu.

2.1. Cấu Trúc Giải Phẫu Đại Tràng và Các Lớp Thành Ruột

Đại tràng là một cơ quan phức tạp với cấu trúc nhiều lớp, mỗi lớp đóng một vai trò quan trọng trong chức năng tiêu hóa và hấp thụ. Lớp niêm mạc là lớp trong cùng, tiếp xúc trực tiếp với thức ăn và chịu trách nhiệm hấp thụ chất dinh dưỡng. Lớp dưới niêm chứa các mạch máu và dây thần kinh, cung cấp dinh dưỡng và điều khiển hoạt động của đại tràng. Lớp cơ vòng và lớp cơ dọc giúp đại tràng co bóp và đẩy chất thải đi qua. Lớp thanh mạc là lớp ngoài cùng, bảo vệ đại tràng khỏi các tác động bên ngoài.

2.2. Các Phương Pháp Chẩn Đoán Ung Thư Đại Trực Tràng

Việc chẩn đoán ung thư đại trực tràng có thể được thực hiện thông qua nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm tầm soát định kỳ, khám lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng. Tầm soát định kỳ, đặc biệt là nội soi đại tràng, giúp phát hiện sớm các polyp và ung thư ở giai đoạn đầu. Khám lâm sàng có thể giúp phát hiện các triệu chứng nghi ngờ như tiêu máu, thay đổi thói quen đi tiêu và đau bụng. Các xét nghiệm cận lâm sàng như xét nghiệm máu, chụp CT scan và sinh thiết có thể giúp xác định chẩn đoán và đánh giá giai đoạn bệnh.

III. Phương Pháp Điều Trị Ung Thư Đại Trực Tràng Có Polyp Tổng Quan

Điều trị ung thư đại trực tràng có polyp đồng thời đòi hỏi một phương pháp tiếp cận toàn diện, kết hợp nhiều kỹ thuật khác nhau. Phẫu thuật vẫn là phương pháp chủ đạo, nhưng hóa xạ trị cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả điều trị. Trên những bệnh nhân ung thư đại trực tràng có thêm sự hiện diện của polyp đồng thời, nhiều y văn thế giới ghi nhận chiếm tỉ lệ dao động từ 2-9%. Trong số những polyp này có những polyp sẽ phát triển thành ác tính trong tương lai. Tỉ lệ hóa ác của những polyp này trong nghiên cứu của các tác giả thế giới chiếm 18%. Việc đánh giá trước mổ những polyp tăng ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng là rất quan trọng. Nó giúp cho phẫu thuật viên đưa ra hướng điều trị thích hợp cho từng bệnh nhân, đồng thời giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật.

3.1. Vai Trò Của Phẫu Thuật Trong Điều Trị Ung Thư Đại Trực Tràng

Phẫu thuật đóng vai trò quan trọng trong việc loại bỏ khối u và các hạch bạch huyết lân cận. Kỹ thuật phẫu thuật có thể khác nhau tùy thuộc vào vị trí và giai đoạn của ung thư. Phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ mạc treo trực tràng (TME) là một kỹ thuật quan trọng trong điều trị ung thư trực tràng, giúp giảm tỷ lệ tái phát và cải thiện thời gian sống thêm. Việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp cần được cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên tình trạng cụ thể của từng bệnh nhân.

3.2. Hóa Xạ Trị và Các Phương Pháp Điều Trị Bổ Trợ

Hóa xạ trị có thể được sử dụng trước hoặc sau phẫu thuật để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại và ngăn ngừa tái phát. Hóa trị sử dụng các loại thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư, trong khi xạ trị sử dụng tia X hoặc các loại tia khác để tiêu diệt tế bào ung thư. Các phương pháp điều trị bổ trợ khác như liệu pháp miễn dịch và liệu pháp nhắm trúng đích cũng có thể được sử dụng trong một số trường hợp. Việc lựa chọn phương pháp điều trị bổ trợ phù hợp cần được cá nhân hóa dựa trên đặc điểm của từng bệnh nhân.

3.3. Nội Soi Đại Tràng Tầm Soát và Điều Trị Polyp

Nội soi đại tràng là một kỹ thuật quan trọng để tầm soát và điều trị polyp đại trực tràng. Thông qua nội soi, bác sĩ có thể cắt bỏ các polyp để ngăn ngừa chúng phát triển thành ung thư. Nội soi đại tràng trước mổ giúp lập một kế hoạch phẫu thuật hoàn chỉnh, tuy nhiên không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được, do tắc ruột chẳng hạn. Trong những tình huống như vậy, thì nội soi trong lúc mổ là có chỉ định nhằm tránh bớt chi phí điều trị. Còn nội soi sau mổ có vẻ thuận lợi hơn, việc chuẩn bị ruột dễ dàng hơn, nhưng khó tránh khỏi việc phải mổ lại một lần nữa.

IV. Nghiên Cứu Kết Quả Điều Trị Ung Thư Đại Trực Tràng tại TP

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá kết quả điều trị ung thư đại trực tràng có polyp đồng thời tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu chính là khảo sát đặc điểm phân bố, số lượng, kích thước và mô bệnh học của polyp, đồng thời xác định những thuận lợi và khó khăn của từng thời điểm cắt polyp qua nội soi ống mềm. Nghiên cứu này nhằm trả lời cho câu hỏi: “Vậy chọn thời điểm cắt polyp khi nào là thuận tiện? Trước – Trong hay Sau mổ? Những thuận lợi, khó khăn khi xử trí cắt polyp đồng thời trên bệnh nhân ung thư đại-trực tràng qua nội soi ống mềm có những đặc điểm gì?”

4.1. Mục Tiêu Nghiên Cứu Đánh Giá Thời Điểm Cắt Polyp

Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá thời điểm xử trí polyp qua nội soi ống mềm trên bệnh nhân ung thư đại-trực tràng có polyp hiện diện đồng thời. Nghiên cứu tập trung vào việc xác định thời điểm cắt polyp nào là thuận tiện nhất, đồng thời đánh giá những thuận lợi và khó khăn của từng thời điểm. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng để cải thiện quy trình điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

4.2. Phương Pháp Nghiên Cứu Khảo Sát Đặc Điểm Polyp và Đánh Giá Quy Trình

Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát đặc điểm của sự phân bố về số lượng, kích thước và mô bệnh học của polyp hiện diện đồng thời trên bệnh nhân ung thư đại-trực tràng. Đồng thời, nghiên cứu cũng xác định những thuận lợi và khó khăn của từng thời điểm cắt polyp hiện diện đồng thời qua nội soi ống mềm trên bệnh nhân ung thư đại- trực tràng. Dữ liệu được thu thập từ các bệnh nhân điều trị tại các bệnh viện ở Thành phố Hồ Chí Minh.

07/06/2025
Kết quả điều trị ung thư đại trực tràng có polyp đồng thời

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Trên thế giới, ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ 3 ở nam (10,9% trong các loại ung thư) và đứng hàng thứ 2 ở nữ (chiếm 9,5% các loại ung thư) [20]. Mỗi năm trên thế giới có thêm 1.601 trường hợp mới mắc và 551.269 trường hợp tử vong do ung thư đại trực tràng [20]. Theo thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế Giới năm 2018, nếu chỉ tính riêng ung thư đại tràng thì đây là loại ung thư phổ biến hàng thứ 8 trong các loại ung thư thường gặp ở Việt Nam, với số ca mắc mới mỗi năm là 5.457 trường hợp và số trường hợp chết mỗi năm là 3.183 trường hợp [37]. Cho đến nay, với sự phát triển vượt bậc của điều trị ung thư, hoá xạ trị kết hợp với phẫu thuật đã cải thiện kết quả dài hạn của điều trị ung thư, tuy nhiên phẫu thuật vẫn giữ vai trò chủ đạo trong điều trị ung thư đại tràng.

Trên những bệnh nhân ung thư đại trực tràng có thêm sự hiện diện của polyp đồng thời, nhiều y văn thế giới ghi nhận chiếm tỉ lệ dao động từ 2-9%. Trong số những polyp này có những polyp sẽ phát triển thành ác tính trong tương lại. Tỉ lệ hóa ác của những polyp này trong nghiên cứu của các tác giả thế giới chiếm 18%. Việc đánh giá trước mổ những polyp tăng ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng là rất quan trọng.

Nó giúp cho phẫu thuật viên đưa ra hướng điều trị thích hợp cho từng bệnh nhân, đồng thời giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật. Tần suất của ung thư đại-trực tràng và polyp có thể biểu hiện khác nhau giữa các chủng tộc, địa lý vùng miền. Ý nghĩa lâm sàng cũng khác nhau bởi các yếu tố dịch tễ giữa các polyp hiện diện đồng thời hay ung thư đại tràng đồng thời. Phần lớn các nghiên cứu trước đây về vai trò của nội soi đại-trực tràng trước mổ nhằm xác định sự hiện điện đồng thời của polyp với ung thư.

2 đại-trực tràng, được thực hiện bởi các nước phương Tây. Trong khi, tại các nước ở Châu Á thì những nghiên cứu này còn rất hạn chế [60]. Nội soi đại-trực tràng là một kỹ thuật dùng để tầm soát và theo dõi của bệnh lý ung thư đại-trực tràng, đồng thời kỹ thuật này giúp cho khảo sát được những tổn thương ở trong lồng ống tiêu hóa. Thông qua nội soi, bác sĩ có thể cắt những polyp để ngăn ngừa chuyển sản thành ung thư.

Nội soi đại tràng trước mổ giúp lập một kế hoạch phẫu thuật hoàn chỉnh, tuy nhiên không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được, do tắc ruột chẳng hạn. Trong những tình huống như vậy, thì nội soi trong lúc mổ là có chỉ định nhằm tránh bớt chi phí điều trị. Còn nội soi sau mổ có vẻ thuận lợi hơn, việc chuẩn bị ruột dễ dàng hơn, nhưng khó tránh khỏi việc phải mổ lại một lần nữa [63]. Hiện nay chưa có sự thống nhất trong lựa chọn thời điểm nào xử trí polyp qua nội soi ống mềm trên bệnh nhân ung thư đại-trực tràng có polyp hiện diện đồng thời.

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm trả lời cho câu hỏi: “Vậy chọn thời điểm cắt polyp khi nào là thuận tiện? Trước – Trong hay Sau mổ? Những thuận lợi, khó khăn khi xử trí cắt polyp đồng thời trên bệnh nhân ung thư đại-trực tràng qua nội soi ống mềm có những đặc điểm gì?”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nhằm đánh giá thời điểm xử trí polyp qua nội soi ống mềm trên bệnh nhân ung thư đại-trực tràng có polyp hiện diện đồng thời, chúng tôi thực hiện đề tài này với hai mục tiêu như sau: 1. Khảo sát đặc điểm của sự phân bố về số lượng, kích thước và mô bệnh học của polyp hiện diện đồng thời trên bệnh nhân ung thư đại-trực tràng. Xác định những thuận lợi và khó khăn của từng thời điểm cắt polyp hiện diện đồng thời qua nội soi ống mềm trên bệnh nhân ung thư đại- trực tràng.

4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Dịch tễ học Theo tổ chức Y tế Thế Giới năm 2018, ung thư đại-trực tràng đứng hàng thứ 3 trong các loại ung thư thường gặp và là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 chỉ sau ung thư phổi [62], [98]. Ở Việt Nam, ung thư đại-trực tràng đứng hàng thứ 4 ở nam và thứ 2 ở nữ.733 ca mắc mới và 7.856 ca tử vong do ung thư đại-trực tràng [37]. Nếu chỉ tính riêng ung thư đại tràng thì đây là loại ung thư phổ biến hàng thứ 8 trong các loại ung thư thường gặp ở Việt Nam, với số ca mắc mới mỗi năm là 5.457 trường hợp và số trường hợp chết mỗi năm là 3183 trường hợp [37].

Nguy cơ của ung thư đại trực tràng tăng dần theo tuổi. Theo UICC, tỉ lệ mắc ung thư đại tràng tăng dần sau 40 tuổi và cao nhất ở nhóm tuổi 50 – 70 tuổi. Một khảo sát thống kê về ung thư của hiệp hội ung thư quốc gia Hoa Kỳ trong giai đoạn 1975 - 2013 cho thấy tuổi trung bình mắc ung thư đại tràng là 70 tuổi (nam 68 tuổi, nữ 72 tuổi) [38], [48]. Trong các nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho thấy nhóm tuổi mắc ung thư đại tràng cao nhất là 50 – 80 tuổi.

Theo thống kê 2018 (Globocan) [71], ung thư đại-trực tràng ở nam cao hơn ở nữ. Ở các nước vùng Đông Á tỉ lệ mắc ung thư đại-trực tràng là 16,8/100.000 dân ở nam và 13,2/100. Ở các nước Tây Âu tỉ lệ mắc ở nam cũng cao hơn nữ (20,3/100. Ở Bắc Mỹ cũng cho kết quả tương tư với tỉ lệ mắc ở nam là 17,7/100.000 và ở nữ là 14,8/100.

Theo Gwen Murphy [73] tỉ lệ nam: nữ mắc ung thư đại- trực tràng ở người trên 50 tuổi là 1,4 – 1,9 tuỳ theo từng lứa tuổi. Tác gỉả cho rằng, tỉ lệ mắc ở nam cao hơn nữ là do ở nam phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ nhiều hơn như rượu bia, thuốc lá… và các hormon sinh dục cũng có ảnh hưởng đến tỉ lệ này. 5 Polyp đại-trực tràng được sử dụng để chỉ những khối phát triển lồi lên so với bề mặt niêm mạc đại tràng bình thường. Thông thường, chúng là kết quả của quá trình phát triển quá mức của các tế bào biểu mô niêm mạc đại- trực tràng [11], [28], [88].

Polyp đại-trực tràng là một bệnh lý đường tiêu hóa phổ biến. Tỷ lệ hiện mắc polyp đại-trực tràng có sự khác biệt tương đối lớn theo tuổi, giới, địa dư và chủng tộc, dao động từ 30 - 50% [1], [7], [75]. Theo địa dư và chủng tộc, tỷ lệ mắc polyp đại-trực tràng có sự khác biệt tại các khu vực khác nhau trên thế giới. Qua thăm khám sàng lọc, bệnh phát hiện nhiều hơn ở các nước phát triển tại Châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản và thấp hơn ở các nước Châu Á, châu Phi.

Nghiên cứu tiến hành nội soi trên 12.000 đối tượng tại châu Âu (Na Uy, Thụy Điển, Ba Lan, Hà Lan) cho thấy tỷ lệ phát hiện polyp đại-trực tràng là rất cao (48%) [26], [32]. Một nghiên cứu nội soi khác tại Đức (2015) cho thấy tỷ lệ phát hiện polyp đại-trực tràng lên tới 39% [53]. Theo vị trí đại-trực tràng, các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy polyp thường phát hiện cao nhất ở vị trí trực tràng và đại tràng sigma [1], [7], [26], [94]. Theo Trần Văn Huy [7], tỷ lệ polyp phát hiện ở trực tràng và đại tràng sigma là 68,1% và 18,2%.

Trong khi đó, nghiên cứu của Tony J[94] phát hiện polyp ở hai vị trí trên với tỷ lệ tương ứng là 60,7% và 23,8%. Giải phẫu học [4], [17], [91] 1. Hình thể Đại tràng là đoạn ruột kéo dài từ van hồi manh tràng đến chỗ nối đại tràng sigma – trực tràng, bao gồm các phần manh tràng, đại tràng lên, đại tràng góc gan, đại tràng ngang, đại tràng góc lách, đại tràng xuống và đại tràng sigma nối tiếp với trực tràng và ống hậu môn. Manh tràng, đại tràng ngang và đại tràng sigma thì di động và nằm hoàn toàn trong phúc mạc.

6 tràng lên, đài tràng góc gan, đại tràng góc lách, đại tràng xuống chỉ được phúc mạc phủ lên 1 phần dính vào thành bụng sau. Thành đại tràng gồm 5 lớp từ trong ra: lớp niêm mạc, lớp dưới niêm, lớp cơ vòng, lớp cơ dọc và lớp thanh mạc 1. Mạch máu đại tràng và dẫn lƣu hạch bạch huyết  Động mạch Ruột giữa (toàn bộ ruột non đến 2/3 gần của đại tràng ngang) được cấp máu bởi động mạch mạc treo tràng trên và phần ruột sau (phần còn lại của đại tràng ngang đến trực tràng) thì được cấp máu bởi động mạch mạc treo tràng dưới. Động mạch mạc treo tràng dưới là nhánh của động mạch chủ bụng, bắt nguồn phía trên chỗ chia của động mạch chủ thành động mạch chậu chung phải và trái khoản 3cm – 6,3cm.

Động mạch mạc treo tràng dưới sẽ cho các nhánh động mạch đại tràng trái, 2 đến 6 nhánh động mạch sigma, và nhánh động mạch mạc treo tràng trên. Nhánh động mạch sigma có thể xuất phát từ nhánh động mạch đại tràng trái hoặc nhánh trực tràng trên.1: Giải phẫu động mạch đại tràng [58]. 7  Tĩnh mạch Tĩnh mạch dẫn lưu sẽ đi kèm theo động mạch. Các tĩnh mạch dẫn máu từ đoạn đại tràng trái và một phần trực tràng sẽ đổ vào tĩnh mạch mạc treo tràng dưới, sau đó tĩnh mạch mạc treo tràng dưới hợp với tĩnh mạch lách và đổ vào hệ tĩnh mạch cửa Hình 1.2: Giải phẫu tĩnh mạch đại tràng[58]  Hạch bạch huyết Mạng lưới bạch huyết dẫn lưu đi cạnh các động mạch.

Đại tràng có mạng lưới bạch huyết rất phong phú. Các hạch bạch huyết ở đại tràng gồm: hạch thành đại tràng, hạch cạnh đại tràng, hạch trung gian và hạch trung tâm tuỳ vào vị trí của nó. Hạch thành đại tràng nằm ở lớp cơ hay các lớp thanh mạc. Từ đây, dẫn lưu bạch huyết đổ vào hạch cạnh đại tràng nằm dọc ở các mạch máu viền đại tràng.

Kế đó, chúng đổ vào các hạch trung tâm định vị dọc theo các nhánh động mạch lớn cung cấp máu cho đại tràng. Các hạch trung tâm nằm ở gốc động mạc mạch treo tràng trên và dưới.3: Hạch đại của đại tràng[58] 1. Mạc treo đại tràng và trực tràng [12], [58], [65], [90] Thuật ngữ mạc treo trực tràng được Stelzner ở Đức miêu tả năm 1962, nhưng chỉ trở lên phổ biến sau khi Head miêu tả toàn bộ kỹ thuật TME năm 1982.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kết Quả Điều Trị Ung Thư Đại-Trực Tràng Có Polyp: Nghiên Cứu Tại Thành Phố Hồ Chí Minh" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả điều trị ung thư đại trực tràng có polyp tại một trong những thành phố lớn nhất Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các phương pháp điều trị hiện tại mà còn đánh giá kết quả và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hồi phục của bệnh nhân. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin quý giá về cách thức điều trị, cũng như những thách thức mà bệnh nhân phải đối mặt trong quá trình điều trị.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật ưng thư đại trực tràng và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện đại học y hà nội năm 2020 2021, nơi cung cấp thông tin về chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật. Bên cạnh đó, tài liệu Nguyễn thị thùy linh phân tích một số biến cố bất lợi của hóa trị liệu điều trị ung thư đại trực tràng tại bệnh viện trung ương quân đội 108 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biến cố bất lợi trong quá trình hóa trị. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị bằng phương pháp cắt đốt nội soi polyp đại trực tràng trên bệnh nhân đến khám tại bệnh viện trường đại học y dược sẽ cung cấp thêm thông tin về điều trị polyp đại trực tràng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị và chăm sóc bệnh nhân trong lĩnh vực ung thư đại trực tràng.