Luận án tiến sĩ nghiên cứu lâm sàng xquang đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis

Tài liệu Hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh v tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Trường đại học

Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Răng Hàm Mặt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

177
17
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về hẹp chiều ngang xương hàm

Hẹp chiều ngang xương hàm trên (hẹp chiều ngang xương hàm) là một trong những vấn đề phổ biến trong chỉnh hình răng mặt, chiếm khoảng gần 10% các bệnh nhân chỉnh nha. Biểu hiện chủ yếu của tình trạng này là dấu hiệu cắn chéo trên lâm sàng, vòm miệng sâu, hẹp và chen chúc răng. Việc điều trị hẹp xương hàm có vai trò quan trọng trong việc tái thiết lập tương quan xương giữa hai hàm trên và dưới. Theo tài liệu, phương pháp nong hàm truyền thống đã được áp dụng từ lâu, tuy nhiên, hiệu quả của nó thường bị giới hạn ở nhóm bệnh nhân trưởng thành do sự cứng chắc của đường khớp giữa khẩu cái. Điều này dẫn đến việc cần thiết phải tìm kiếm các phương pháp điều trị mới, hiệu quả hơn.

II. Phương pháp điều trị hẹp chiều ngang xương hàm

Phương pháp điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi. Hàm nong nhanh có minivis hỗ trợ tạo ra lực trực tiếp tác động lên xương hàm trên, nhằm tối ưu hóa hiệu quả của lực tác động lên xương và giảm thiểu lực nong lên răng và xương ổ răng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương pháp này có thể mang lại kết quả khả quan, đặc biệt trong việc cải thiện tình trạng cắn chéo và kích thước cung hàm. Một số nghiên cứu cho thấy rằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis giúp duy trì hiệu quả lâu dài và giảm thiểu các tác dụng phụ không mong muốn so với phương pháp nong truyền thống.

2.1. Tác dụng của hàm nong nhanh

Hàm nong nhanh không chỉ giúp mở rộng chiều ngang xương hàm mà còn tạo ra sự thay đổi tích cực trong cấu trúc xương hàm. Tác dụng của hàm nong này được thể hiện qua việc cải thiện khớp cắn và giảm thiểu tình trạng chen chúc răng. Theo các nghiên cứu, hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh có thể đạt tỷ lệ thành công cao, đặc biệt khi áp dụng ở các đối tượng trẻ tuổi có tỷ lệ trưởng thành xương thấp.

2.2. Đánh giá hiệu quả điều trị

Việc đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis được thực hiện qua nhiều tiêu chí khác nhau, bao gồm sự thay đổi trên phim X-quang và sự cải thiện lâm sàng. Kết quả cho thấy sự thay đổi kích thước cung răng sau khi điều trị và sự duy trì hiệu quả sau 6 tháng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc chăm sóc sau điều trị là rất quan trọng để đảm bảo kết quả lâu dài, giúp bệnh nhân đạt được sự cải thiện rõ rệt trong khớp cắn và thẩm mỹ khuôn mặt.

III. Kết quả nghiên cứu và phân tích

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng phương pháp điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân. Kết quả điều trị cho thấy sự cải thiện rõ rệt về kích thước cung hàm và khớp cắn. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng việc điều trị này không chỉ giúp cải thiện chức năng nhai mà còn nâng cao thẩm mỹ khuôn mặt cho bệnh nhân. Bên cạnh đó, việc áp dụng phương pháp này còn giúp giảm thiểu các tác động phụ không mong muốn, tạo ra một giải pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho bệnh nhân trưởng thành.

3.1. Đánh giá lâm sàng

Đánh giá lâm sàng cho thấy sự thay đổi tích cực trong khớp cắn và sự cải thiện đáng kể về thẩm mỹ khuôn mặt. Bệnh nhân cho biết họ cảm thấy tự tin hơn sau khi điều trị, điều này cho thấy giá trị thực tiễn của phương pháp điều trị này. Sự thay đổi trong cắn chéo và kích thước cung hàm được ghi nhận qua các cuộc kiểm tra định kỳ, cho thấy tính khả thi và hiệu quả của phương pháp.

3.2. Tính ứng dụng thực tiễn

Phương pháp điều trị hẹp chiều ngang xương hàm bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis đang dần trở nên phổ biến và có tính ứng dụng cao trong thực tế. Việc áp dụng phương pháp này không chỉ giúp cải thiện tình trạng bệnh lý mà còn mang lại lợi ích lâu dài cho bệnh nhân. Điều này mở ra hướng đi mới cho các bác sĩ chỉnh hình răng mặt trong việc điều trị các vấn đề liên quan đến hẹp chiều ngang xương hàm trên.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. DỊCH TỄ HỌC HẸP CHIỀU NGANG XƯƠNG HÀM TRÊN 1. Khái niệm hẹp chiều ngang xương hàm trên Hẹp chiều ngang XHT là một trong các bệnh về xương phổ biển nhất ở vùng hàm mặt với đặc trưng là kích thước chiều ngang XHT nhỏ hơn so với tương quan các cấu trúc xung quanh của sọ mặt [4], [16] và thường biểu hiện là: cắn chéo răng sau ở một vài răng hoặc toàn bộ một bên hoặc cả hai bên, hoặc cắn chéo toàn bộ cả phía trước và hai bên và có kèm tình trạng chen chúc răng [17], [18]. Dịch tễ học hẹp chiều ngang xương hàm trên Hẹp chiều ngang XHT là một bệnh khá thường gặp trong các bệnh nhân chỉnh hình răng mặt, chiếm khoảng 9,4% dân số và gần 30% bệnh nhân chỉnh nha trưởng thành với dấu hiệu cắn chéo trên lâm sàng [9], [19].

Theo tài liệu điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc được thực hiện năm 2019 bởi Trịnh Đình Hải và cộng sự [20], tỷ lệ cắn chéo răng sau ở nhóm trẻ 6-8 tuổi là 9,4%, ở nhóm 9-11 tuổi là 3,9%, nhóm 12-14 tuổi là 5,2%, nhóm 15-17 tuổi 5,9%. Sự phân bố tỷ lệ cắn chéo răng sau cũng khác nhau theo các vùng địa lý, như ở miền núi phía Bắc tỷ lệ này là 18,6%, đồng bằng sông Hồng là 20%, khu vực Nam Trung Bộ là 21,1%, Cao nguyên Trung Bộ là 25,5%, Tây Nam là 18,6%, vùng đồng bằng sông Mekong là 19,6%. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ XQUANG CỦA BỆNH HẸP CHIỀU NGANG XƯƠNG HÀM TRÊN 1. Mặt thẳng Trên khuôn mặt nhìn thẳng của bệnh nhân hẹp chiều ngang XHT, nếu kết hợp với kém phát triển cả chiều trước sau nên tầng giữa mặt có thể lép 4 hơn so với các vùng khác [21], hoặc có thể thấy sự không cân xứng của khuôn mặt.

Ngược lại những trường hợp hẹp XHT là hậu quả của những rối loạn ở hệ thống đường thở kéo dài, XHT có xu hướng phát triển theo hướng đứng, các răng có xu hướng nhô ra trước, do vậy sẽ thấy biểu hiện tầng mặt dưới dài, nhô, tư thế hai môi có thể ngậm không kín ở tư thế nghỉ tùy theo mức độ [22]. Tỷ lệ hành lang miệng khi cười (khoảng tối) (Buccal Corridors) Hành lang miệng được định nghĩa là khoảng “tam giác đen” giữa các răng hàm nhỏ và mặt trong má khi cười. Tùy theo tác giả, hành lang miệng được định nghĩa là khoảng cách từ răng hàm nhỏ thứ nhất hoặc răng hàm lớn thứ nhất đến khóe mép trong [23]. Moore đưa ra phân loại nụ cười dựa theo tỷ lệ hành lang miệng như sau: Bảng 1.

Bảng phân loại nụ cười theo Moore [23] Phân loại nụ cười Tỉ lệ hành lang miệng Hẹp 28% Trung bình hẹp 22% Trung bình 15% Trung bình rộng 10% Rộng 2% 1. Mặt nghiêng Trên khuôn mặt nhìn nghiêng, nếu chỉ có hẹp chiều ngang đơn thuần, chiều trước sau bình thường thì không có nhiều khác biệt, tuy nhiên có thể thấy hình ảnh môi trên lùi sau so với các đường thẩm mỹ E-line hoặc S-line ở các trường hợp khớp cắn loại III do XHT kém phát triển cả chiều ngang và chiều trước sau. Hoặc trường hợp môi trên, dưới nhô ra trước so với đường này ở những bệnh nhân hẹp XHT có khớp cắn loại II theo Angle. Đặc điểm khớp cắn Theo chiều trước sau Có thể thấy, hẹp chiều ngang XHT thường gặp ở sai khớp cắn loại III và loại I theo Angle.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương cho rằng hẹp chiều ngang XHT biểu hiện ở khớp cắn loại I chiếm 43%, loại III chiếm 48,5% và kết hợp cả loại I và III là 8,5% [24]. Tuy nhiên cũng có thể gặp ở những rối loạn khớp cắn các loại khác [25]. Trong trường hợp khớp cắn loại I theo Angle, tương quan của các răng hàm lớn thứ nhất hàm trên và dưới có thể bình thường nhưng nếu có những răng mọc ngầm hoặc mọc ngoài cung hàm quá nhiều cũng sẽ dẫn tới tình trạng kém phát triển của XHT. Các răng cửa bên, răng nanh là những răng có nguy cơ mọc ngầm hoặc mọc ngoài cung hàm hơn những răng khác [26], [27], [28].

Theo chiều ngang Biểu hiện trên lâm sàng thường gặp của hẹp chiều ngang XHT là cắn chéo răng sau ở một vài răng hoặc toàn bộ một bên hoặc hai bên, hoặc cắn chéo toàn bộ cả phía trước và hai bên kèm theo tình trạng chen chúc răng [29], [30]. Theo Kutin và Hawes (1969) [24], tỉ lệ cắn chéo răng sau ở cả hai giai đoạn răng sữa và răng hỗn hợp là 7,7%, trong đó có đến 90% là cắn chéo răng sau một bên hoặc hai bên có tình trạng trượt xương hàm dưới và 10% là cắn chéo một bên thực sự. Định nghĩa cắn chéo: Theo Faber (1981), cắn chéo là tương quan ngoài - trong không bình thường của các răng và bề ngoài tương quan có thể che lấp sự bất tương xứng về xương ở bên dưới [24]. Phân loại cắn chéo: Phân loại cắn chéo theo tương quan Theo Sim (1977), về tương quan theo chiều ngang có 6 hình thái cắn chéo răng sau [24]: Cắn chéo một bên, cắn chéo hai bên, cắn chéo toàn bộ (cắn chéo hai bên và cắn ngược vùng răng trước), cắn chéo trong hoàn toàn một bên, cắn chéo trong hoàn toàn hai bên, cắn chéo ngoài hoàn toàn một bên, cắn chéo ngoài hoàn toàn hai bên.

Phân loại cắn chéo theo nguyên nhân Moyers (1973) phân loại cắn chéo [31]: - Cắn chéo do răng: do hẹp xương ổ răng nên chỉ nghiêng răng và không ảnh hưởng tới nền xương hay đường giữa. - Cắn chéo do cơ: do có cản trở khớp cắn ở cắn khớp trung tâm làm trượt hàm dưới để tìm đến vị trí ổn định và phản xạ cơ thần kinh mới được hình thành. - Cắn chéo do xương: bất hài hòa của khối xương mặt, không cân xứng và thiếu sự đồng nhất về độ rộng cung răng. Thường thì hẹp hai bên nhưng có thể các cơ làm trượt XHD sang một bên để đạt tiếp xúc nhai cân bằng.

Có hai dạng khác biệt của cắn chéo răng sau được đưa ra dựa vào việc xác định có hay không sự trượt XHD có thể nhận thấy trong thì đóng hàm của trẻ. Theo Sim, cắn chéo răng sau được xem là chức năng nếu có trượt hàm dưới hiện diện ở lúc kết thúc đóng hàm từ 2-3 mm, nếu hàm dưới của bệnh nhân không trượt khi kết thúc đóng hàm là cắn chéo răng sau do xương (di truyền hay mắc phải). Trên lâm sàng, cắn chéo răng sau một bên chức năng thường là cắn chéo răng sau hai bên nhẹ có nguyên nhân do xương [24]. 7 Hẹp chiều ngang XHT thường dẫn tới cắn chéo, tuy nhiên trong một số trường hợp răng có sự bù trừ bằng cách các nhóm răng sau hàm trên nghiêng trục răng quá mức ra phía tiền đình, các nhóm răng sau hàm dưới nghiêng hơn về phía lưỡi, đảm bảo sự tiếp khớp giữa hai nhóm răng hàm trên dưới [27].

Theo chiều đứng Những rối loạn khớp cắn theo chiều ngang đôi khi chỉ biểu hiện đơn độc nhưng cũng có lúc đi kèm với những rối loạn khớp cắn khác. Theo chiều đứng bệnh nhân có thể có biểu hiện khớp cắn bình thường hoặc cắn sâu hoặc là cắn hở (Hình 1. Bệnh nhân hẹp chiều ngang XHT có khớp cắn hở phía trước [22] Ngoài những biểu hiện lâm sàng của khớp cắn theo các chiều không gian, bệnh nhân hẹp chiều ngang XHT còn có các biểu hiện (tùy theo nguyên nhân): các răng mọc lệch lạc, răng mọc ngầm (thường gặp các răng nanh, cửa bên, hoặc các răng hàm nhỏ) [32], [26]. Độ rộng của cung hàm đo trên mẫu thạch cao Kích thước chiều ngang cung hàm là một trong những chỉ số quan trọng góp phần chẩn đoán, lên kế hoạch điều trị và theo dõi ở những bệnh nhân hẹp chiều ngang XHT.

Ở cung răng trên, kích thước ngang trung bình giữa mặt ngoài hai răng hàm lớn thứ nhất là 60 mm, giữa hai răng hàm nhỏ thứ hai là 47 mm, giữa hai răng nanh là 33 mm [33]. Ở hàm dưới, kích thước ngang trung bình cung răng lần lượt từ răng hàm lớn thứ nhất đến răng nanh là là: 56 mm, 45,8 mm và 30,9 mm [33]. Theo Alexander kích thước ngang cung răng hàm trên và dưới tại vị trí trũng giữa mặt trong răng HL1 khoảng 35-37 mm. Một số tác giả khác lại lấy điểm mốc là khoảng cách giữa các đỉnh múi gần ngoài răng HL1 hàm trên và so sánh khoảng cách này với nhau (Hình 1.

Đo chiều ngang kích thước cung răng dựa vào đỉnh múi ngoài (theo Bishara SE) [4] Howe, McNamara [32] đã sử dụng vị trí điểm lõm nhất tại mặt trong ở cổ răng ở các răng hàm nhỏ và điểm ngay sát rãnh giữa trong tại cổ răng HL1 là các điểm đo kích thước chiều ngang cung răng tại vị trí các răng này (Hình 1. Đo kích thước chiều ngang cung hàm theo McNamara [32] A: Đo độ rộng cung răng tại các vị trí liên răng nanh, liên răng HN1 và liên răng HL1. B: Điểm đo tại đường viền cổ răng của các răng trên. Năm 1992 Hoàng Tử Hùng cũng đưa ra một bảng thông số về kích thước ngang cung răng của người Việt Nam (Bảng 1.

Kích thước ngang (mm) của cung răng người Việt (Hoàng Tử Hùng 1992) [33] Răng hàm nhỏ Răng hàm nhỏ Răng hàm lớn thứ Răng nanh thứ nhất thứ hai nhất Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ 38,54 37,07 47,12 45,5 52,71 51,17 59,36 57,54 Dù lấy điểm tham chiều để đo đạc tại vị trí nào thì kích thước cung răng ở bệnh nhân hẹp chiều ngang XHT đa số cũng cho thấy giá trị nhỏ hơn so với bệnh nhân có khớp cắn bình thường ở cùng lứa tuổi [34]. Trong những trường hợp cả XHT và XHT cùng bị hẹp - hội chứng hẹp toàn bộ cung răng hai hàm [22], hội chứng này có các đặc điểm sau (Hình 1.5): - Hẹp kích thước chiều ngang cả XHT và XHD 10 - Không có biểu hiện cắn chéo răng sau - Các răng sau hàm trên và dưới nghiêng về phía lưỡi - Giảm kích thước chu vi cung răng - Chen chúc nhóm răng trước hai hàm - Tỷ lệ hành lang miệng (khoảng tối) lớn khi cười Hình 1. Bệnh nhân hẹp toàn bộ cung răng hai hàm có cắn chéo răng sau và chen chúc nhóm răng trước [22] Hình A: Hình ảnh chụp trong miệng Hình B: Kích thước cung răng hàm trên và dưới Hình dạng cung răng bệnh nhân hẹp chiều ngang xương hàm trên Ở bệnh nhân hẹp chiều ngang XHT, cung răng thường có hình chữ V, hoặc hình thuôn hẹp với hai cung răng trái, phải gần song song với nhau [27]. Cung răng hình chữ V ở bệnh nhận hẹp chiều ngang XHT [27] 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu lâm sàng về hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp minivis" của tác giả Phạm Thị Hồng Thùy, dưới sự hướng dẫn của PGS. Trịnh Thị Thái Hà và TS. Phạm Thị Thu Hằng tại Đại học Y Hà Nội, tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các kỹ thuật điều trị hiện đại mà còn mở ra hướng đi mới trong lĩnh vực Răng Hàm Mặt, giúp cải thiện chất lượng điều trị cho bệnh nhân.

Để tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan trong lĩnh vực y khoa, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Nghiên cứu khuôn mặt hài hòa cho bệnh nhân phẫu thuật chỉnh hình xương hàm lệch khớp cắn loại III, nghiên cứu này cũng thuộc lĩnh vực Răng Hàm Mặt và cung cấp thêm thông tin về phẫu thuật chỉnh hình xương hàm. Bên cạnh đó, bạn có thể tham khảo Nghiên cứu lâm sàng và hiệu quả điều trị suy giảm nhận thức ở bệnh nhân loạn thần do rượu, giúp mở rộng hiểu biết về các phương pháp điều trị trong y học. Cuối cùng, Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh u não tế bào thần kinh đệm ác tính cũng là một tài liệu giá trị, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các nghiên cứu lâm sàng trong y học. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm nhiều góc nhìn và kiến thức bổ ích cho bạn.