Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 NGHIỆN RƯỢU VÀ LOẠN THẦN DO RƯỢU 1.1 Khái niệm nghiện rượu Theo nghiên cứu của các tác giả nhận thấy nghiện rượu là tình trạng phụ thuộc rượu về cơ thể và tâm thần, sau một thời gian dài sử dụng rượu. Về cơ thể, biểu hiện có sự dung nạp rượu với xu hướng tăng liều để đạt hiệu quả tác dụng dược lý mong muốn, xuất hiện hội chứng cai khi giảm hay ngừng sử dụng rượu (phụ lục 2c). Về tâm thần, biểu hiện sự thèm khát rượu mãnh liệt (craving – manque du bois), mất khả năng kiểm soát khi uống, bệnh nhân uống đến say [5],[6],[7],[8],[9]. Hội chứng cai rượu có thể lượng giá bằng một số công cụ lâm sàng, như CIWA-AR (Clinical Institute Withdrawal Assessment fo Alcohol Revised: Thang đánh giá lâm sàng hội chứng cai rượu).
Về thuật ngữ nghiện rượu còn được gọi là nhiễm độc rượu mạn tính [10],[11],[12],[13],[14].2 Chẩn đoán nghiện rượu * Chẩn đoán: Chẩn đoán nghiện chất nói chung và nghiện rượu nói riêng căn cứ trên hai nhóm triệu chứng chính [15],[16],[17],[18]: - Nhóm triệu chứng phụ thuộc rượu về tâm lý, tâm thần. - Nhóm triệu chứng phụ thuộc về cơ thể. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD. Nghiện rượu có mã số chẩn đoán theo ICD.
* Mức độ nghiện rượu: Theo cách phân loại của Pháp, quá trình nghiện rượu được chia thành bốn giai đoạn [5],[20]: Giai đoạn trước nghiện rượu: biểu hiện say thường xuyên, tăng tính dung nạp rượu, tăng số lượng rượu uống; Giai đoạn tiền triệu: sử dụng rượu quá mức trở lên tất nhiên, say thường xuyên và kéo dài, có những cơn xung động uống rượu; Giai đoạn điển hình: biểu hiện đầy đủ sự phụ thuộc về cơ thể và tâm thần; Giai đoạn mạn tính (phase chronique) biểu hiện các hậu quả về cơ thể, tâm thần và xã hội. Theo DSM-IV (Tài liệu hướng dẫn thống kê và chẩn đoán của Hoa Kỳ sửa đổi lần thứ 4) chia nghiện rượu theo mức độ nặng, vừa, nhẹ. Theo tiêu chuẩn chẩn đoán này, ta thấy có 9 mục về dấu hiệu và triệu chứng, nếu đối tượng có biểu hiện từ 3-4 mục là nghiện rượu mức độ nhẹ, biểu hiện từ 5-6 mục là nghiện rượu mức độ vừa, biểu hiện từ 7-9 mục là nghiện rượu mức độ nặng (phụ lục 2e ) [1],[21],[22],[23].3 Dịch tễ học nghiện rượu Barrucand D, Nguyễn Đăng Dung nêu một số nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy tỷ lệ lạm dụng rượu ở các nước trung bình khoảng 12-17% dân số, tỷ lệ nghiện rượu khoảng 3-5% dân số. Nghiện rượu tuổi có xu hướng ngày càng trẻ hóa [6],[24].
Theo Nguyễn Kim Việt có 3,6% học sinh lớp 12 ở Hoa Kỳ uống rượu hàng ngày [25]. Ở Việt Nam, theo một số nghiên cứu tỷ lệ nghiện rượu ở nam giới trên 16 tuổi chiếm khoảng 3% [26],[27], [28],[29],[30],[31]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Theo nghiên cứu của Lê Anh Tuấn và Lý Trần Tình nghiện rượu ở người trên 15 tuổi chiếm tỷ lệ 3,24% [32].2 Loạn thần do rượu Nghiên cứu của các tác giả như Darcourt G và cộng sự; Kaplan H.J; Võ Văn Bản, Lã Thị Bưởi, Trần Viết Nghị nhận thấy loạn thần do rượu là tình trạng rối loạn tâm thần liên quan chặt chẽ tới quá trình sử dụng rượu, biểu hiện bằng rối loạn cảm xúc, hành vi, hoang tưởng, ảo giác… [5],[7],[33],[34],[35]. Hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng bị hại, ảo thị, ảo giác xúc giác là các triệu chứng thường gặp và đặc trưng của loạn thần do rượu [36],[37],[38].
Theo Ngô Ngọc Tản và Nguyễn Văn Ngân loạn thần có thể gặp trong say rượu bệnh lý, sảng rượu hoặc trong nghiện rượu mạn tính [39]: + Say rượu là trạng thái ngộ độc rượu cấp tính, phụ thuộc vào số lượng dùng và khả năng chuyển hóa rượu của cơ thể bệnh nhân. Triệu chứng say rượu còn phụ thuộc nồng độ rượu trong máu, khi nồng độ rượu đạt trên 80 mg/dl sẽ xuất hiện hiện tượng say rượu. + Say rượu bệnh lý là tình trạng rối loạn tâm thần cấp xuất hiện khi say rượu. Đối tượng có thể có những hành vi nguy hiểm, mất kiểm soát ý thức về hành vi của mình.
Tình trạng loạn thần hết sau khi hết cơn say rượu và có ba thể say rượu bệnh lý: - Say rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế. - Say rượu với ảo giác chiếm ưu thế. - Say rượu với biểu hiện kích động vận động chiếm ưu thế. + Sảng rượu là tình trạng loạn thần cấp xuất hiện ở đối tượng nghiện rượu mạn tính, là tình trạng cấp cứu về tâm thần và chuyển hóa [40],[41],[42].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Biểu hiện lâm sàng của sảng rượu như sau: - Xuất hiện khi giảm số lượng hay ngừng sử dụng rượu hoặc khi có bệnh lý cơ thể kèm theo. - Rối loạn ý thức: mê sảng hoặc lú lẫn. - Hoang tưởng, ảo giác cấp hay bán cấp tính. Hoang tưởng bị hại, bị truy hại thường gặp.
Ảo giác chủ yếu là ảo thị giác, ảo xúc giác với nội dung rùng rợn, ghê sợ. Cảm xúc không ổn định, lo lắng và hoảng sợ. Rối loạn hành vi do ảo giác, hoang tưởng chi phối mang tính phòng vệ (chạy trốn hoặc tấn công). - Các biểu hiện của hội chứng cai rượu về mặt cơ thể trầm trọng hơn như:.
Rối loạn thần kinh thực vật: vã mồ hôi, mạch nhanh, huyết áp có thể tăng và có thể tăng thân nhiệt. Triệu chứng thần kinh: run tay, chân, đi lại loạng choạng, nếu tiến triển nặng có thể run môi, run lưỡi, rối loạn nuốt và có thể có những co giật kiểu động kinh cơn lớn. Rối loạn nước, điện giải. Sảng rượu có hai thể: sảng rượu không có co giật và sảng rượu có co giật.10 sảng rượu không có co giật mang mã số F10.40 và sảng rượu có co giật được mang mã số F10.
+ Loạn thần do rượu: chỉ tình trạng loạn thần xuất hiện trên nền nghiện rượu mạn tính và thường xuất hiện sau mười năm nghiện rượu đối với nam và sau năm năm nghiện rượu đối với nữ. Biểu hiện lâm sàng rất đa dạng và phong phú. Thường gặp là hoang tưởng bị hại, hoang tưởng ghen tuông, ảo thị giác, ảo xúc giác, ảo thanh với các nội dung ghê sợ và đe dọa người bệnh [43],[44],[45],[46],[47]. Theo Reynaud M và cộng sự tình trạng loạn thần do rượu thường hết sau một tháng ngừng sử dụng rượu [21].
Tuy nhiên, có một số trường hợp thấy các hoang tưởng và ảo giác tồn tại mạn tính.10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 năm 1992, loạn thần do rượu được chẩn đoán và mang mã số: F10.2 CHỨC NĂNG NHẬN THỨC 1.1 Khái niệm nhận thức Nhận thức là một chức năng hoạt động của hệ thần kinh cao cấp ở người có liên quan trực tiếp đến kiến thức và hiểu biết. Theo Eustache F và Baunieux H; Phạm Minh Hạc và cộng sự; Marcelli D nhận thức bao gồm hai lĩnh vực cơ bản đó là tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin, chúng đóng vai trò cơ bản trong giao tiếp [48],[49],[50]. Nghiên cứu của Tribolet S và Paradas C; Duyckaerts C và cộng sự nhận thấy rằng tùy theo cách tiếp cận vấn đề mà nhận thức theo từng chuyên ngành có khái niệm rộng hẹp khác nhau [51],[52].D trong lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học có thể hiểu nhận thức liên quan trực tiếp tới xử lý thông tin bao gồm các quá trình: tiếp nhận, xử lý, lưu trữ và sử dụng các thông tin [3]. Chức năng nhận thức về mặt tâm lý-thần kinh bao gồm: trí nhớ, tri giác, chú ý, định hướng, tư duy, khả năng lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch,.
có liên quan chặt chẽ tới chức năng sinh lý và giải phẫu của não [53],[54]. Để nhận thức được các thông tin, trước hết phải qua cơ quan cảm thụ bao gồm các giác quan chi phối bởi các vùng não khác nhau, tiếp theo là quá trình xử lý thông tin, lưu giữ thông tin, cuối cùng là quá trình ghi nhớ (tái hiện lại) thông tin theo yêu cầu. Để đánh giá chức năng nhận thức của một đối tuợng trên lâm sàng, người ta thường đánh giá bằng các dấu hiệu như trí nhớ, tri giác, chú ý, định hướng, tư duy,…các chức năng này liên quan chặt chẽ với nhau. Theo một số tác giả như Nguyễn Văn Nhận và Nguyễn Sinh Phúc; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Costermans J; Olié J.P và cộng sự, rối loạn hoạt động của hệ thần kinh trung ương gây ra những rối loạn hoạt động nhận thức ở các mức độ khác nhau [55],[56],[57].
Một số tác giả như Bourcet S và cộng sự, Boller F cho rằng quá trình nhận thức phát triển ở trẻ nhỏ và thoái triển ở tuổi già [58],[59].2 Một số chức năng nhận thức 1.1 Trí nhớ * Khái niệm về trí nhớ: Theo đa số các tác giả như Alain M; Recondo J.M và cộng sự cho rằng trí nhớ là chức năng cơ bản của nhận thức [1],[3],[7]. Nguyễn Kim Việt; Trần Hữu Bình; José M.M nhận thấy trí nhớ bao gồm các quá trình ghi nhận thông tin mới, lưu giữ thông tin và khôi phục thông tin theo yêu cầu. Hoạt động của trí nhớ rất phức tạp và liên quan đến hầu hết các hoạt động tâm lý [60],[61],[62]. * Giả thuyết mô hình hoạt động trí nhớ: Hoạt động trí nhớ gồm ba quá trình cơ bản: ghi nhớ, lưu giữ và nhớ lại.
+ Ghi nhớ : theo các tác giả Manieux F và cộng sự hoạt động ghi nhớ được mã hóa trên các biểu tượng, khái niệm có trước, phụ thuộc vào đặc tính của thông tin [63]. Đồng thời các tác giả này cũng nhắc lại nghiên cứu của Craik và Lockart về lý thuyết thông tin được xử lý và mã hóa ở các mức độ sâu sắc khác nhau, liên quan đến mức độ phức tạp của thông tin [3]: - Hình ảnh bề ngoài, lĩnh vực âm vị (mức độ sơ đẳng của thông tin) được mã hóa đơn giản. - Tầm quan trọng của ngữ nghĩa (mức độ sâu sắc của thông tin) được mã hóa nhiều lớp, phức tạp hơn. - Cường độ và độ dài thời gian của dấu ấn trí nhớ (mức độ tác động của thông tin): thông tin mạnh và kéo dài, mức độ mã hóa sẽ sâu sắc hơn thông tin yếu và ngắn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Hoàn cảnh ảnh hưởng đến ghi nhớ (các đặc điểm chỉ điểm): hình ảnh bề ngoài, ngữ nghĩa, thời gian, không gian và cảm xúc là các đặc điểm để tạo dấu ấn trí nhớ, mặt khác các đặc điểm này còn ảnh hưởng đến hoạt động của chú ý. + Lưu giữ: là quá trình lưu giữ các mã hóa của thông tin đã ít nhiều được biến đổi dưới góc độ tổ chức lại, tổng hợp lại có liên quan chặt chẽ hơn.