Đặc điểm lâm sàng và dấu ấn sinh học của bệnh viêm khớp tự phát ở thiếu niên

Luận án nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và dấu ấn sinh học trong bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên, cung cấp thông tin quan trọng cho y học.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2023

173
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đại cương bệnh Viêm khớp tự phát thiếu niên

1.2. Sơ lược về lịch sử và dịch tễ học bệnh Viêm khớp tự phát thiếu niên

1.3. Phân loại bệnh VKTPTN. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh bệnh VKTPTN

1.4. Đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán và điều trị viêm khớp thiếu niên

1.5. Một số dấu ấn sinh học được đánh giá trong bệnh VKTPTN

1.5.1. Yếu tố viêm

1.5.2. Một số yếu tố miễn dịch

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Thiết kế nghiên cứu

2.5.2. Nội dung nghiên cứu và các biến nghiên cứu

2.5.3. Kỹ thuật thu thập thông tin

2.5.4. Xử lý số liệu và các thuật toán trong nghiên cứu

2.5.5. Khống chế sai số

2.5.6. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô tả đặc điểm lâm sàng các thể bệnh bệnh Viêm khớp tự phát thiếu niên theo phân loại của ILAR

3.2. Một số đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

3.3. Mô tả đặc điểm lâm sàng của nhóm bệnh nhân thể viêm ít khớp

3.4. Mô tả đặc điểm lâm sàng hai thể viêm đa khớp RF (+) và viêm đa khớp RF (-) theo phân loại ILAR

3.5. Đặc điểm lâm sàng của thể viêm khớp hệ thống

3.6. Mô tả đặc điểm lâm sàng của thể viêm điểm bám gân

3.7. Khảo sát một số dấu ấn sinh học trong bệnh VKTPTN trên thể viêm ít khớp và viêm đa khớp

3.8. Đặc điểm tế bào máu ngoại vi của các đối tượng nghiên cứu tại T(0)

3.9. Một số chỉ số sinh hóa đánh giá phản ứng viêm tại thời điểm T(0)

3.10. Biến đổi của chỉ số viêm theo thời gian của thể viêm ít khớp và thể viêm đa khớp

3.11. Đặc điểm về yếu tố RF, kháng thể kháng CCP và ANA, HLA-B27

3.12. Mối liên quan giữa nồng độ (IL6, TNFα) huyết thanh của các bệnh nhân nhóm viêm đa khớp với các biểu hiện của phản ứng viêm tại T(0)

3.13. Liên quan về nồng độ IL6, TNFα huyết thanh với hoạt tính bệnh của các bệnh nhân thể viêm đa khớp tại thời điểm T(12)

3.14. Đặc điểm tiên lượng bệnh VKTPTN thể viêm ít khớp và thể viêm đa khớp

3.15. Tiên lượng về hoạt tính bệnh của thể viêm ít khớp và thể viêm đa khớp RF (-), RF (+)

3.16. Tiên lượng về tổn thương hủy khớp trên XQ của thể viêm đa khớp RF (-)/ RF(+)

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Nhận xét về đặc điểm lâm sàng từng thể bệnh VKTPTN theo phân loại của ILAR

4.2. Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu và phân loại từng thể lâm sàng của bệnh theo ILAR

4.3. Nhận xét về đặc điểm lâm sàng của các bệnh nhân thể viêm ít khớp

4.4. Bàn về đặc điểm lâm sàng thể viêm đa khớp RF(+) và viêm đa khớp RF(-)

4.5. Nhận xét về đặc điểm lâm sàng của thể viêm khớp hệ thống

4.6. Bàn luận về đặc điểm lâm sàng của thể viêm điểm bám gân

4.7. Bàn luận về một số dấu ấn sinh học trên thể viêm ít khớp và viêm đa khớp

4.8. Bàn về một số yếu tố tiên lượng bệnh thể ít khớp và thể đa khớp

4.9. Tiên lượng khả năng đạt bệnh không hoạt động thể viêm ít khớp và thể viêm đa khớp

4.10. Tiên lượng về khả năng gây hủy khớp ở các bệnh nhân thể viêm đa khớp

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về viêm khớp tự phát thiếu niên

Viêm khớp tự phát thiếu niên (VKTPTN) là một bệnh lý viêm khớp mạn tính phổ biến nhất ở trẻ em. Bệnh được xác định khi có một hoặc nhiều khớp viêm kéo dài ít nhất 6 tuần, khởi phát trước 16 tuổi. Theo báo cáo, tỷ lệ mắc bệnh này dao động từ 1-10/1.000 trẻ em. Việc chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng để ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng như tàn phế. Nghiên cứu cho thấy rằng chỉ một số ít bệnh nhân có khả năng thoái lui bệnh khi trưởng thành, trong khi nhiều trẻ em vẫn tiếp tục có mức độ hoạt động bệnh cao. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện và điều trị sớm để cải thiện chất lượng cuộc sống cho trẻ mắc bệnh.

1.1. Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán

Đặc điểm lâm sàng của VKTPTN rất đa dạng và phức tạp. Các triệu chứng có thể bao gồm viêm khớp, sốt, và các biểu hiện toàn thân khác. Chẩn đoán bệnh không dựa vào một tiêu chuẩn cụ thể nào mà cần dựa vào triệu chứng lâm sàng và một số xét nghiệm gợi ý. Các biomarker như kháng thể kháng nhânkháng thể kháng CCP đang được nghiên cứu để hỗ trợ trong việc chẩn đoán và theo dõi điều trị. Việc phân loại bệnh theo tiêu chuẩn của ILAR giúp xác định rõ hơn các thể bệnh và từ đó có phương pháp điều trị phù hợp.

II. Dấu ấn sinh học trong viêm khớp tự phát thiếu niên

Nghiên cứu về các dấu ấn sinh học trong VKTPTN đã chỉ ra rằng một số biomarker có thể giúp trong việc chẩn đoán và theo dõi bệnh. Các yếu tố viêm như TNFαIL6 đã được xác định có liên quan đến hoạt tính bệnh. Nồng độ của các yếu tố này trong huyết thanh có thể phản ánh mức độ viêm và tiên lượng bệnh. Việc xác định các biomarker này không chỉ giúp trong việc chẩn đoán mà còn có thể hỗ trợ trong việc lựa chọn phương pháp điều trị hiệu quả hơn, từ đó cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

2.1. Các biomarker tiềm năng

Một số biomarker như C-reactive protein (CRP)erythrocyte sedimentation rate (ESR) thường được sử dụng để đánh giá tình trạng viêm trong VKTPTN. Nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ CRP và ESR có thể tăng cao trong các đợt bùng phát của bệnh. Ngoài ra, các kháng thể như RFHLA-B27 cũng được xem xét trong việc phân loại và tiên lượng bệnh. Việc sử dụng các biomarker này có thể giúp các bác sĩ theo dõi hiệu quả điều trị và điều chỉnh phác đồ điều trị kịp thời.

III. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Phương pháp nghiên cứu trong đề tài này bao gồm việc thu thập dữ liệu lâm sàng từ các bệnh nhân mắc VKTPTN. Các tiêu chuẩn chọn bệnh nhân được xác định rõ ràng, bao gồm cả tiêu chuẩn loại trừ. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các thể bệnh khác nhau có đặc điểm lâm sàng và sinh học khác nhau. Việc phân tích các yếu tố tiên lượng cũng cho thấy rằng một số yếu tố như tuổi khởi bệnh và giới tính có thể ảnh hưởng đến diễn biến của bệnh. Những phát hiện này có thể giúp cải thiện quy trình chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân.

3.1. Đặc điểm lâm sàng và tiên lượng

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng thể viêm ít khớp có tiên lượng tốt hơn so với thể viêm đa khớp. Các yếu tố như nồng độ RFkháng thể kháng CCP có thể dự đoán khả năng hủy khớp trong tương lai. Việc hiểu rõ các đặc điểm lâm sàng và sinh học của từng thể bệnh sẽ giúp các bác sĩ đưa ra quyết định điều trị chính xác hơn, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân mắc VKTPTN.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đại cương bệnh Viêm khớp tự phát thiếu niên 1. Sơ lược về lịch sử và dịch tễ học bệnh Viêm khớp tự phát thiếu niên Bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên (VKTPTN) là một nhóm bệnh không đồng nhất có biểu hiện viêm mạn tính màng hoạt dịch của khớp mà căn nguyên chưa được xác định. Những đặc điểm chính của bệnh là tổn thương các khớp mạn tính tiến triển từng đợt, có thể gây ăn mòn sụn khớp, tổn thương xương dưới sụn gây mất chức năng vận động, mù mắt (do biến chứng viêm màng bồ đào), khiến bệnh nhân trở thành tàn phế nếu không được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời [7].

Lịch sử sơ lược bệnh VKTPTN Cornil được coi là người đầu tiên đã mô tả những triệu chứng tương đối đầy đủ về bệnh VKTPTN. Năm 1864 ông mô tả một phụ nữ 29 tuổi bị viêm nhiều khớp mạn tính mà bệnh bắt đầu từ năm 12 tuổi [8]. Những ca viêm khớp mạn tính sau này còn được báo cáo bởi các tác giả khác đến từ Pari như Charcot (1866), Bouchet (1875), và hai tác giả Lewis – Smith, Garrod đến từ New York và London (1876). Một luận án được nghiên cứu ở Paris năm 1890, tác giả Diament-Berger đã báo cáo 38 trường hợp viêm khớp mạn tính khởi phát bệnh từ khi còn nhỏ tuổi [9].

Ông đã phát hiên ra rằng viêm khớp ở trẻ em có tiên lượng tốt hơn so với người lớn, và ông cũng đưa ra những phân loại đầu tiên về bệnh này như thể cấp, thể tiến triển chậm và thể từng phần [8], [9]. Được coi là “Cha đẻ của nghành khớp trẻ em”, George Frederic Still đã mô tả 12 trường hợp ở Anh năm 1897 mà ngày nay được biết đến như một bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên thể hệ thống. Dịch tễ học VKTPTN là nguyên nhân phổ biến nhất của viêm khớp mạn tính ở trẻ em. Các kết quả công bố về tỷ lệ mới mắc của bệnh rất khác nhau tùy thuộc vào yếu tố địa lý, chủng tộc, cách lựa chọn bệnh nhân, cách thiết kế nghiên cứu tại cộng đồng hay nghiên cứu tại bệnh viện cũng như khác nhau về cỡ mẫu nghiên cứu, cách sử dụng phân loại bệnh.

Tỷ lệ mắc chung cao nhất của bệnh theo Heinni là một nghiên cứu tại cộng đồng [10]. Nói chung các nghiên cứu về dịch tễ học của VKTPTN cho thấy tỷ lệ mắc bệnh thay đổi từ 1,3 – 22,6/100000 trẻ em [9]. Nghiên cứu của Canada phát hiện trẻ em gốc châu Âu có nguy cơ cao phát triển bệnh VKTPTN theo Saurenmann (2007) [11]. Việc phân loại bệnh VKTPTN dựa theo các tiêu chuẩn của hội thấp khớp học Mỹ (ARA), hay hội thấp khớp học châu Âu (EULAR) và hội thấp khớp học quốc tế (ILAR) đã đưa ra nhiều con số khác nhau về dịch tễ học của bệnh trong nhiều thập kỷ.

Nhưng theo tiêu chuẩn phân loại của ILAR thì tỷ lệ mắc bệnh sẽ cao hơn vì hai lý do: thứ nhất thời gian diễn biến của bệnh yêu cầu ngắn hơn để được chẩn đoán (dưới 6 tuần), thứ hai tiêu chuẩn bao gồm thêm các trẻ mắc thể viêm điểm bám gân - không có trong phân loại của hội thấp khớp Mỹ và châu Âu [10]. Một số tác giả lưu ý rằng tỷ lệ mắc bệnh còn thay đổi do sự khác nhau về yếu tố địa lý, yếu tố môi trường và yếu tố di truyền. Tại Việt Nam chưa có số liệu cụ thể về tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ mắc chung về bệnh VKTPTN. Tuổi được chẩn đoán bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên: Như tên gọi của bệnh - VKTPTN, từ “juvenile” được coi là dưới 16 tuổi, có nghĩa là bệnh khởi đầu ở những trẻ từ 0 - 15 tuổi, nhưng rất hiếm khi bệnh bắt 5 đầu trong 6 tháng đầu đời của trẻ [8].

Theo một số tác giả bệnh khởi phát với tần suất cao ở nhóm trẻ 0 - 3 tuổi, và nhóm tuổi dậy thì, nhưng tuổi khởi bệnh cũng phụ thuộc rất nhiều vào thể bệnh ban đầu [8], [10]. Tuổi trung bình ở thời điểm bắt đầu được chẩn đoán dao động từ 6,8 - 9,2 tuổi tùy nghiên cứu [8]. Giới: Bệnh VKTPTN ảnh hưởng trên trẻ gái nhiều hơn trẻ trai nhưng sự phân bố về giới cũng khác nhau giữa các thể lâm sàng. Thể viêm ít khớp tỷ lệ nam/nữ là 1/5, thể viêm nhiều khớp và viêm khớp hệ thống tỷ lệ này tương ứng là 1/3 và 1/1.

Thể viêm điểm bám gân gặp chủ yếu ở trẻ trai [8]. Phân loại bệnh VKTPTN Trong những thập kỷ qua các nhà thấp khớp học trên thế giới đã sử dụng một số thuật ngữ và cách phân loại khác nhau áp dụng cho các bệnh nhân VKTPTN nhằm mục đích tìm hiểu rõ hơn về bệnh [10]. Lần đầu tiên vào năm 1973, thuật ngữ “viêm khớp dạng thấp thiếu niên” được sử dụng bởi hội thấp khớp học Mỹ (lấy tên là American Rheumatism Association (ARA) và sau đó được đổi tên thành American College of Rheumatology (ACR). Thuật ngữ này bao gồm các bệnh nhân có biểu hiện viêm khớp kéo dài ít nhất 6 tuần ở trẻ dưới 16 tuổi không rõ căn nguyên.

VKTPTN theo các tác giả này được phân loại thành 3 thể lâm sàng chính: thể viêm ít khớp, thể viêm đa khớp và thể viêm khớp hệ thống. Sau đó năm 1977 hội thấp khớp học châu Âu (the European League Against Rheumatism (EULAR) lại đưa ra tiêu chuẩn mới hơn để chẩn đoán VKTPTN với thời gian viêm khớp kéo dài ít nhất 3 tháng ở trẻ dưới 16 tuổi với tên gọi “Viêm khớp mạn tính thiếu niên” - Juvenile chronic arthritis. Thuật ngữ Viêm khớp mạn tính thiếu niên lần này bao gồm cả những bệnh nhân viêm cột sống dính khớp thiếu niên, viêm khớp liên quan với bệnh viêm ruột, viêm khớp vảy nến trong khi phân loại của hội thấp khớp học Mỹ lại 6 không bao gồm những thể lâm sàng này của bệnh mà được xem như những bệnh khớp khác tách biệt. Thời gian này thuật ngữ viêm khớp dạng thấp thiếu niên (JRA) được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và Canada, trong khi thuật ngữ viêm khớp mạn tính thiếu niên (JCA) được sử dụng chủ yếu ở châu Âu.

Và cuối cùng vào năm 1995, các nhà thấp khớp học thế giới đã đưa ra sự thống nhất tổng quát về các tiêu chí phân loại cho các thể lâm sàng của VKTPTN và được sử dụng cho đến thời điểm hiện nay. Mục đích của tiêu chí phân loại này là để phù hợp trong việc thăm khám lâm sàng hàng ngày và trong nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh, về cơ chế bệnh sinh, dịch tễ học của bệnh và cơ sở điều trị [10]. Cho đến nay các tiêu chí này đã được sửa đổi 3 lần, vào năm 1997, 2001 và lần thay đổi mới nhất là vào năm 2004 với sự bổ sung các tiêu chuẩn chẩn đoán loại trừ [12]. VKTPTN với biểu hiện lâm sàng phức tạp gồm nhiều thể.

Đây không phải là một bệnh đồng nhất mà là một nhóm các bệnh lý viêm khớp mạn tính không rõ căn nguyên. Không có một xét nghiệm cụ thể nào giúp xác định chẩn đoán. Chẩn đoán cần dựa vào sự kết hợp giữa các triệu chứng lâm sàng, thời gian diễn biến bệnh và một số tiêu chuẩn loại trừ [13]. Sử dụng các thuật ngữ khác nhau về bệnh VKTPTN tại các thời điểm khác nhau ở khắp các vùng miền trên thế giới đã phần nào giải thích được tỷ lệ mắc bệnh và kết quả điều trị khác nhau của các nghiên cứu về bệnh VKTPTN trên thế giới.

Đạt được sự thống nhất về tiêu chí phân loại của bệnh VKTPTN trên toàn thế giới là một bước tiến lớn và quan trọng để đạt được những kiến thức mới có giá trị về bệnh [9]. Phân loại bệnh VKTPTN theo tiêu chuẩn của ILAR [9],[10],[12],[14]. Thể lâm sàng Định nghĩa Tiêu chuẩn loại trừ Viêm tại 1 khớp hoặc nhiều A.Bản thân bệnh nhân mắc hơn cùng với sốt hoặc trước bệnh vảy nến hoặc đã mắc đó ít nhất 2 tuần với ghi nhận bệnh vảy nến, tiền sử có sốt hàng ngày trong ít nhất 3 bệnh vảy nến ở thế hệ 1; ngày cùng với 1 hoặc nhiều B.Viêm khớp với HLA-B27 hơn những dấu hiệu sau: (+) khởi phát ở trẻ trai ≥ 6 a) Ban đỏ không cố định tuổi; b) Hạch to C.Viêm cột sống dính khớp, c) Gan và hoặc lách to viêm khớp liên quan viêm Viêm khớp thể hệ d) Viêm màng thanh dịch điểm bám gân, viêm khớp thống cùng chậu với bệnh lý đường ruột, hội chứng Reiter hoặc viêm màng bồ đào trước hoặc tiền sử thế hệ 1 có một trong những bệnh trên; D. RF IgM (+) ít nhất 2 lần trong khoảng thời gian cách nhau 3 tháng Viêm khớp gây ảnh hưởng không A, B, C, D.

Giới hạn nhiều hơn 4 khớp trong suốt 6 E. Có biểu hiện các dấu Thể tháng đầu của bệnh hiệu toàn thân viêm Viêm khớp gây ảnh hưởng A, B, C, D, E ít khớp Mở rộng nhiều hơn 4 khớp sau 6 tháng đầu của bệnh Viêm khớp ≥ 5 khớp trong 6 A, B, C, D, E. Viêm đa khớp RF (-) tháng đầu của bệnh với RF (-) Viêm khớp gây ảnh hưởng ≥ A, B, C, E. 5 khớp trong 6 tháng đầu của Viêm đa khớp RF (+) bệnh, với ≥ 2 lần xét nghiệm RF (+) ở thời điểm cách nhau ít nhất 3 tháng 8 Thể lâm sàng Định nghĩa Tiêu chuẩn loại trừ Viêm khớp và vảy nến hoặc B, C, D, E.

viêm khớp và có ít nhất 2 trong các dấu hiệu sau: Viêm khớp vảy nến a)Viêm ngón b) Lõm móng hoặc bong móng c) Vảy nến ở thế hệ thứ nhất Viêm khớp và viêm điểm A, D, E bám gân hoặc viêm khớp hoặc viêm điểm bám gân với ít nhất 2 trong các dấu hiệu sau: a) Bản thân hoặc gia đình đau khớp cùng chậu và hoặc viêm cột sống lưng. b) HLA - B27 (+) Viêm điểm bám gân c) Khởi bệnh ở trẻ trai > liên quan với viêm 6 tuổi khớp d) Triệu chứng viêm màng bồ đào phía trước cấp tính Tiền sử viêm cột sống dính khớp, viêm điểm bám gân liên quan viêm khớp, viêm khớp cùng chậu với bệnh viêm ruột, hội chứng Reiter hoặc viêm màng bồ đào phía trước cấp tính ở thế hệ thứ 1 Viêm khớp nhưng không đủ Viêm khớp không phân loại cho 1 tiêu chuẩn phân loại hoặc có nhiều hơn 2 tiêu chuẩn đã phân loại. 9 Gần đây vào năm 2011 hội thấp khớp học Hoa Kỳ đã đưa ra khuyến cáo về điều trị an toàn cho các bệnh nhân VKTPTN. Khuyến cáo điều trị này dựa trên phân loại mới của hội thấp khớp học quốc tế về các thể lâm sàng của bệnh.

Các tác giả này đã đưa ra từng đặc điểm điều trị theo từng nhóm bệnh nhân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề "Đặc điểm lâm sàng và dấu ấn sinh học của bệnh viêm khớp tự phát ở thiếu niên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các triệu chứng lâm sàng và các dấu ấn sinh học liên quan đến bệnh viêm khớp tự phát ở nhóm tuổi thanh thiếu niên. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về bệnh lý này mà còn cung cấp thông tin quý giá cho việc chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn. Đặc biệt, bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm và quản lý bệnh để cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân trẻ tuổi.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến y học và nghiên cứu lâm sàng, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghiên cứu lâm sàng và hiệu quả điều trị suy giảm nhận thức ở bệnh nhân loạn thần do rượu, nơi cung cấp thông tin về các phương pháp điều trị trong lĩnh vực tâm thần học, và Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu lâm sàng viêm thận lupus ở trẻ em và mô bệnh học, giúp bạn hiểu thêm về các bệnh lý tự miễn ở trẻ em. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan đến thanh thiếu niên.