Công tác xã hội với trẻ vị thành niên điều trị nội trú tại bệnh viện nhi: Nghiên cứu và ứng dụng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hoạt động công tác xã hội với trẻ vị thành niên điều trị nội trú tại BV Nhi TW, đề xuất mô hình can thiệp hỗ trợ trẻ em bệnh viện.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ

2020

236
17
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mới của đề tài nghiên cứu

1.3. Mục đích nghiên cứu

1.4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu

1.5. Phạm vi nghiên cứu

1.6. Câu hỏi, giả thuyết và khung phân tích

1.7. Kết cấu của luận án

2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN

2.1. Nhóm các nghiên cứu về sự phổ cập hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện

2.2. Sự hình thành công tác xã hội trong bệnh viện

2.3. Sự phổ cập và hạn chế của hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện

2.4. Nhóm các nghiên cứu về mô hình hoạt động và nhận thức về hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện

2.5. Mô hình hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện và một số hạn chế

2.6. Nhận thức đúng và sai lệch về ý nghĩa của hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện

2.7. Nhóm các nghiên cứu về thực trạng và năng lực thực hiện hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện

2.8. Hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện: sự đan xen giữa chuyên nghiệp và không chuyên

2.9. Sự thiếu hụt, yếu kém chuyên môn của đội ngũ nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện: nguyên nhân và hệ quả

2.10. Tiểu kết chương 1

3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN VỚI TRẺ VỊ THÀNH NIÊN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ

3.1. Một số khái niệm ứng dụng trong đề tài. Công tác xã hội, công tác xã hội nhóm và nhân viên công tác xã hội

3.2. Hoạt động công tác xã hội

3.3. Trẻ vị thành niên và trẻ vị thành niên điều trị nội trú trong bệnh viện

3.4. Hoạt động công tác xã hội và thực nghiệm hoạt động CTXH nhóm với trẻ vị thành niên điều trị nội trú trong bệnh viện

3.5. Các lý thuyết vận dụng trong đề tài

3.5.1. Lý thuyết trao quyền, biện hộ

3.5.2. Lý thuyết nhận thức – hành vi

3.5.3. Lý thuyết nhu cầu

3.6. Phương pháp nghiên cứu

3.6.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

3.6.2. Phương pháp phỏng vấn sâu

3.6.3. Phương pháp thu thập thông tin qua hoạt động công tác xã hội nhóm

3.6.4. Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia

3.6.5. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

3.7. Tiểu kết chương 2

4. THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CÁC HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI DÀNH CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƢƠNG

4.1. Nền tảng triển khai hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện Nhi Trung Ƣơng

4.2. Khái quát lịch sử hình thành bệnh viện Nhi Trung ương và phòng công tác xã hội

4.3. Chất lượng nghề của đội ngũ nhân viên công tác xã hội

4.4. Khái quát về trẻ vị thành niên điều trị nội trú tại bệnh viện Nhi Trung ương theo kết quả khảo sát

4.5. Nhu cầu tiếp cận hoạt động công tác xã hội của trẻ vị thành niên điều trị nội trú

4.5.1. Về nhu cầu tiếp cận hoạt động hỗ trợ thủ tục hành chính

4.5.2. Về nhu cầu tiếp cận hoạt động tư vấn liên quan đến khám, chữa bệnh

4.5.3. Về nhu cầu tiếp cận hoạt động kết nối khám, chữa bệnh với y, bác sỹ

4.5.4. Về nhu cầu tiếp cận hoạt động hỗ trợ dinh dưỡng, trao quà

4.6. Thực trạng việc triển khai hoạt động công tác xã hội dành cho trẻ vị thành niên điều trị nội trú

4.6.1. Hoạt động hỗ trợ thủ tục hành chính

4.6.2. Hoạt động tư vấn liên quan đến việc khám, chữa bệnh

4.6.3. Hoạt động kết nối với y, bác sỹ để được khám, chữa bệnh

4.6.4. Hoạt động hỗ trợ dinh dưỡng, trao quà

4.7. Lượng giá hoạt động công tác xã hội dành cho trẻ vị thành niên điều trị nội trú và nhu cầu mở rộng

4.7.1. Lượng giá sự cần thiết của hoạt động công tác xã hội

4.7.2. Lượng giá sự hài lòng của trẻ vị thành niên điều trị nội trú

4.7.3. Lượng giá ảnh hưởng của hoạt động công tác xã hội đến việc khám/chữa bệnh của y, bác sỹ

4.7.4. Khái quát nhu cầu mở rộng hoạt động công tác xã hội

4.8. Tiểu kết chương 3

5. THỰC NGHIỆM HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI TRẺ VỊ THÀNH NIÊN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƢƠNG

5.1. Hoạt động thành lập nhóm

5.2. Lựa chọn trẻ tham gia hoạt động công tác xã hội nhóm. Xác lập thành viên và xây dựng quy tắc hoạt động nhóm

5.3. Hoạt động chuẩn bị thực hiện can thiệp nhóm

5.4. Tổ chức hoạt động “phá băng” tạo lập, củng cố mối quan hệ giữa các thành viên và xác lập sơ đồ sinh thái

5.5. Nhận diện vấn đề và lựa chọn vấn đề ưu tiên

5.6. Lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ

5.7. Hoạt động can thiệp hỗ trợ nhóm

5.7.1. Hoạt động trợ giúp nhóm giảm thiểu cảm giác lo lắng về bệnh và về việc chữa bệnh

5.7.2. Hoạt động kết nối nhóm với y, bác sỹ để được tư vấn về bệnh và về việc chữa bệnh

5.7.3. Hoạt động hỗ trợ nhóm giảm bớt lo lắng về việc học tập để an tâm chữa bệnh

5.8. Hoạt động lượng giá kết thúc

5.9. Lượng giá mức độ cần thiết của hoạt động công tác xã hội nhóm dành cho trẻ vị thành niên điều trị nội trú

5.10. Lượng giá mức độ hài lòng và thay đổi của trẻ vị thành niên điều trị nội trú tham gia hoạt động công tác xã hội nhóm

5.11. Lượng giá ảnh hưởng của hoạt động công tác xã hội nhóm đến việc khám, chữa bệnh của y, bác sỹ

5.12. Khái quát thành công và hạn chế của hoạt động thực nghiệm công tác xã hội nhóm

5.13. Tiểu kết chương 4

6. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về công tác xã hội cho trẻ vị thành niên điều trị nội trú

Công tác xã hội cho trẻ vị thành niên trong điều trị nội trú tại bệnh viện nhi là một lĩnh vực quan trọng, nhằm hỗ trợ tâm lý và xã hội cho trẻ em trong quá trình điều trị. Hoạt động này không chỉ giúp trẻ em vượt qua khó khăn mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển tâm lý tích cực. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà (2020), việc triển khai công tác xã hội trong bệnh viện nhi đã góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ vị thành niên.

1.1. Khái niệm công tác xã hội trong bệnh viện

Công tác xã hội trong bệnh viện là hoạt động hỗ trợ tâm lý và xã hội cho bệnh nhân, đặc biệt là trẻ vị thành niên. Hoạt động này bao gồm tư vấn, hỗ trợ thủ tục hành chính và kết nối với các dịch vụ y tế.

1.2. Vai trò của công tác xã hội trong điều trị nội trú

Công tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc giảm bớt lo lắng cho trẻ vị thành niên trong quá trình điều trị. Nhân viên công tác xã hội giúp trẻ em cảm thấy an tâm hơn và hỗ trợ gia đình trong việc chăm sóc.

II. Thách thức trong công tác xã hội cho trẻ vị thành niên điều trị nội trú

Mặc dù công tác xã hội đã được triển khai tại nhiều bệnh viện, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua. Theo nghiên cứu, sự thiếu hụt nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp và nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của họ là những vấn đề lớn. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ mà trẻ vị thành niên nhận được.

2.1. Thiếu hụt nhân viên công tác xã hội

Nhiều bệnh viện vẫn chưa có đủ nhân viên công tác xã hội để đáp ứng nhu cầu của trẻ vị thành niên. Điều này dẫn đến việc trẻ em không nhận được sự hỗ trợ cần thiết trong quá trình điều trị.

2.2. Nhận thức xã hội về công tác xã hội

Nhận thức của cộng đồng về vai trò của công tác xã hội trong bệnh viện còn hạn chế. Nhiều người vẫn chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ vị thành niên trong điều trị.

III. Phương pháp can thiệp công tác xã hội cho trẻ vị thành niên

Để nâng cao hiệu quả công tác xã hội cho trẻ vị thành niên, cần áp dụng các phương pháp can thiệp phù hợp. Các phương pháp này bao gồm tư vấn cá nhân, tổ chức hoạt động nhóm và kết nối với các dịch vụ y tế khác. Theo nghiên cứu, việc áp dụng các phương pháp này đã mang lại kết quả tích cực trong việc hỗ trợ trẻ em.

3.1. Tư vấn cá nhân cho trẻ vị thành niên

Tư vấn cá nhân giúp trẻ vị thành niên giải tỏa lo lắng và tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề cá nhân trong quá trình điều trị. Nhân viên công tác xã hội sẽ lắng nghe và hỗ trợ trẻ em trong việc vượt qua khó khăn.

3.2. Hoạt động nhóm hỗ trợ trẻ vị thành niên

Tổ chức các hoạt động nhóm giúp trẻ vị thành niên giao lưu, chia sẻ cảm xúc và học hỏi từ nhau. Điều này không chỉ giúp trẻ em cảm thấy bớt cô đơn mà còn tạo ra một môi trường hỗ trợ tích cực.

IV. Ứng dụng thực tiễn công tác xã hội tại bệnh viện nhi

Việc triển khai công tác xã hội tại bệnh viện nhi đã cho thấy nhiều kết quả tích cực. Các hoạt động hỗ trợ đã giúp trẻ vị thành niên cảm thấy an tâm hơn trong quá trình điều trị. Nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em tham gia vào các hoạt động công tác xã hội có sự hài lòng cao hơn về dịch vụ y tế.

4.1. Kết quả từ các hoạt động hỗ trợ

Các hoạt động hỗ trợ như tư vấn và kết nối với y bác sĩ đã giúp trẻ vị thành niên cải thiện tâm lý và cảm thấy thoải mái hơn trong quá trình điều trị.

4.2. Đánh giá sự hài lòng của trẻ vị thành niên

Nghiên cứu cho thấy trẻ vị thành niên tham gia vào các hoạt động công tác xã hội có mức độ hài lòng cao hơn về dịch vụ y tế. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc mở rộng các hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện.

V. Kết luận và hướng phát triển công tác xã hội trong tương lai

Công tác xã hội cho trẻ vị thành niên trong điều trị nội trú tại bệnh viện nhi cần được phát triển hơn nữa. Cần có sự đầu tư vào nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của công tác xã hội. Điều này sẽ giúp trẻ vị thành niên nhận được sự hỗ trợ tốt nhất trong quá trình điều trị.

5.1. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội

Cần có các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác xã hội, bao gồm đào tạo nhân viên và tăng cường sự phối hợp giữa các bộ phận trong bệnh viện.

5.2. Tương lai của công tác xã hội trong bệnh viện

Công tác xã hội trong bệnh viện cần được mở rộng và phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của trẻ vị thành niên. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ em.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung chính của luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu về hoạt động CTXH trong bệnh viện Chƣơng 2. Cơ sở lý luận nghiên cứu về hoạt động CTXH trong bệnh viện với trẻ VTN điều trị nội trú Chƣơng 3. Thực trạng triển khai các hoạt động CTXH trong bệnh viện dành cho trẻ VTN điều trị nội trú tại bệnh viện Nhi Trung ƣơng Chƣơng 4.

Thực nghiệm hoạt động CTXH nhóm với trẻ VTN điều trị nội trú tại bệnh viện Nhi Trung ƣơng. 16 NỘI DUNG Chƣơng 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN Trong khuôn khổ luận án nghiên cứu, cũng nhƣ giới hạn về số lƣợng tài liệu tham khảo, phần tổng quan nghiên cứu tập trung vào nhận diện và phân loại các vấn đề nghiên cứu theo 03 nhóm: Nhóm 1: Các nghiên cứu về sự phổ cập hoạt động CTXH trong bệnh viện; Nhóm 2: Các nghiên cứu về về mô hình hoạt động và nhận thức về hoạt động CTXH trong bệnh viện; Nhóm 3: Các nghiên cứu về năng lực và thực trạng thực hiện hoạt động CTXH trong bệnh viện. Nhóm các nghiên cứu về sự phổ cập hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện 1.

Sự hình thành công tác xã hội trong bệnh viện Hoạt động CTXH trong bệnh viện xuất hiện sớm tại Anh ngay từ năm 1894, sau đó lan sang Mỹ vào năm 1905 và phát triển mở rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới. Sự thành công đó đã dẫn đến sự ra đời “hiệp hội nhân viên CTXH thế giới” vào năm 1928. Tính đến thời điểm hiện nay, đã có hơn 90 quốc gia tham gia tổ chức này với mong muốn thúc đầy hoạt động CTXH chuyên nghiệp trong bệnh viện tại quốc gia mình. Tại Việt Nam, hoạt động CTXH trong bệnh viện cũng manh nha hình thành từ những năm 1940, nhƣng do những biến động của lịch sử mà bị gián đoạn.

Đến năm 2011, hoạt động này mới xuất hiện trở lại với những thành tựu nhất định. Thực tiễn trên đƣợc các tác giả thể hiện trong nghiên cứu của mình dƣới đây. Trong nghiên cứu về “Quan điểm lịch sử về thực hành công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe”, Badawi Mieke (1990, tr. 12) đã dẫn chứng cho thấy nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử CTXH đồng tình với lập luận rằng hoạt động CTXH trong bệnh viện xuất hiện sớm tại Anh, bởi ngay từ năm 1891, Charles Loch, tổng thƣ ký của Hiệp hội từ thiện Luân Đôn, đã gửi Hạ viện Anh đề xuất đào tạo nhân viên CTXH trong bệnh viện.

Đội ngũ này, khi đó đƣợc gọi là “nhân viên phát chẩn - 17 Almoners”, có nhiệm vụ phát hiện và ngăn ngừa tình trạng lạm dụng khám chữa bệnh miễn phí của một bộ phận những ngƣời có khả năng kinh tế, nhƣng không muốn chi trả, đồng thời hỗ trợ, chăm sóc những ngƣời khó khăn, giúp họ ứng phó với những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình điều trị tại bệnh viện. Tiếp theo nghiên cứu của Badawi Mieke, nghiên cứu về “Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe: chúng ta đã đạt được những gì?” đăng trên tạp chí “Journal of Social Work” số 1(2) của tác giả Auslander (2001) cũng nhƣ nghiên cứu về “Sổ tay công tác xã hội trong lĩnh vực y tế” của hai tác giả Gehlert Sarat vàBrowne Teri ( 2006) cùng chỉ ra những cột mốc cơ bản và luận điểm chủ chốt đƣa CTXH vào môi trƣờng y tế. Theo đó, vào năm 1894, nghĩa là sau 3 năm Charles Loch đề xuất với Hạ viện, nhân viên CTXH trong bệnh viện đầu tiên ở Anh đƣợc tuyển dụng vào làm việc tại bệnh viện Londons Royal Free Hospital. Công việc chính của họ lúc này là tiếp nhận, đăng ký, lƣu trữ hồ sơ điều trị, sàng lọc và thực hiện một số hoạt động trợ giúp xã hội cho bệnh nhân nghèo.

Mƣời năm sau, vào năm 1905, nƣớc Mỹ cũng tiếp bƣớc theo nƣớc Anh đƣa hoạt động CTXH vào môi trƣờng bệnh viện với mục đích “để chăm sóc y tế có hiệu quả - to make medical care effective”, mà ngƣời có công đầu là bác sỹ Richard Cabot, làm việc tại bệnh viện Massachusetts. Do vậy, những nhân viên CTXH đầu tiên tại Mỹ đƣợc giao nhiệm vụ tiếp xúc thân thiện với bệnh nhân nhằm đánh giá về mặt y tế xã hội, giới thiệu các dịch vụ khám, chữa bệnh, kết nối bệnh nhân với y, bác sỹ và hỗ trợ các nhu cầu cơ bản dành cho bệnh nhân nghèo [Auslander, 2001, tr. Quan điểm đƣa CTXH vào bệnh viện của bác sỹ Richard Cabot bắt nguồn từ nhận định rằng “y tế là những hoạt động có độ chính xác cao, đòi hỏi nhân viên y tế dành nhiều thời gian nâng cao chuyên môn nên ít có thời gian làm những công việc khác, yếu điểm của ngành y tế là các hoạt động xã hội, trong khi đó, đây là thế mạnh của ngành CTXH, do vậy CTXH và y tế là những nghề có thể bổ trợ cho nhau, hoạt động CTXH sẽ giúp bộ phận y tế vận hành được tốt hơn”. Với quan điểm trên, Richard Cabot cho rằng nhân viên CTXH trong bệnh viện sẽ là cầu nối 18 giúp ngƣời bệnh, ngƣời nhà ngƣời bệnh và đội ngũ y bác sỹ hiểu nhau, phối hợp thực hiện công việc đƣợc tốt hơn và thực tế đã chứng minh quan điểm của Richard Cabot hoàn toàn đúng đắn [Gehlert Sarat and Browne Teri, 2006, tr.

Nghiên cứu của hai tác giả Gehlert Sarat và Browne Teri nêu trên còn cho thấy, đến năm 1918, nƣớc Mỹ thành lập hiệp hội nhân viên CTXH trong bệnh viện. Hiệp hội này có vai trò thúc đẩy và phối hợp đào tạo đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp. Kết quả nghiên cứu của hiệp hội đã chỉ ra vai trò không thể bỏ qua của nhân viên CTXH trong môi trƣờng y tế, đó là cung cấp cho y, bác sỹ thông tin đầy đủ về bệnh nhân, hoàn cảnh gia đình, trạng thái tâm lý; giải thích đƣợc cho ngƣời bệnh quy trình khám, chữa bệnh, những nguyên nhân gia đình và xã hội ảnh hƣởng đến sức khỏe của họ; và vận động nguồn lực xã hội hỗ trợ bệnh nhân nghèo. Kết quả nghiên cứu của hiệp hội này đƣợc sử dụng làm luận chứng thuyết phục mở rộng hoạt động CTXH trong bệnh viện, do vậy, nhiều bệnh viện tại Mỹ đã tham khảo, học hỏi và ứng dụng mô hình này vào quá trình điều trị bệnh nhân.

Ngoài ra, nghiên cứu của một số tác giả nhƣ Christine Perriam (2015), Auslander (2001), Annie và cộng sự (2014) và nhiều tác giả khác cho thấy nối tiếp thành công của hoạt động CTXH trong bệnh viện tại Anh và Mỹ, nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng bắt đầu ứng dụng hoạt động này, chẳng hạn nƣớc Pháp năm 1918 [Madeleine Dubois et Marie-Luce Garceau, 2000, tr. 20], Úc năm 1929 [Christine Perriam, 2015, tr.19], Ai Cập năm 1936, Hồng Kông năm 1939, Israel năm 1948 [Auslander, 2001, tr. Sự phát triển mạnh mẽ của CTXH trong bệnh viện đã thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới và là tiền đề thúc đẩy 12 quốc gia tham gia ký kết thành lập “hiệp hội nhân viên CTXH thế giới” tại Paris năm 1928 [Annie et al. Sau khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ 2, hoạt động CTXH trong bệnh viện có sự phát triển mạnh mẽ và đƣợc gọi là “dịch vụ xã hội trong môi trường y tế”, lúc này, nhiều quốc gia thuộc cộng đồng Pháp ngữ đã đăng ký gia nhập “hiệp hội nhân viên CTXH thế giới” nêu trên [Georgette Béliveau et Lise Hébert, 1996, tr.

Đến năm 2014, đã có 90 quốc gia gia nhập tổ chức này với cam kết thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ các hoạt động CTXH chuyên nghiệp trong bệnh viện tại quốc gia mình [Annie et al. Tại Việt Nam, chủ đề lịch sử phát triển hoạt động CTXH trong môi trƣờng y tế cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, chẳng hạn nhƣ nghiên cứu của tác giả Lê Thị Quý (2015) về “Công tác xã hội ở Việt Nam – Lịch sử phát triển và triển vọng”, của Nguyễn Thị Thanh Tùng (2016) về “Mô hình công tác xã hội bệnh viện tại Mỹ và kinh nghiệm cho phát triển công tác xã hội tại Việt Nam”, của Đỗ Hạnh Nga (2016) về “Hệ thống khung pháp lý – cơ sở cho sự phát triển nghề công tác xã hội trong ngành y tế”, hay của Nguyễn Thu Hà (2017) về “Hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện tại Việt Nam: thành tựu và những vấn đề bất cập”. Những nghiên cứu này đã khái quát lại lịch sử biến động của CTXH trong bệnh viện ở nƣớc ta từ 1940 đến nay. Theo nghiên cứu của tác giả Lê Thị Quý (2015, tr.

351) các dẫn chứng lịch sử cho thấy hoạt động CTXH trong bệnh viện tại Việt Nam dƣờng nhƣ manh nha hình thành từ những năm 1940. Hoạt động này đƣợc thực hiện theo mô hình của Pháp nhằm hỗ trợ trẻ em mồ côi đƣợc nuôi dƣỡng, chăm sóc tại “cô nhi viện”. Nhƣng, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Tùng (2016, tr. 362), do những biến động của thời cuộc nên các hoạt động CTXH trong bệnh viện bị gián đoạn trong một thời gian dài và mới chỉ đƣợc thừa nhận chính thức vào năm 2011 qua quyết định số 2154/QĐ-BYT ngày 15/7/2011 về việc “Phê duyệt đề án phát triển nghề CTXH trong ngành y tế giai đoạn 2011 – 2020”.

Tiếp theo nghiên cứu về lịch sử phát triển CTXH tại Việt Nam, lập luận của hai tác giả là Trƣơng Nguyễn Xuân Quỳnh và Phạm Thu Hà, (2016, tr. 49), cũng nhƣ của Đỗ Hạnh Nga (2016, tr. 18) cho thấy sự xuất hiện trở lại của hoạt động CTXH trong bệnh viện đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nghề CTXH ở Việt Nam theo hƣớng hội nhập quốc tế và chuyên nghiệp hóa. Đồng thời, sự du nhập hoạt động CTXH vào môi trƣờng bệnh viện đã góp phần giảm tải áp lực lên đội ngũ y, bác sỹ qua các hình thức, biện pháp can thiệp, trợ giúp tích cực cho bệnh nhân, 20 kết nối nguồn lực xã hội dành cho những trƣờng hợp khó khăn, tiết kiệm đƣợc chi phí chăm sóc y tế của nhà nƣớc, xã hội, gia đình và bản thân ngƣời bệnh.

Tuy nhiên, nghiên cứu của một số tác giả nhƣ Trƣơng Nguyễn Xuân Quỳnh và Phạm Thị Thu (2016), hay Nguyễn Thu Hà (2017) cũng khái quát chỉ ra tồn tại một số bất cập liên quan đến sự hình thành và phát triển hoạt động CTXH trong bệnh viện tại Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Công tác xã hội với trẻ vị thành niên điều trị nội trú tại bệnh viện nhi: Nghiên cứu và ứng dụng" của tác giả Nguyễn Thu Hà, dưới sự hướng dẫn của GS. Đặng Cảnh Khanh và PGS. Lê Thanh Hải, thuộc Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, mang đến cái nhìn sâu sắc về vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ trẻ vị thành niên trong quá trình điều trị nội trú tại bệnh viện. Nghiên cứu này không chỉ khám phá các phương pháp can thiệp mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết nối giữa bệnh nhân, gia đình và nhân viên y tế, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho trẻ em trong môi trường bệnh viện.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ về công tác xã hội với trẻ vị thành niên điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương, nơi cung cấp những nghiên cứu và ứng dụng cụ thể trong công tác xã hội tại bệnh viện nhi. Ngoài ra, bài viết Lê xuân hiệp khảo sát nhu cầu tư vấn sử dụng thuốc của người bệnh điều trị ngoại trú tại bệnh viện đại học y hà nội năm 2023 cũng chia sẻ những thông tin quan trọng về nhu cầu tư vấn y tế, góp phần vào việc cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Tuân thủ qui trình đặt và chăm sóc kim luồn tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng để hiểu rõ hơn về các quy trình chăm sóc y tế trong môi trường bệnh viện. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về công tác xã hội và chăm sóc sức khỏe cho trẻ vị thành niên.