phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung chính của luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu về hoạt động CTXH trong bệnh viện Chƣơng 2. Cơ sở lý luận nghiên cứu về hoạt động CTXH trong bệnh viện với trẻ VTN điều trị nội trú Chƣơng 3. Thực trạng triển khai các hoạt động CTXH trong bệnh viện dành cho trẻ VTN điều trị nội trú tại bệnh viện Nhi Trung ƣơng Chƣơng 4.
Thực nghiệm hoạt động CTXH nhóm với trẻ VTN điều trị nội trú tại bệnh viện Nhi Trung ƣơng. 16 NỘI DUNG Chƣơng 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN Trong khuôn khổ luận án nghiên cứu, cũng nhƣ giới hạn về số lƣợng tài liệu tham khảo, phần tổng quan nghiên cứu tập trung vào nhận diện và phân loại các vấn đề nghiên cứu theo 03 nhóm: Nhóm 1: Các nghiên cứu về sự phổ cập hoạt động CTXH trong bệnh viện; Nhóm 2: Các nghiên cứu về về mô hình hoạt động và nhận thức về hoạt động CTXH trong bệnh viện; Nhóm 3: Các nghiên cứu về năng lực và thực trạng thực hiện hoạt động CTXH trong bệnh viện. Nhóm các nghiên cứu về sự phổ cập hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện 1.
Sự hình thành công tác xã hội trong bệnh viện Hoạt động CTXH trong bệnh viện xuất hiện sớm tại Anh ngay từ năm 1894, sau đó lan sang Mỹ vào năm 1905 và phát triển mở rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới. Sự thành công đó đã dẫn đến sự ra đời “hiệp hội nhân viên CTXH thế giới” vào năm 1928. Tính đến thời điểm hiện nay, đã có hơn 90 quốc gia tham gia tổ chức này với mong muốn thúc đầy hoạt động CTXH chuyên nghiệp trong bệnh viện tại quốc gia mình. Tại Việt Nam, hoạt động CTXH trong bệnh viện cũng manh nha hình thành từ những năm 1940, nhƣng do những biến động của lịch sử mà bị gián đoạn.
Đến năm 2011, hoạt động này mới xuất hiện trở lại với những thành tựu nhất định. Thực tiễn trên đƣợc các tác giả thể hiện trong nghiên cứu của mình dƣới đây. Trong nghiên cứu về “Quan điểm lịch sử về thực hành công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe”, Badawi Mieke (1990, tr. 12) đã dẫn chứng cho thấy nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử CTXH đồng tình với lập luận rằng hoạt động CTXH trong bệnh viện xuất hiện sớm tại Anh, bởi ngay từ năm 1891, Charles Loch, tổng thƣ ký của Hiệp hội từ thiện Luân Đôn, đã gửi Hạ viện Anh đề xuất đào tạo nhân viên CTXH trong bệnh viện.
Đội ngũ này, khi đó đƣợc gọi là “nhân viên phát chẩn - 17 Almoners”, có nhiệm vụ phát hiện và ngăn ngừa tình trạng lạm dụng khám chữa bệnh miễn phí của một bộ phận những ngƣời có khả năng kinh tế, nhƣng không muốn chi trả, đồng thời hỗ trợ, chăm sóc những ngƣời khó khăn, giúp họ ứng phó với những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình điều trị tại bệnh viện. Tiếp theo nghiên cứu của Badawi Mieke, nghiên cứu về “Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe: chúng ta đã đạt được những gì?” đăng trên tạp chí “Journal of Social Work” số 1(2) của tác giả Auslander (2001) cũng nhƣ nghiên cứu về “Sổ tay công tác xã hội trong lĩnh vực y tế” của hai tác giả Gehlert Sarat vàBrowne Teri ( 2006) cùng chỉ ra những cột mốc cơ bản và luận điểm chủ chốt đƣa CTXH vào môi trƣờng y tế. Theo đó, vào năm 1894, nghĩa là sau 3 năm Charles Loch đề xuất với Hạ viện, nhân viên CTXH trong bệnh viện đầu tiên ở Anh đƣợc tuyển dụng vào làm việc tại bệnh viện Londons Royal Free Hospital. Công việc chính của họ lúc này là tiếp nhận, đăng ký, lƣu trữ hồ sơ điều trị, sàng lọc và thực hiện một số hoạt động trợ giúp xã hội cho bệnh nhân nghèo.
Mƣời năm sau, vào năm 1905, nƣớc Mỹ cũng tiếp bƣớc theo nƣớc Anh đƣa hoạt động CTXH vào môi trƣờng bệnh viện với mục đích “để chăm sóc y tế có hiệu quả - to make medical care effective”, mà ngƣời có công đầu là bác sỹ Richard Cabot, làm việc tại bệnh viện Massachusetts. Do vậy, những nhân viên CTXH đầu tiên tại Mỹ đƣợc giao nhiệm vụ tiếp xúc thân thiện với bệnh nhân nhằm đánh giá về mặt y tế xã hội, giới thiệu các dịch vụ khám, chữa bệnh, kết nối bệnh nhân với y, bác sỹ và hỗ trợ các nhu cầu cơ bản dành cho bệnh nhân nghèo [Auslander, 2001, tr. Quan điểm đƣa CTXH vào bệnh viện của bác sỹ Richard Cabot bắt nguồn từ nhận định rằng “y tế là những hoạt động có độ chính xác cao, đòi hỏi nhân viên y tế dành nhiều thời gian nâng cao chuyên môn nên ít có thời gian làm những công việc khác, yếu điểm của ngành y tế là các hoạt động xã hội, trong khi đó, đây là thế mạnh của ngành CTXH, do vậy CTXH và y tế là những nghề có thể bổ trợ cho nhau, hoạt động CTXH sẽ giúp bộ phận y tế vận hành được tốt hơn”. Với quan điểm trên, Richard Cabot cho rằng nhân viên CTXH trong bệnh viện sẽ là cầu nối 18 giúp ngƣời bệnh, ngƣời nhà ngƣời bệnh và đội ngũ y bác sỹ hiểu nhau, phối hợp thực hiện công việc đƣợc tốt hơn và thực tế đã chứng minh quan điểm của Richard Cabot hoàn toàn đúng đắn [Gehlert Sarat and Browne Teri, 2006, tr.
Nghiên cứu của hai tác giả Gehlert Sarat và Browne Teri nêu trên còn cho thấy, đến năm 1918, nƣớc Mỹ thành lập hiệp hội nhân viên CTXH trong bệnh viện. Hiệp hội này có vai trò thúc đẩy và phối hợp đào tạo đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp. Kết quả nghiên cứu của hiệp hội đã chỉ ra vai trò không thể bỏ qua của nhân viên CTXH trong môi trƣờng y tế, đó là cung cấp cho y, bác sỹ thông tin đầy đủ về bệnh nhân, hoàn cảnh gia đình, trạng thái tâm lý; giải thích đƣợc cho ngƣời bệnh quy trình khám, chữa bệnh, những nguyên nhân gia đình và xã hội ảnh hƣởng đến sức khỏe của họ; và vận động nguồn lực xã hội hỗ trợ bệnh nhân nghèo. Kết quả nghiên cứu của hiệp hội này đƣợc sử dụng làm luận chứng thuyết phục mở rộng hoạt động CTXH trong bệnh viện, do vậy, nhiều bệnh viện tại Mỹ đã tham khảo, học hỏi và ứng dụng mô hình này vào quá trình điều trị bệnh nhân.
Ngoài ra, nghiên cứu của một số tác giả nhƣ Christine Perriam (2015), Auslander (2001), Annie và cộng sự (2014) và nhiều tác giả khác cho thấy nối tiếp thành công của hoạt động CTXH trong bệnh viện tại Anh và Mỹ, nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng bắt đầu ứng dụng hoạt động này, chẳng hạn nƣớc Pháp năm 1918 [Madeleine Dubois et Marie-Luce Garceau, 2000, tr. 20], Úc năm 1929 [Christine Perriam, 2015, tr.19], Ai Cập năm 1936, Hồng Kông năm 1939, Israel năm 1948 [Auslander, 2001, tr. Sự phát triển mạnh mẽ của CTXH trong bệnh viện đã thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới và là tiền đề thúc đẩy 12 quốc gia tham gia ký kết thành lập “hiệp hội nhân viên CTXH thế giới” tại Paris năm 1928 [Annie et al. Sau khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ 2, hoạt động CTXH trong bệnh viện có sự phát triển mạnh mẽ và đƣợc gọi là “dịch vụ xã hội trong môi trường y tế”, lúc này, nhiều quốc gia thuộc cộng đồng Pháp ngữ đã đăng ký gia nhập “hiệp hội nhân viên CTXH thế giới” nêu trên [Georgette Béliveau et Lise Hébert, 1996, tr.
Đến năm 2014, đã có 90 quốc gia gia nhập tổ chức này với cam kết thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ các hoạt động CTXH chuyên nghiệp trong bệnh viện tại quốc gia mình [Annie et al. Tại Việt Nam, chủ đề lịch sử phát triển hoạt động CTXH trong môi trƣờng y tế cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, chẳng hạn nhƣ nghiên cứu của tác giả Lê Thị Quý (2015) về “Công tác xã hội ở Việt Nam – Lịch sử phát triển và triển vọng”, của Nguyễn Thị Thanh Tùng (2016) về “Mô hình công tác xã hội bệnh viện tại Mỹ và kinh nghiệm cho phát triển công tác xã hội tại Việt Nam”, của Đỗ Hạnh Nga (2016) về “Hệ thống khung pháp lý – cơ sở cho sự phát triển nghề công tác xã hội trong ngành y tế”, hay của Nguyễn Thu Hà (2017) về “Hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện tại Việt Nam: thành tựu và những vấn đề bất cập”. Những nghiên cứu này đã khái quát lại lịch sử biến động của CTXH trong bệnh viện ở nƣớc ta từ 1940 đến nay. Theo nghiên cứu của tác giả Lê Thị Quý (2015, tr.
351) các dẫn chứng lịch sử cho thấy hoạt động CTXH trong bệnh viện tại Việt Nam dƣờng nhƣ manh nha hình thành từ những năm 1940. Hoạt động này đƣợc thực hiện theo mô hình của Pháp nhằm hỗ trợ trẻ em mồ côi đƣợc nuôi dƣỡng, chăm sóc tại “cô nhi viện”. Nhƣng, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Tùng (2016, tr. 362), do những biến động của thời cuộc nên các hoạt động CTXH trong bệnh viện bị gián đoạn trong một thời gian dài và mới chỉ đƣợc thừa nhận chính thức vào năm 2011 qua quyết định số 2154/QĐ-BYT ngày 15/7/2011 về việc “Phê duyệt đề án phát triển nghề CTXH trong ngành y tế giai đoạn 2011 – 2020”.
Tiếp theo nghiên cứu về lịch sử phát triển CTXH tại Việt Nam, lập luận của hai tác giả là Trƣơng Nguyễn Xuân Quỳnh và Phạm Thu Hà, (2016, tr. 49), cũng nhƣ của Đỗ Hạnh Nga (2016, tr. 18) cho thấy sự xuất hiện trở lại của hoạt động CTXH trong bệnh viện đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nghề CTXH ở Việt Nam theo hƣớng hội nhập quốc tế và chuyên nghiệp hóa. Đồng thời, sự du nhập hoạt động CTXH vào môi trƣờng bệnh viện đã góp phần giảm tải áp lực lên đội ngũ y, bác sỹ qua các hình thức, biện pháp can thiệp, trợ giúp tích cực cho bệnh nhân, 20 kết nối nguồn lực xã hội dành cho những trƣờng hợp khó khăn, tiết kiệm đƣợc chi phí chăm sóc y tế của nhà nƣớc, xã hội, gia đình và bản thân ngƣời bệnh.
Tuy nhiên, nghiên cứu của một số tác giả nhƣ Trƣơng Nguyễn Xuân Quỳnh và Phạm Thị Thu (2016), hay Nguyễn Thu Hà (2017) cũng khái quát chỉ ra tồn tại một số bất cập liên quan đến sự hình thành và phát triển hoạt động CTXH trong bệnh viện tại Việt Nam.