Đặc điểm lâm sàng và nồng độ cytokines huyết tương ở bệnh nhân mắc bệnh gan mạn do rượu

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cytokines huyết tương ở bệnh nhân gan mạn do rượu, cung cấp thông tin quan trọng cho chẩn đoán và điều trị.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nội tiêu hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2020

144
9
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Ảnh hưởng của rượu với cơ thể

1.2. Đại cương bệnh gan do rượu

1.3. Yếu tố nguy cơ của bệnh gan do rượu

1.4. Cơ chế bệnh sinh bệnh gan do rượu

1.5. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh gan do rượu

1.5.1. Đặc điểm lâm sàng

1.5.2. Đặc điểm cận lâm sàng

1.6. Chẩn đoán xác định bệnh gan do rượu

1.7. Liệu pháp dinh dưỡng thay thế

1.8. Liệu pháp anticytokin

1.8.1. Kháng thể anti-TNF-α

1.9. Đặc điểm, chức năng và vai trò của cytokin đối với cơ thể người

1.10. Ảnh hưởng của một số cytokin trong bệnh gan do rượu

1.11. Tình hình nghiên cứu về cytokin ở bệnh gan do rượu

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

2.4.2. Phương pháp chọn mẫu

2.4.3. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.4.3.1. Chọn bệnh nhân
2.4.3.2. Khám lâm sàng
2.4.3.3. Kỹ thuật xét nghiệm sinh hóa máu
2.4.3.4. Kỹ thuật xét nghiệm một số chỉ số huyết học
2.4.3.5. Thực hiện sinh thiết gan
2.4.3.6. Kỹ thuật xét nghiệm cytokin trong huyết tương

2.5. Phương tiện nghiên cứu

2.6. Chỉ tiêu nghiên cứu

2.7. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nồng độ TNF-α, IL-12, IL-1β, TGF-β huyết tương ở bệnh nhân mắc bệnh gan mạn do rượu

2.8. Mối liên quan giữa nồng độ TNF-α, IL-12, IL-1β, TGF-β trong huyết tương với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân mắc bệnh gan mạn do rượu

2.9. Tiêu chuẩn đánh giá chỉ tiêu nghiên cứu

2.10. Xử lý và phân tích số liệu

2.11. Các biện pháp khống chế sai số và hạn chế của đề tài

2.11.1. Các biện pháp khống chế sai số

2.11.2. Hạn chế của đề tài

2.12. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và sự biến đổi nồng độ TNF-α, IL-12, IL-1β, TGF-β trong huyết tương ở bệnh nhân mắc bệnh gan mạn do rượu

3.2. Mối liên quan giữa nồng độ TNF-α, IL-12, IL-1β, TGF-β trong huyết tương với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân mắc bệnh gan mạn do rượu

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cytokines huyết tương ở bệnh nhân gan mạn do rượu

Bệnh gan mạn do rượu (BGDR) là một trong những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hiện nay. Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích các đặc điểm lâm sàng và nồng độ cytokines huyết tương ở bệnh nhân mắc bệnh. Việc hiểu rõ về các yếu tố này sẽ giúp cải thiện chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân gan mạn do rượu

Bệnh nhân mắc BGDR thường có các triệu chứng như mệt mỏi, vàng da, và đau bụng. Các triệu chứng này có thể thay đổi tùy theo giai đoạn bệnh. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có biện pháp can thiệp kịp thời.

1.2. Vai trò của cytokines huyết tương trong bệnh gan mạn

Cytokines như TNF-α, IL-12, và TGF-β có vai trò quan trọng trong quá trình viêm và xơ hóa gan. Nồng độ của các cytokines này có thể phản ánh mức độ nặng của bệnh và giúp định hướng điều trị.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị bệnh gan mạn do rượu

Điều trị BGDR gặp nhiều thách thức do sự phức tạp của bệnh lý và sự khác biệt giữa các bệnh nhân. Việc xác định chính xác các yếu tố nguy cơ và cơ chế bệnh sinh là rất cần thiết để phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả.

2.1. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh gan mạn do rượu

Yếu tố nguy cơ bao gồm lượng rượu tiêu thụ hàng ngày, thời gian sử dụng rượu, và di truyền. Những người uống rượu trên 60g mỗi ngày có nguy cơ cao mắc bệnh gan mạn tính.

2.2. Thách thức trong việc chẩn đoán và điều trị

Chẩn đoán sớm và chính xác là một thách thức lớn. Nhiều bệnh nhân không có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu, dẫn đến việc điều trị muộn và khó khăn trong việc kiểm soát bệnh.

III. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cytokines huyết tương

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích lâm sàng và xét nghiệm huyết tương để đánh giá nồng độ cytokines. Các bệnh nhân được chọn lọc theo tiêu chuẩn cụ thể để đảm bảo tính chính xác của kết quả.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu được thực hiện trên nhóm bệnh nhân mắc BGDR tại bệnh viện. Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm độ tuổi, giới tính và mức độ nghiện rượu.

3.2. Phương pháp xét nghiệm cytokines trong huyết tương

Cytokines được định lượng bằng phương pháp ELISA, cho phép xác định nồng độ chính xác của các cytokines trong huyết tương của bệnh nhân.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa nồng độ cytokines và các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân. Những phát hiện này có thể giúp cải thiện phương pháp điều trị và quản lý bệnh.

4.1. Mối liên quan giữa cytokines và triệu chứng lâm sàng

Nồng độ TNF-α và IL-12 có mối tương quan với mức độ nặng của triệu chứng lâm sàng. Điều này cho thấy cytokines có thể là chỉ số dự đoán tiến triển của bệnh.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong điều trị

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để phát triển các liệu pháp điều trị mới, nhằm giảm thiểu tình trạng viêm và xơ hóa gan ở bệnh nhân.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong nghiên cứu bệnh gan mạn do rượu

Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về đặc điểm lâm sàng và cytokines huyết tương ở bệnh nhân gan mạn do rượu. Những phát hiện này mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo và cải thiện điều trị cho bệnh nhân.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn vai trò của các cytokines trong bệnh gan mạn do rượu, từ đó phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn.

5.2. Hướng đi mới trong điều trị bệnh gan

Các liệu pháp nhắm vào cytokines có thể là một hướng đi mới trong điều trị BGDR, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

21/12/2024
Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và nồng độ một số cytokines huyết tương trên bệnh nhân mắc bệnh gan mạn do rượu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Ảnh hưởng của rượu với cơ thể * Chuyển hóa rượu trong cơ thể Sơ đồ 1.Chuyển hoá ethanol MEOS (CYP2E1) Catalase ADH CH3CH2OH CH3CHO NAD+ NADH + H+ Sơ đồ 1. Giai đoạn 1 chuyển hoá ethanol Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Acetaldehyd Acetat Krebs CH3CHO CH3COO AcetylCoA CO2+ H2O NAD+ NADH+ H+ Sơ đồ 1. Giai đoạn 2,3 quá trình chuyển hoá ethanol *Vai trò gây bệnh của rượu Rượu vào cơ thể qua miệng đến dạ dày, vào hệ thống tuần hoàn, não, thận, phổi và gan [98]: - Miệng: Niêm mạc miệng có thể bị kích ứng nếu nồng độ cồn cao.

Nghiện rượu nặng có nguy cơ cao ung thư miệng và hầu họng. - Dạ dày, ruột: rượu làm tăng tiết dịch dạ dày và khi kết hợp với rượu nồng độ cồn cao gây kích ứng niêm mạc dạ dày dẫn đến loét. - Hệ tuần hoàn: Uống nhiều rượu có thể làm tăng huyết áp và tổn thương cơ tim. - Não: rượu góp phần gây trầm cảm và bạo lực, làm thay đổi tâm trạng, sự tập trung, và sự phối hợp.

BAC là số lượng rượu trong máu, tính bằng gam trên một đơn vị thể tích máu. Dubowski mức BAC cụ thể các tác động là: o BAC 0,20%: Giảm trí nhớ, các trung tâm não bộ chi phối trí thông minh, cảm xúc và khả năng vận động cảm giác bị ảnh hưởng; không thể suy nghĩ rõ ràng, dễ dàng vui mừng hay tức giận. o BAC 0,30%: Cơ thể lâm vào trạng thái hoàn toàn lú lẫn và có những dấu hiệu: nói lắp, nhìn đôi, khiếm thính, khó khăn hoặc không thể đánh giá khoảng cách, không còn có thể đi lại bình thường và thay đổi tâm trạng đột ngột. o BAC 0,40%: Bộ não hầu như không thể hoạt động và hệ thống thần kinh không hiệu quả; bất tỉnh hoặc gần như bất tỉnh; cơ thể bất động hoặc hầu như không thể di chuyển, nôn mửa hoặc đi tiểu không kiểm soát.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn o BAC 0,50%: Đi vào hôn mê; rối loạn nhịp thở, hoạt động tim và huyết áp đang giảm mạnh đến một điểm thấp nguy hiểm; não không thể kiểm soát nhiệt độ cơ thể; có thể tử vong. - Thận: Rượu làm tăng số lượng nước tiểu, gây mất nước và cảm giác khát. Mất nước làm xuất hiện triệu chứng mệt mỏi, đau lưng, đau vai gáy, và nhức đầu. - Phổi: Năm phần trăm cồn đưa vào cơ thể sẽ bị loại bỏ qua nước tiểu, hơi thở, mồ hôi; phần còn lại tới gan.

- Gan: Rượu gây tổn thương gan khi nó được tiêu thụ một cách thường xuyên. Gan nhiễm mỡ do rượu làm cản trở khả năng của gan phân hủy các chất béo trong gan. Khi dừng uống, tình trạng này thường đảo ngược. Bệnh xơ gan do sử dụng rượu nặng làm phá hủy mô gan bình thường và thay thế bằng mô sẹo.

Xơ gan giảm lưu lượng máu và chức năng gan. Sử dụng rượu bia là nguyên nhân chủ yếu gây ra 30 bệnh và là nguyên nhân kết hợp gây nên 200 bệnh theo ICD 10 (International Classification Diseases - Phân loại bệnh quốc tế) năm 1992. Rượu bia là yếu tố nguy cơ gây tử vong xếp thứ 8 trên toàn cầu (chiếm 4% số trường hợp tử vong toàn cầu) và là yếu tố nguy cơ gây tử vong hàng đầu đối với nam giới trong nhóm tuổi từ 15-59. Rượu bia là yếu tố nguy cơ xếp thứ 3 trong số 19 yếu tố nguy cơ hàng đầu đối với gánh nặng bệnh tật toàn cầu.

Đại cương bệnh gan do rượu 2. Yếu tố nguy cơ của bệnh gan do rượu Nếu uống trên 60 g rượu mỗi ngày sẽ mắc chứng nhiễm mỡ, nhưng chỉ một số ít tiến triển thành bệnh gan nhiễm mỡ do rượu, 10 - 20% sẽ bị xơ gan [94]. Xơ hóa tiến triển và xơ gan chỉ phát triển ở một số ít những người nghiện rượu nặng, chứng tỏ BGDR còn phụ thuộc vào sự nhạy cảm với những ảnh hưởng độc hại của rượu. BGDR là một căn bệnh phức tạp, trong đó có nhiều Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn yếu tố tác động lẫn nhau.

Điều này giải thích sự khác biệt giữa các cá thể trong khả năng tiến triển thành BGDR, tuy nhiên sự hiểu biết về các yếu tố này đến nay vẫn còn hạn chế [62]. BGDR gặp ở người uống rượu nhiều, có sự đồng thuận về mối liên quan giữa liều lượng rượu và khả năng tiến triển của bệnh gan. Nguy cơ bệnh gan tăng lên đáng kể ở nam giới uống > 40g rượu/ngày trong > 10 năm. Sự tiến triển của xơ gan thường liên quan đến uống > 80g/ngày trong > 10 năm.

Những người uống > 230g rượu/ngày trong 20 năm, khoảng 50% số trường hợp nguy cơ sẽ tiến triển thành xơ gan [57], [58]. BN có lạm dụng rượu > 3 đơn vị uống chuẩn mỗi ngày đối với nam giới và > 2 đơn vị uống chuẩn mỗi ngày đối với phụ nữ, kéo dài > 5 năm sẽ nguy cơ mắc BGDR [17]. Người Mỹ định nghĩa một đơn vị uống chuẩn là 8-16 g còn theo Hội Gan mật Châu Âu là 10 g [59]. Theo nghiên cứu của Dionysos ở Ý, nguy cơ mắc xơ gan rượu cao nhất ở những người uống rượu > 120 g cồn nguyên chất/ngày.

Uống rượu trong bữa ăn nguy cơ mắc bệnh ít hơn so với uống rượu ngoài bữa ăn. Uống cà phê có thể bảo vệ tổn thương gan do rượu, ngược lại hút thuốc lá làm tăng nguy cơ nghiện rượu, tăng nguy cơ xơ gan lên gấp 3 lần [94]. - Nhiễm viêm gan virus B và C cũng thúc đẩy tiến triển của BGDR. Nhiều dữ liệu cho thấy sự tương tác giữa rượu và viêm gan virus C mạn tính [29].

Tỉ lệ lạm dụng rượu trong các đối tượng bị nhiễm viêm gan virus C cao hơn, và tỉ lệ hiện nhiễm viêm gan virus C cũng cao hơn trong số những người uống rượu. Trong một nghiên cứu gồm 800 BN nhiễm viêm gan virus C mạn tính, Monto và cs cho thấy những người uống rượu trên 50g/ngày nguy cơ xơ hóa tiến triển cao hơn đáng kể những người uống ít hoặc không uống. Theo dữ liệu đã công bố cho thấy rượu làm tăng sự tiến triển của bệnh gan do viêm gan virus C qua tăng stress oxy hóa, độc tế bào, rối loạn chức năng miễn dịch và giảm hiệu quả thuốc điều trị kháng virus [94]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn - Uống rượu liên tục và béo phì liên quan đến tăng nguy cơ rối loạn chức năng gan và xơ gan do rượu.

Điều này phản ánh tác dụng hiệp đồng giữa rượu và gan nhiễm mỡ từ chứng béo phì. - Một nghiên cứu được thực hiện trên 15.924 cặp song sinh nam, trong đó tỉ lệ xơ gan liên quan đến rượu ở cặp sinh đôi cùng trứng gấp 3 lần so với sinh đôi khác trứng. Điều này nhấn mạnh có liên quan đến yếu tố di truyền trong tiến triển của BGDR [78]. - Phụ nữ có nguy cơ tiến triển thành xơ gan do rượu cao hơn, có thể do nội tiết, stress oxy hóa và viêm.

Sự khác biệt liên quan đến enzym chuyển hóa rượu, sự phân phối rượu trong cơ thể [76]. - Chế độ ăn uống, tình trạng kinh tế xã hội, và tiếp cận với chăm sóc y tế cũng liên quan đến tiến triển của bệnh [71]. - Di truyền kết hợp chặt chẽ với BGDR và các biến chứng của nó. Sự thay đổi về trình tự trong gen mã hoá patatin-like phospholipase en-coding 3 (PNPLA3, rs738409C > G, I148M) liên quan đến sự tiến triển của tình trạng nhiễm mỡ gan, viêm gan, xơ hóa gan và ung thư tế bào gan ở những người nghiện rượu.

Hai nghiên cứu gần đây đều khẳng định PNPLA3 rs738409 là yếu tố nguy cơ cho cả xơ gan do rượu và viêm gan do rượu [90]. Cơ chế bệnh sinh bệnh gan do rượu Gan nhiễm mỡ do rượu Có bốn yếu tố gây bệnh chính: (1) Gia tăng NADH gây ra bởi quá trình oxy hóa rượu, tăng tổng hợp axit béo và triglycerid, và ức chế sự oxy hóa ty thể của các axit béo. (2) Tăng vận chuyển axit béo tự do từ mô mỡ và từ niêm mạc ruột. (3) Ức chế trung gian Ethanol của hoạt động kinase adenosine monophosphate (AMPK) dẫn đến tăng lipogenesis và giảm lipolysis bằng cách ức chế thụ thể peroxisome α (PPARa) và kích thích protein điều chỉnh sterol1c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.

Viêm gan nhiễm mỡ do rượu Viêm gan nhiễm mỡ có thể phát triển viêm nhu mô và tổn thương tế bào gan, một điều kiện tiên quyết để tiến triển xơ hóa và xơ gan. Các yếu tố khác nhau có thể góp phần vào sự tiến triển của viêm gan do rượu: (1) Tác dụng độc hại do Acetaldehyd gây ra. Nó liên kết với protein và DNA dẫn đến sự thay đổi chức năng, kích hoạt hệ thống miễn dịch.Nó cũng gây tổn thương ty lạp thể và làm suy yếu chức năng glutathion, dẫn đến stress oxy hóa và apoptosis. (2) Các thế hệ oxy phản ứng (ROS) và sự oxy hóa lipid làm hình thành các enzym DNA.

Các nguồn chính của ROS bao gồm MEOS, CYP2E1, hệ thống vận chuyển electron ty thể của chuỗi hô hấp. Hơn nữa, uống rượu mãn tính rõ ràng điều chỉnh CYP2E1, mà chuyển hóa ethanol thành acetaldehyd và song song với việc tạo ra các gốc tự do (ROS) và hydroxyl-ethyl. (3) Các cytokin gây viêm. Các chất chuyển hóa rượu và ROS kích thích các đường truyền tín hiệu, dẫn đến sự tổng hợp cục bộ của các chất trung gian gây viêm như TNF-α và IL-8.

Lạm dụng rượu dẫn đến thay đổi hệ vi khuẩn đại tràng và tăng tính thấm ruột, gây ra các phản ứng viêm ở tế bào Kupffer. Hậu quả gây viêm trong viêm gan do rượu hình thành loài oxy phản ứng và tổn thương tế bào gan. Quá trình xơ hóa gan Từ viêm gan do rượu có thể tiến triển xơ hóa gan. Trong giai đoạn tiến triển, các dải collagen và xơ hóa bắc cầu phát triển.Tình trạng này dẫn tới phát triển của các nốt sần tái sinh và xơ gan.Các chất chuyển hóa của rượu như acetaldehyd có thể kích hoạt trực tiếp các tế bào gan (HSC), các tế bào sản xuất collagen chính khi gan bị tổn thương.HSC cũng có thể được kích hoạt bởi các tế bào gan bị hủy hoại, các tế bào Kupffer hoạt hóa.

Các tế bào này giải phóng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn các chất trung gian của xơ hóa như các yếu tố tăng trưởng (TGF-β), các cytokin (IL-8 và TNF-α) và các loài oxy phản ứng [58].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tên "Đặc điểm lâm sàng và nồng độ cytokines huyết plasma ở bệnh nhân mắc bệnh gan mạn do rượu" của tác giả Lê Quốc Tuấn, dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trần Việt Tú và PGS TS Nguyễn Bá Vượng, được thực hiện tại Đại học Thái Nguyên vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các triệu chứng lâm sàng và nồng độ cytokines trong huyết plasma của bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính do rượu, từ đó giúp hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh và những yếu tố liên quan đến tình trạng này. Những phát hiện từ nghiên cứu không chỉ cung cấp thông tin quý giá cho các bác sĩ trong việc chẩn đoán và điều trị mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực y học.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan, hãy tham khảo thêm bài viết "Nghiên cứu lâm sàng và hiệu quả điều trị suy giảm nhận thức ở bệnh nhân loạn thần do rượu", nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của rượu đối với sức khỏe tâm thần. Bài viết "Nghiên cứu đặc điểm cận lâm sàng của HBV và HCV ở người nghiện ma túy tại TP.HCM" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các bệnh lý liên quan đến gan trong bối cảnh sử dụng rượu và ma túy. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu nồng độ IgA, IgG, IgM huyết tương ở bệnh nhân hội chứng thận hư nguyên phát" có thể mở rộng thêm kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến hệ thống miễn dịch và bệnh lý thận, có mối liên hệ với tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân mắc bệnh gan.