Tổng quan nghiên cứu

Ung thư đại trực tràng hiện là một trong những gánh nặng y tế hàng đầu trên toàn cầu, đứng hàng thứ 3 ở nam giới với tỷ lệ 10,9% và đứng hàng thứ 2 ở nữ giới với tỷ lệ 9,5% trong tổng số các bệnh ung thư. Hàng năm, thế giới ghi nhận hơn 1,6 triệu ca mắc mới và hơn 551.000 trường hợp tử vong. Tại Việt Nam, thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới ghi nhận 14.733 ca mắc mới và 7.856 ca tử vong do ung thư đại trực tràng mỗi năm. Đặc biệt, sự xuất hiện đồng thời của polyp trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng chiếm tỷ lệ từ 15% đến 50%, trong đó khoảng 18% các polyp này có tiềm năng tiến triển thành tổn thương ác tính thứ hai nếu không được xử trí triệt để.

Vấn đề đặt ra trong thực hành ngoại khoa là việc lựa chọn thời điểm can thiệp polyp qua nội soi ống mềm vẫn chưa có sự đồng thuận tuyệt đối. Đề tài nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu khảo sát đặc điểm phân bố, số lượng, kích thước và mô bệnh học của polyp hiện diện đồng thời; đồng thời phân tích những thuận lợi, khó khăn của từng thời điểm can thiệp (trước mổ, trong mổ và sau mổ) trên 42 bệnh nhân được điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á Củ Chi và Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á Vĩnh Long trong giai đoạn từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp tối ưu hóa chiến lược điều trị ngoại khoa kết hợp nội soi can thiệp, ngăn ngừa nguy cơ bỏ sót tổn thương ác tính và giảm thiểu tỷ lệ tái phát xuống dưới 5% cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên chuỗi biến đổi sinh học từ polyp tuyến sang ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng, vốn chiếm từ 90% đến 95% các ca bệnh theo phân loại giải phẫu bệnh học. Cơ chế bệnh sinh chỉ ra rằng các khối u tuyến ống, u tuyến nhánh có kích thước trên 5 mm hoặc kèm nghịch sản nặng tiềm ẩn nguy cơ ung thư hóa rất cao sau khoảng thời gian tiến triển từ 5 đến 10 năm.

Khung lý thuyết điều trị phẫu thuật dựa trên nguyên lý cắt toàn bộ mạc treo trực tràng theo giải phẫu mạch máu mạc treo tràng trên và mạc treo tràng dưới, kết hợp nạo vét hạch vùng nhằm đảm bảo diện cắt không còn tế bào ác tính, giúp giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ xuống dưới 10% và nâng tỷ lệ sống thêm 5 năm lên trên 70%. Bên cạnh đó, các kỹ thuật can thiệp phối hợp ít xâm lấn như phẫu thuật kết hợp nội soi tiêu hóa - ổ bụng và cắt polyp qua nội soi có phẫu thuật ổ bụng hỗ trợ tạo nền tảng vững chắc để loại bỏ triệt để các polyp phức tạp, hạn chế tối đa việc phải mở rộng phạm vi cắt đoạn ruột.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế hồi cứu mô tả loạt ca trên cỡ mẫu gồm 42 bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư đại trực tràng có polyp đồng thời và được điều trị phẫu thuật triệt căn kết hợp cắt polyp qua nội soi ống mềm trong giai đoạn 3 năm từ 2018 đến 2020.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện toàn bộ được áp dụng cho tất cả các trường hợp thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh, bao gồm bệnh nhân có khối u đại trực tràng nguyên phát cắt được và có polyp kèm theo được xử trí thành công. Nghiên cứu loại trừ các trường hợp mắc bệnh đa polyp tuyến gia đình, hội chứng Lynch di truyền, bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn chỉ điều trị bảo tồn hoặc hồ sơ bệnh án không đầy đủ dữ liệu nội soi.

Toàn bộ dữ liệu được mã hóa và xử lý thống kê bằng phần mềm Stata phiên bản 14. Phép kiểm Chi-bình phương được lựa chọn để so sánh các biến định tính như tỷ lệ biến chứng, vị trí và độ mô học; phép kiểm T-test và phân tích phương sai ANOVA một chiều được dùng để so sánh các giá trị trung bình định lượng với khoảng tin cậy 95% (ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05). Việc lựa chọn các phương pháp thống kê này đảm bảo tính khách quan và chuẩn xác khi đánh giá mối liên quan giữa đặc điểm tổn thương và kết quả can thiệp ở từng thời điểm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 42 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ nam giới chiếm 76,19% (32 ca) và nữ giới chiếm 23,81% (10 ca), tương ứng tỷ lệ nam trên nữ xấp xỉ 3,2:1. Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 62 tuổi, trong đó bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 33 tuổi và cao tuổi nhất là 88 tuổi.

Về triệu chứng lâm sàng, các rối loạn tiêu hóa chiếm ưu thế với biểu hiện tiêu chảy ghi nhận ở 33,3% (14/42 ca), đau bụng chiếm 19,0% (8/42 ca), táo bón và đi tiêu ra máu cùng chiếm 16,7% (7/42 ca), sụt cân chiếm 14,3% (6/42 ca). Khám thực thể phát hiện 11,9% (5 ca) có khối u sờ chạm được qua thành bụng và 28,6% (12 ca) có biểu hiện thiếu máu rõ rệt trên lâm sàng.

Về cận lâm sàng, xét nghiệm nồng độ kháng nguyên CEA trước mổ tăng cao trên 5 ng/ml ở 29% bệnh nhân. Đánh giá huyết sắc tố trước phẫu thuật ghi nhận 74% bệnh nhân rơi vào tình trạng thiếu máu với các mức độ khác nhau: thiếu máu nhẹ (Hb từ 10 đến 12 g/dl) chiếm 45%, thiếu máu vừa (Hb từ 8 đến 10 g/dl) chiếm 19%, và thiếu máu nặng (Hb dưới 8 g/dl) chiếm 10%; chỉ có 26% bệnh nhân duy trì chỉ số huyết sắc tố bình thường.

Về vị trí u nguyên phát qua nội soi, khối u tập trung nhiều nhất tại đại tràng sigma với 43,5% (17 ca), đại tràng phải chiếm 23,8% (10 ca), trực tràng chiếm 19,0% (8 ca), đại tràng trái chiếm 14,3% (6 ca) và đại tràng ngang chiếm 2,4% (1 ca). Kết quả chụp cắt lớp vi tính CT scan ghi nhận khối u tại đại tràng phải chiếm 33,3% (14 ca), đại tràng sigma chiếm 21,4% (9 ca), đại tràng ngang chiếm 16,7% (7 ca), đại tràng trái và trực tràng cùng chiếm 14,3% (6 ca).

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu được hệ thống hóa rõ ràng thông qua hệ thống biểu đồ cột thể hiện tần suất triệu chứng cơ năng, biểu đồ tròn phân tích cơ cấu độ tuổi - giới tính và các bảng thống kê chi tiết về kích thước polyp theo từng vị trí đại tràng. Sự khác biệt về vị trí phân bố khối u giữa nội soi và chụp cắt lớp vi tính (đặc biệt ở đoạn đại tràng ngang với 2,4% trên nội soi so với 16,7% trên CT scan) phản ánh những góc nhìn đánh giá chuyên biệt giữa hình ảnh quang học lòng ruột và lát cắt không gian ổ bụng, khẳng định tính bổ trợ không thể tách rời của hai phương tiện chẩn đoán này.

Phân tích chuyên sâu về thời điểm can thiệp cắt polyp cho thấy:

  • Cắt polyp trước mổ: Tạo thuận lợi lớn trong việc xác định bản chất mô bệnh học từ sớm, giúp phẫu thuật viên chủ động lập kế hoạch cắt đoạn đại tràng chuẩn xác. Tuy nhiên, phương pháp này gặp khó khăn khi khối u nguyên phát gây chít hẹp lòng đại tràng hoặc polyp kích thước lớn trên 10 mm có nguy cơ chảy máu, đòi hỏi kỹ thuật kẹp clip cầm máu hỗ trợ tức thì.
  • Cắt polyp trong mổ: Áp dụng kỹ thuật phối hợp nội soi tiêu hóa và phẫu thuật nội soi ổ bụng, cho phép xử lý an toàn các tổn thương phức tạp dưới sự quan sát trực tiếp từ hai phía. Hạn chế chính là tình trạng ruột bị chướng hơi trong quá trình nội soi ống mềm gây cản trở phẫu trường của kíp mổ nội soi ổ bụng.
  • Cắt polyp sau mổ: Việc chuẩn bị đại tràng diễn ra thuận lợi hơn do đã loại bỏ khối u gây bít tắc, lòng ruột thông thoáng và đường di chuyển của ống soi ngắn lại. Tuy vậy, nếu kết quả mô bệnh học sau cắt polyp là tổn thương ác tính xâm lấn, người bệnh có thể phải đối mặt với một cuộc phẫu thuật lần hai để cắt rộng diện tích tổn thương.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa quy trình nội soi toàn bộ khung đại tràng trước phẫu thuật: Hành động: Ban hành và bắt buộc áp dụng bảng kiểm khảo sát sạch khung đại tràng cho 100% bệnh nhân ung thư đại trực tràng không có biến chứng tắc ruột. Mục tiêu: Nâng tỷ lệ phát hiện polyp đồng thời lên trên 98% và giảm tỷ lệ bỏ sót tổn thương xuống dưới 2%. Thời gian: Thực hiện ngay từ quý 1 năm 2024. Chủ thể: Khoa Thăm dò chức năng phối hợp Khoa Ngoại tiêu hóa.

  2. Triển khai thường quy mô hình phối hợp nội soi tiêu hóa - ổ bụng trong phòng mổ: Hành động: Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật can thiệp phối hợp giữa kíp nội soi ống mềm và kíp phẫu thuật ổ bụng đối với các polyp kích thước lớn hơn 10 mm nằm ở vị trí khó can thiệp. Mục tiêu: Đạt tỷ lệ cắt bỏ hoàn toàn tổn thương 100%, bảo tồn tối đa chiều dài đoạn ruột lành. Thời gian: Hoàn thành đào tạo và vận hành quy chuẩn trong vòng 6 tháng. Chủ thể: Hội đồng chuyên môn ngoại khoa và đội ngũ phẫu thuật viên tiêu hóa.

  3. Nâng cao chất lượng kiểm soát thiếu máu và theo dõi nồng độ CEA chu phẫu: Hành động: Thiết lập phác đồ bù sắt, truyền máu và định lượng lại CEA cho 74% bệnh nhân có biểu hiện thiếu máu trước can thiệp ngoại khoa. Mục tiêu: Đưa nồng độ Hemoglobin lên trên 10 g/dl trước khi tiến hành cắt polyp hoặc đại phẫu cắt u, giảm thiểu biến chứng tim mạch chu phẫu. Thời gian: Triển khai liên tục trong năm 2024. Chủ thể: Đơn vị Hồi sức Ngoại khoa và Bác sĩ điều trị.

  4. Xây dựng chương trình theo dõi nội soi định kỳ sau điều trị: Hành động: Lập hồ sơ quản lý bệnh án số hóa để nhắc lịch nội soi kiểm tra định kỳ vào các mốc 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng sau phẫu thuật đối với mọi trường hợp có polyp tuyến đồng thời. Mục tiêu: Kiểm soát 100% các polyp mới phát sinh hoặc polyp còn sót, giảm thiểu nguy cơ ung thư tái phát xuống dưới 3%. Thời gian: Bắt đầu từ quý 2 năm 2024. Chủ thể: Phòng Kế hoạch tổng hợp và Phòng khám Ngoại chuyên khoa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Bác sĩ phẫu thuật ngoại tiêu hóa và ngoại tổng quát: Cung cấp bằng chứng thực tiễn về chiến lược lựa chọn thời điểm cắt polyp tối ưu (trước, trong hoặc sau mổ), giúp lập kế hoạch phẫu thuật triệt căn, hạn chế tối đa nguy cơ phải mở rộng diện cắt ruột hoặc thực hiện phẫu thuật lần hai.
  2. Bác sĩ nội soi tiêu hóa can thiệp: Tham khảo quy trình kỹ thuật cắt polyp bằng thòng lọng điện, xử trí tai biến chảy máu bằng clip cầm máu và phương pháp phối hợp nội soi tiêu hóa cùng phẫu thuật ổ bụng trong xử lý tổn thương phức tạp.
  3. Học viên sau đại học, bác sĩ nội trú và nghiên cứu sinh chuyên ngành ngoại khoa: Là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca, kỹ thuật phân tích biến số y học bằng Stata 14 và cơ sở lý luận giải phẫu bệnh đại trực tràng.
  4. Nhà quản lý y tế và điều dưỡng trưởng khoa ngoại: Giúp tối ưu hóa quy trình phối hợp liên chuyên khoa, chuẩn bị người bệnh trước thủ thuật nội soi và nâng cao chất lượng chăm sóc chu phẫu cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tỷ lệ xuất hiện polyp đồng thời trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng là bao nhiêu? Theo các y văn quốc tế và dữ liệu lâm sàng, tỷ lệ bệnh nhân ung thư đại trực tràng có kèm polyp đồng thời dao động trong khoảng từ 15% đến 50%. Nghiên cứu ghi nhận khoảng 18% các polyp này có khả năng biến đổi ác tính thành ung thư thứ hai nếu không được phát hiện và cắt bỏ kịp thời.

  2. Thời điểm nào là tối ưu nhất để tiến hành cắt polyp qua nội soi? Thời điểm can thiệp phụ thuộc vào tình trạng cụ thể của từng ca bệnh: cắt trước mổ thuận lợi khi đại tràng không bị tắc nghẽn giúp biết trước giải phẫu bệnh; cắt trong mổ tối ưu cho các polyp phức tạp ở vị trí khó; và cắt sau mổ phù hợp khi lòng ruột đã được giải áp thông thoáng sau cắt u.

  3. Các triệu chứng lâm sàng nào thường gặp nhất cảnh báo ung thư đại trực tràng kèm polyp? Nghiên cứu trên 42 bệnh nhân cho thấy triệu chứng phổ biến nhất là tiêu chảy chiếm 33,3%, tiếp đến là đau bụng chiếm 19%, táo bón và tiêu phân máu cùng chiếm 16,7%, sụt cân chiếm 14,3%. Ngoài ra, có tới 74% bệnh nhân gặp tình trạng thiếu máu với mức độ từ nhẹ đến nặng trước phẫu thuật.

  4. Vì sao cần khảo sát toàn bộ khung đại tràng bằng nội soi trước khi phẫu thuật? Khảo sát toàn bộ khung đại tràng giúp phát hiện từ 3,3% đến 5% các tổn thương ung thư nguyên phát thứ hai cùng tồn tại và định vị chính xác toàn bộ polyp đồng thời. Việc này giúp phẫu thuật viên hoạch định chính xác phạm vi cắt đoạn ruột, tránh bỏ sót tổn thương nguy hiểm trong lòng ống tiêu hóa.

  5. Vai trò của việc theo dõi chỉ số CEA và nồng độ Hemoglobin trước mổ là gì? Nồng độ CEA huyết thanh tăng trên 5 ng/ml (ghi nhận ở 29% bệnh nhân) đóng vai trò chất chỉ điểm sinh học quan trọng để theo dõi đáp ứng điều trị và phát hiện tái phát sau mổ. Trong khi đó, việc đánh giá chỉ số Hemoglobin giúp phát hiện và điều trị kịp thời tình trạng thiếu máu (chiếm 74% ca bệnh), đảm bảo an toàn phẫu thuật.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã tổng kết toàn diện kết quả điều trị trên 42 bệnh nhân ung thư đại trực tràng có polyp đồng thời tại Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á trong giai đoạn 2018 - 2020.
  • Xác lập đặc điểm dịch tễ và lâm sàng quan trọng với tỷ lệ nam giới chiếm 76,19%, độ tuổi trung bình 62 tuổi, 74% có biểu hiện thiếu máu và vị trí u phổ biến nhất tại đại tràng sigma (43,5%).
  • Đánh giá sâu sắc ưu nhược điểm của 3 thời điểm can thiệp cắt polyp: trước mổ, trong mổ phối hợp phẫu thuật ổ bụng và sau mổ, khẳng định tính khả thi của từng phương án theo cá thể hóa điều trị.
  • Đóng góp luận cứ khoa học giúp hoàn thiện quy trình phối hợp liên chuyên khoa giữa nội soi tiêu hóa can thiệp và phẫu thuật ngoại khoa, giảm tỷ lệ biến chứng và nguy cơ bỏ sót tổn thương ác tính.
  • Kế hoạch tiếp theo cần mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu trên 100 bệnh nhân trong giai đoạn 2024 - 2026; các bác sĩ và nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng ngay các khuyến nghị chuyên môn này vào thực tiễn khám chữa bệnh lâm sàng.