Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học chuyên ngành Răng Hàm Mặt (mã số: 9720501) của nghiên cứu sinh Phạm Thị Hồng Thùy, thực hiện tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trịnh Thị Thái Hà và TS. Phạm Thị Thu Hằng (Hà Nội, 2022), mang tên: "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, Xquang và đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hẹp chiều ngang xương hàm trên (XHT) là một trong những rối loạn xương sọ mặt phổ biến trong chuyên ngành chỉnh hình răng mặt, chiếm khoảng gần 10% dân số và ghi nhận ở gần 30% bệnh nhân chỉnh nha trưởng thành có dấu hiệu cắn chéo trên lâm sàng. Biểu hiện đặc trưng của bệnh lý bao gồm cắn chéo răng sau một bên hoặc hai bên, vòm khẩu cái hẹp và sâu, chen chúc cung răng, nụ cười hẹp với khoảng tối hành lang miệng lớn, kèm theo các bất thường về phát triển khớp cắn và tắc nghẽn đường thở mũi.

Về mặt điều trị, phương pháp nong hàm nhanh truyền thống (RPE) bằng khí cụ tựa trên răng đã được áp dụng hơn 180 năm và mang lại hiệu quả tái lập tương quan xương ở các bệnh nhân trước đỉnh tăng trưởng (thường dưới 15 tuổi). Tuy nhiên, khi tuổi tăng lên, đường khớp giữa khẩu cái và các khớp quanh hàm mặt dần đan xen chặt chẽ và cốt hóa, tạo lực cản lớn kháng lại lực nong. Khi áp dụng RPE ở bệnh nhân cuối giai đoạn thiếu niên và người trưởng thành, lực nong truyền qua răng chủ yếu gây ra các biến chứng và tác dụng phụ ngoài ý muốn như: nghiêng thân răng ra phía tiền đình, tiêu ngót chân răng, tụt lợi, tiêu mào xương và giảm bề dày bản xương ổ răng, đau đớn và tái phát sau điều trị.

Để khắc phục giới hạn của RPE ở người lớn, phẫu thuật hỗ trợ nong hàm (SARPE) từng là giải pháp chủ yếu nhằm giải phóng các đường khớp trước khi nong. Tuy vậy, SARPE đi kèm các hạn chế như chi phí điều trị cao, rủi ro phẫu thuật, yêu cầu nằm viện và thời gian hồi phục kéo dài. Nhằm tìm kiếm giải pháp không phẫu thuật cho các trường hợp thiếu hụt chiều ngang XHT nặng ở bệnh nhân trưởng thành, kỹ thuật nong nhanh xương hàm trên có minivis hỗ trợ (MARPE), tiêu biểu là khí cụ nong xương hàm trên (Maxillary Skeletal Expander - MSE) do Lee và cộng sự (Hàn Quốc, 2010) và Moon và cộng sự (Mỹ) phát triển, đã tạo ra lực tác động trực tiếp lên nền xương khẩu cái, giảm tải lực đè nén lên hệ thống răng và nha chu. Mặc dù các nghiên cứu mô học chỉ ra rằng đường khớp giữa khẩu cái không hoàn toàn cốt hóa tuyệt đối ở người trưởng thành, việc ứng dụng MARPE/MSE tại Việt Nam trước thời điểm nghiên cứu vẫn còn mới mẻ và chưa có công trình nghiên cứu hệ thống nào đánh giá đầy đủ các đặc điểm hình thái học cũng như hiệu quả lâm sàng và X-quang 3 chiều.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, Xquang bệnh nhân có biểu hiện hẹp chiều ngang xương hàm trên.
  2. Đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán hẹp chiều ngang xương hàm trên có chỉ định điều trị nong rộng hàm, tình nguyện tham gia nghiên cứu.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai tại Khoa Răng miệng - Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108, phối hợp với Bộ môn Răng Hàm Mặt - Trường Đại học Y Hà Nội và Khoa Răng Hàm Mặt - Trường Đại học Y Dược Hải Phòng.
  • Phạm vi thời gian: Công trình được hoàn thành và bảo vệ năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước trong y văn

Tác giả đã tổng thuật các hướng nghiên cứu lớn về dịch tễ học, chẩn đoán và điều trị hẹp chiều ngang XHT:

  1. Dịch tễ học và biểu hiện lâm sàng cắn chéo:
    • Kutin và Hawes (1969) ghi nhận tỷ lệ cắn chéo răng sau ở bộ răng sữa và răng hỗn hợp là 7,7% (trong đó 90% có trượt xương hàm dưới).
    • Sim (1977) phân loại 6 hình thái cắn chéo răng sau theo tương quan ngang và phân biệt cắn chéo chức năng (có trượt hàm dưới 2-3 mm khi kết thúc đóng hàm) với cắn chéo thực thể do xương.
    • Moyers (1973) phân định cắn chéo do răng, do cơ và do xương. Faber (1981) định nghĩa cắn chéo là sự bất thường tương quan ngoài - trong của răng che lấp bất tương xứng xương bên dưới.
    • Trịnh Đình Hải và cộng sự (2019) trong Điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc công bố tỷ lệ cắn chéo răng sau ở trẻ 6-8 tuổi là 9,4%, 9-11 tuổi là 3,9%, 12-14 tuổi là 5,2%, 15-17 tuổi là 5,9%; phân bố theo khu vực địa lý từ 18,6% đến 25,5% (cao nhất tại Cao nguyên Trung Bộ).
    • Moore phân loại nụ cười dựa trên tỷ lệ hành lang miệng (khoảng tối giữa răng hàm nhỏ và khóe mép trong).
Phân loại nụ cười theo Moore Tỷ lệ hành lang miệng (%)
Hẹp 28%
Trung bình hẹp 22%
Trung bình 15%
Trung bình rộng 10%
Rộng 2%
  1. Kích thước cung răng và đường thở:
    • Hoàng Tử Hùng (1992) thiết lập bảng kích thước ngang cung răng chuẩn của người Việt Nam.
    • Alexander, McNamara và Howe (1982), Bishara SE xác lập các mốc đo chiều ngang cung răng tại rãnh cổ răng và đỉnh múi răng hàm lớn.
    • Tome (1872) mô tả hội chứng mặt thở miệng (khuôn mặt dài, hàm trên hẹp, vòm miệng sâu, răng khấp khểnh, hàm dưới lùi) liên quan đến tắc nghẽn đường thở trên do phì đại VA, amidan, polyp mũi.
Nhóm răng (Hoàng Tử Hùng, 1992) Nam (mm) Nữ (mm)
Răng nanh 38,54 37,07
Răng hàm nhỏ thứ nhất (HN1) 47,12 45,50
Răng hàm nhỏ thứ hai (HN2) 52,71 51,17
Răng hàm lớn thứ nhất (HL1) 59,36 57,54
  1. Chẩn đoán kích thước ngang trên X-quang và CBCT:

    • Ricketts (1979, 1981) và Vanardall (1999) xây dựng tiêu chuẩn đo độ rộng XHT (khoảng cách J-J) và XHD (khoảng cách Ag-Ag) trên phim sọ mặt thẳng; mức chênh lệch bình thường Ag-Ag trừ J-J ở người trưởng thành là 19,6 mm (nếu chênh lệch lớn hơn chuẩn 5 mm là có bất thường xương). Ricketts cũng đưa ra công thức tính mức nong cần thiết và chỉ số Izard: (Za-Za) = 2 × (A6-A6).
    • Andrews đưa ra khái niệm đường WALA ở hàm dưới (khoảng cách từ điểm FA của răng HL1 đến WALA là 2 mm; độ rộng cung răng dưới = độ rộng WALA trừ 4 mm; cung trên lý tưởng rộng hơn cung dưới 5 mm) và đặc tính khớp cắn thứ 3.
    • Tamburrino đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán Penn CBCT kết hợp phương pháp Ricketts và WALA trên lát cắt đứng ngang qua chẽ chân răng HL1: Mức nong cần thiết = (Chiều rộng XHD - Chiều rộng XHT) - 5 mm.
    • Kee-joon Lee và cộng sự (2010) sử dụng tâm cản của răng trên CBCT và xác lập chỉ số Yonsei transverse index (YTI) với chênh lệch ngang bình thường giữa XHT và XHD là -0,39 ± 1,87 mm.
  2. Trưởng thành xương và lịch sử các phương pháp nong hàm:

    • Emerson C. Angell (1860) khởi xướng nong hàm nhanh RPE; Andrew Haas (1961) thử nghiệm trên lợn và điều trị 45 bệnh nhân, khẳng định mở khớp khẩu cái; Wert/Wertz (1968) chứng minh mở rộng khớp giúp cải thiện đường thở nhưng có dạng hình tam giác đáy ở phía trước.
    • Baccetti và cộng sự đưa ra phương pháp đánh giá 6 giai đoạn trưởng thành đốt sống cổ (CVM), xác định can thiệp chỉnh hình xương đạt hiệu quả tối ưu trước giai đoạn CS4 (trước đỉnh tăng trưởng).
    • Angelieri và cộng sự (2013) phân loại 5 giai đoạn trưởng thành của khớp giữa khẩu cái (A, B, C, D, E) trên phim CBCT, chỉ ra giai đoạn D và E là khớp đã cốt hóa chặt chẽ ở xương khẩu cái và phía trước XHT.
    • Oliveira và cs (2008) so sánh Hyrax và Haas; Lagravere và cs (2010) đánh giá neo chặn 2 minivis trên vòm miệng; Hicks chỉ ra răng hàm nghiêng từ 1° đến 24° chiếm 49% mức mở rộng của RPE; Gryson ghi nhận răng HL1 hàm dưới mở thụ động 0,4 mm.
    • Lee và cs (2010), Moon và cs (2015, 2020) nghiên cứu phân tích phần tử hữu hạn và phát triển MSE với 4 minivis neo chặn hai bản xương vỏ; Ney (2020) phân tích 39 bệnh nhân điều trị MSE trên CBCT; Mosleh và cs (2020), Lin và cs (2018), H. Jia (2021), Carlson và cs (2016), Choi và cs (2016) so sánh MARPE với RPE và SARPE.

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án giải quyết khoảng trống dữ liệu thực nghiệm tại Việt Nam về:

  • Đặc điểm giải phẫu - X-quang 3 chiều (CBCT) của bệnh nhân hẹp chiều ngang XHT người Việt.
  • Cơ chế dịch chuyển thực tế của phức hợp sọ mặt khi sử dụng khí cụ MSE (MARPE neo chặn 4 minivis xuyên hai bản xương vỏ): mức độ mở khớp khẩu cái trước - sau, sự xoay của xương hàm trên theo tâm xoay khớp gò má - trán, độ uốn cong xương khẩu cái, sự mở rộng khoang mũi, sự dịch chuyển của mỏm chân bướm và mức độ nghiêng răng/xương ổ răng.
  • Mối liên quan giữa kết quả nong xương với độ tuổi, giai đoạn CVM và giai đoạn cốt hóa khớp khẩu cái theo Angelieri.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cơ chế sinh học nong xương hàm trên: Khối XHT liên kết với nền sọ và các xương mặt qua hệ thống khớp (khớp giữa khẩu cái, khớp gò má - hàm trên, khớp gò má - trán, khớp chân bướm - khẩu cái). Khi áp dụng lực nong vượt quá sức kháng mô, đường khớp giữa khẩu cái sẽ bị tách đôi.
  • Lý thuyết phân bố lực và neo chặn xương vỏ (Bicortical Anchorage): Dựa trên nghiên cứu phần tử hữu hạn của Lee và cs, thiết kế MARPE kết hợp tựa xương (4 minivis) và liên kết răng neo chặn (răng HL1) phân phối ứng suất đồng đều lên toàn bộ chiều dài đường khớp và các trụ kháng lực xung quanh. Minivis cấy xuyên qua 2 bản xương vỏ (bản xương khẩu cái và bản xương sàn mũi) tạo sự neo giữ vững chắc, đặt lực gần tâm cản XHT và các cấu trúc cản trở phía sau (mỏm chân bướm, gò má), tạo ra sự mở rộng tịnh tiến song song thay vì mở hình tam giác.
  • Hệ thống phân loại giai đoạn trưởng thành khớp giữa khẩu cái theo Angelieri:
    • Giai đoạn A: Đường khớp thẳng, rộng, cản quang rõ nét, hầu như không đan xen.
    • Giai đoạn B: Đường khớp có mật độ cản quang cao, bắt đầu xuất hiện uốn lượn.
    • Giai đoạn C: Hai đường cản quang chạy song song, ngăn cách bởi dải thấu quang hẹp.
    • Giai đoạn D: Khớp đóng hoàn toàn ở phần xương khẩu cái, không còn thấy đường khớp.
    • Giai đoạn E: Khớp đóng hoàn toàn cả ở phần phía trước của xương hàm trên.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng tiến cứu, theo dõi dọc, tự đối chứng trước và sau điều trị tại 3 thời điểm: T0 (trước điều trị), T1 (ngay khi ngừng kích hoạt ốc nong), T2 (sau 6 tháng duy trì bằng khí cụ tại chỗ).
  • Quy trình lâm sàng và can thiệp:
    • Chế tạo khí cụ nong MSE (Hàn Quốc) có 4 ống dẫn hướng minivis, hàn nối liên kết với khâu gắn trên 2 răng HL1 hàm trên.
    • Thử và gắn chặt khí cụ bằng xi măng nha khoa trên miệng bệnh nhân. Cấy 4 minivis chuyên dụng xuyên qua 2 bản xương vỏ vòm miệng ở hai bên đường giữa (vị trí ngang mức răng HL1).
    • Hướng dẫn kích hoạt ốc nong hàng ngày theo phác đồ chỉ định cho từng nhóm tuổi/độ trưởng thành xương đến khi khắc phục hoàn toàn cắn chéo và đạt độ rộng cung răng yêu cầu.
    • Khóa ốc nong, duy trì khí cụ thụ động trên miệng trong 6 tháng để tái tạo và vôi hóa xương tại khe khớp mở rộng.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu và chỉ số đánh giá:
    1. Khám lâm sàng và phân tích mẫu thạch cao: Đánh giá loại khớp cắn Angle, cắn chéo răng sau, hình dạng cung răng (chữ V, thuôn nhọn, oval), tỷ lệ hành lang miệng khi cười; đo khoảng cách ngang giữa các răng nanh, răng HN1, răng HL1 tại cổ răng và đỉnh múi.
    2. Phân tích phim sọ nghiêng (Cephalometrics):
      • Chiều đứng: Góc trục mặt (PT-Gn/Ba-Na, chuẩn 90 ± 3,5°), góc chiều cao tầng mặt dưới (ANS-Xi-PM, chuẩn 46 ± 3°), góc mặt phẳng hàm dưới (MPA, chuẩn 26 ± 4,5° lúc 9 tuổi), góc mặt phẳng khẩu cái (PPA, chuẩn 1 ± 3,5°), góc trục Y (SGn-SN, chuẩn 66 ± 5°), góc giữa mặt phẳng khẩu cái và hàm dưới (PP-MP, chuẩn 28 ± 6°).
      • Chiều trước - sau: Độ sâu xương hàm trên (FH-NA, chuẩn 90 ± 3°), độ nhô mặt (A-NPo, chuẩn 2 mm lúc 9 tuổi).
      • Đánh giá giai đoạn CVM cột sống cổ theo Baccetti.
    3. Phân tích phim CBCT 3 chiều đa bình diện (Multiplanar Reconstruction):
      • Thiết lập hệ thống mặt phẳng tham chiếu: Mặt phẳng dọc giữa (MPDG), mặt phẳng khẩu cái (MPKC), mặt phẳng đứng ngang (MPĐN) đi qua điểm sau nhất của xương lá mía hoặc qua chẽ chân răng HL1, lát cắt ngang qua tầng mũi dưới (TMD) và tầng mũi trên (TMT).
      • Đo độ rộng mở khớp khẩu cái tại gai mũi trước (ANS) và gai mũi sau (PNS).
      • Đo độ mở rộng khớp trên lát cắt đứng ngang qua răng HL1.
      • Đo sự dịch chuyển sang bên và ra trước của hai nửa XHT trên lát cắt TMD và TMT.
      • Đo sự thay đổi góc uốn của xương khẩu cái và độ rộng khoang mũi sau nong và sau duy trì.
      • Đánh giá độ nghiêng trục xương ổ răng và độ nghiêng trục răng HL1, HN1 (góc tạo bởi trục răng với MPDG).
      • Đo độ dày bản xương ổ răng mặt ngoài và mặt trong tại vị trí răng HN1 và HL1.
      • Khảo sát tần suất mở và khoảng cách mở khớp chân bướm - khẩu cái, sự dịch chuyển của mỏm chân bướm và xương gò má (khớp gò má - trán, gò má - XHT).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Nhập liệu và phân tích thống kê bằng phần mềm chuyên dụng; sử dụng các kiểm định thống kê y học (paired t-test, ANOVA hoặc kiểm định phi tham số tương ứng) để so sánh các biến số liên tục tại các thời điểm T0, T1, T2; xác định mối tương quan giữa thời gian nong, kết quả mở xương với nhóm tuổi, giai đoạn CVM và giai đoạn khớp Angelieri. Mức ý nghĩa thống kê được xác định ở p < 0,05.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Chương này khẳng định vai trò then chốt của việc thiết lập hài hòa kích thước ngang giữa hai xương hàm trong điều trị chỉnh hình răng mặt. Tác giả chỉ ra các giới hạn sinh học của phương pháp nong hàm nhanh truyền thống (RPE) ở bệnh nhân lớn tuổi, những rủi ro và bất tiện của phẫu thuật SARPE, từ đó đặt nền móng cho việc ứng dụng khí cụ nong tựa xương MSE kết hợp 4 minivis tại Việt Nam.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Nội dung chương 1 tổng hợp toàn diện cơ sở giải phẫu học, dịch tễ học và các phương pháp chẩn đoán, can thiệp hẹp chiều ngang XHT:

  • Trình bày chi tiết giải phẫu học đường khớp giữa khẩu cái, quá trình cốt hóa tăng dần theo tuổi từ cấu trúc thẳng sang cấu trúc lượn sóng và đan xen phức tạp (Melsen, Angelieri).
  • Phân tích cơ chế cơ sinh học của RPE, SPE, SARPE và MARPE/MSE; tổng hợp kết quả phân tích phần tử hữu hạn của Kee-joon Lee chứng minh ưu thế phân bố lực của khí cụ tựa trên cả xương và răng.
  • Trình bày chi tiết nghiên cứu CBCT của Ney (2020) trên 39 bệnh nhân điều trị MSE (tuổi trung bình 18,2 ± 4,2 tuổi) định lượng rõ các thành phần tạo nên sự mở rộng cung hàm:
Thành phần mở rộng Phép đo khoảng cách (Bên phải / Bên trái) Phép đo góc (Bên phải / Bên trái)
Mở rộng xương 60,16% / 56,83% 96,58% / 95,44%
Uốn cong xương ổ răng 16,15% / 16,55% 0,34% / 0,33%
Nghiêng răng 23,69% / 26,62% 3,08% / 4,23%
  • Tổng thuật các nghiên cứu quốc tế so sánh MARPE với RPE và SARPE (Mosleh, Lin, Toklu, Lim, Jia, Carlson, Choi), chỉ ra MARPE tạo ra sự mở rộng nền xương gần như song song ở cả phía trước và phía sau trên mặt phẳng ngang cũng như từ sàn mũi đến mào xương ổ răng trên mặt phẳng đứng ngang, đồng thời dịch chuyển xương gò má sang bên theo tâm xoay gần khớp gò má - trán.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm lâm sàng:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân có hẹp chiều ngang XHT (có hoặc không có cắn chéo răng sau), có chỉ định nong rộng hàm trên.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật chỉnh hình hàm mặt, dị tật khe hở môi vòm miệng, bệnh lý nha chu tiến triển chưa kiểm soát, bệnh toàn thân ảnh hưởng đến chuyển hóa xương.
  • Quy chuẩn hóa các mốc đo trên mẫu thạch cao, phim sọ nghiêng và các lát cắt MPR trên phim CBCT (TMD, TMT, MPKC, MPĐN qua xương lá mía và chẽ răng HL1).
  • Quy trình chế tạo khí cụ MSE, kỹ thuật cấy 4 minivis đảm bảo neo chặn hai bản xương vỏ, quy trình kích hoạt ốc nong và thời gian duy trì 6 tháng.
  • Các biện pháp kiểm soát và khắc phục sai số đo đạc, đảm bảo tính chuẩn xác và đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các số liệu định lư