Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học huyết khối tĩnh mạch não - Trịnh Tiến Lực, Trường Đại học Y Hà Nội

Luận án nghiên cứu đặc điểm lâm sàn và hình ảnh học huyết khối tĩnh mạch não. Phân tích triệu chứng, dấu hiệu và phương pháp chẩn đoán bằng hình ảnh y học.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Thần kinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2020

182
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về huyết khối tĩnh mạch não

Huyết khối tĩnh mạch não (CVT) là tình trạng tắc nghẽn hệ thống tĩnh mạch não do cục máu đông hình thành trong lòng xoang tĩnh mạch não hoặc các tĩnh mạch não. Bệnh lý này chiếm khoảng 0,5-1% tổng số các trường hợp đột quỵ, thường gặp ở người trẻ tuổi, đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Ba yếu tố gây bệnh chính bao gồm tam chứng Virchow: thay đổi thành phần máu dẫn đến tình trạng tăng đông, sự ứ trệ dòng chảy máu và tổn thương nội mô mạch máu. Các nguyên nhân thường gặp bao gồm tăng đông bẩm sinh như giảm protein S, protein C, antithrombin III, hoặc tăng đông mắc phải như mất nước, sử dụng thuốc tránh thai, thai nghén. Triệu chứng lâm sàng đa dạng, từ đau đầu, động kinh đến các dấu hiệu thần kinh khu trú. Việc chẩn đoán sớm đóng vai trò quyết định đến tiên lượng bệnh nhân. Các phương pháp hình ảnh học hiện đại như CT, MRI, MRA và DSA giúp phát hiện chính xác vị trí và mức độ tắc nghẽn của huyết khối.

1.1. Dịch tễ học và yếu tố nguy cơ của huyết khối tĩnh mạch não

Huyết khối tĩnh mạch não là bệnh lý thần kinh ít phổ biến nhưng có tỷ lệ mắc ngày càng tăng nhờ sự phát triển của các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh. Tỷ lệ mắc hàng năm ước tính khoảng 3-4 trường hợp trên một triệu dân. Bệnh thường gặp ở nữ giới nhiều hơn nam giới, với tỷ lệ khoảng 3:1. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm rối loạn đông máu di truyền như đột biến gene factor V Leiden, thiếu hụt protein C, protein S, antithrombin III. Ngoài ra, các yếu tố nguy cơ mắc phải như sử dụng thuốc tránh thai đường uống, thai kỳ, nhiễm trùng, bệnh tự miễn và ung bướu cũng góp phần gia tăng nguy cơ hình thành huyết khối trong hệ thống tĩnh mạch não.

1.2. Sinh lý bệnh và cơ chế hình thành huyết khối tĩnh mạch não

Huyết khối tĩnh mạch hình thành chủ yếu trong môi trường tuần hoàn máu chậm, khi máu tăng độ nhớt tạo điều kiện hình thành lưới sợi fibrin bao bọc các hồng cầu. Thành phần chính của huyết khối tĩnh mạch gồm fibrin và hồng cầu, khác biệt so với huyết khối động mạch chủ yếu chứa tiểu cầu. Cơ chế hình thành dựa trên tam chứng Virchow bao gồm ba yếu tố: thay đổi thành phần máu dẫn đến tăng đông, sự ứ trệ dòng chảy máu và tổn thương nội mô mạch máu. Các yếu tố này có thể tồn tại riêng rẽ hoặc phối hợp, dẫn đến tình trạng tắc nghẽn tĩnh mạch não, gây tăng áp lực tĩnh mạch, phù não và nhồi máu não.

II. Phân tích đặc điểm lâm sàng huyết khối tĩnh mạch não

Triệu chứng lâm sàng của huyết khối tĩnh mạch não rất đa dạng và không đặc hiệu, gây khó khăn trong việc chẩn đoán sớm. Đau đầu là triệu chứng phổ biến nhất, chiếm khoảng 80-90% các trường hợp, thường xuất hiện đột ngột hoặc tăng dần theo thời gian. Động kinh xảy ra ở khoảng 40% bệnh nhân, có thể là triệu chứng khởi phát hoặc xuất hiện trong quá trình bệnh tiến triển. Các dấu hiệu thần kinh khu trú bao gồm liệt nửa người, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn thị giác tùy thuộc vào vị trí và mức độ tắc nghẽn. Hội chứng tăng áp lực nội sọ biểu hiện qua đau đầu, buồn nôn, phù gai thị và rối loạn ý thức. Ở giai đoạn nặng, bệnh nhân có thể hôn mê và tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Sự đa dạng về triệu chứng lâm sàng đòi hỏi bác sĩ lâm sàng phải có sự nghi ngờ cao và chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng phù hợp để xác định chẩn đoán.

2.1. Các biểu hiện thần kinh thường gặp trong huyết khối tĩnh mạch não

2.2. Các thể lâm sàng đặc thù của huyết khối tĩnh mạch não

Huyết khối tĩnh mạch não có nhiều thể lâm sàng đặc thù dựa trên vị trí huyết khối và cơ chế bệnh sinh. Thể tăng áp lực nội sọ đơn thuần thường gặp ở phụ nữ trẻ, biểu hiện đau đầu mạn tính, phù gai thị, thị lực giảm dần. Thể nhồi máu não xuất hiện khi huyết khối gây tắc nghẽn hoàn toàn dẫn đến thiếu máu não khu trú. Thể xuất huyết não xảy ra do vỡ các tĩnh mạch nhỏ bị ứ trệ máu. Thể viêm xoang hang đặc trưng bởi liệt các dây thần kinh sọ III, IV, V1, V2 và nhãn cầu lồi. Thể giả u não với biểu hiện tăng áp lực nội sọ tiến triển, đòi hỏi chẩn đoán phân biệt với u não. Việc nhận biết các thể lâm sàng đặc thù giúp bác sĩ xây dựng chiến lược chẩn đoán và điều trị phù hợp.

III. Phương pháp chẩn đoán hình ảnh huyết khối tĩnh mạch não

Chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò then chốt trong việc xác định huyết khối tĩnh mạch não. Chụp cắt lớp vi tính sọ não (CT) thường là phương pháp đầu tiên được chỉ định trong cấp cứu. CT tĩnh mạch não (CTV) sử dụng kỹ thuật CT xoắn cung cấp hình ảnh nhanh chóng, dễ thực hiện, phát hiện huyết khối qua dấu hiệu delta hoặc dấu hiệu dây. Cộng hưởng từ (MRI) là phương pháp có giá trị cao với độ nhạy và đặc hiệu tốt, cho phép đánh giá cả nhu mô não và hệ thống tĩnh mạch. Chuỗi T1 3D sau tiêm thuốc đối quang từ giúp mô tả rõ ràng các cấu trúc trong xoang tĩnh mạch. Chụp mạch não (DSA) là tiêu chuẩn vàng, cho phép quan sát toàn bộ pha tĩnh mạch với độ phân giải cao. Tuy nhiên, DSA là phương pháp xâm lấn, chỉ định trong trường hợp cần can thiệp điều trị hoặc các phương pháp không xâm lấn cho kết quả không rõ ràng. Sự lựa chọn phương pháp hình ảnh phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng và khả năng kỹ thuật của cơ sở y tế.

3.1. Vai trò của MRI và MRA trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não

MRI và MRA là phương pháp không xâm lấn có giá trị cao trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não. Ảnh MRI đa mặt phẳng giúp đánh giá chi tiết vị trí và mức độ tắc nghẽn của huyết khối. Chuỗi T1 3D sau tiêm thuốc đối quang từ cho phép mô tả rõ ràng các cấu trúc bình thường trong xoang như vách xơ và lồi hạt màng nhện, đồng thời đánh giá nhu mô não và các tổn thương kèm theo. Tuy nhiên, trong giai đoạn mạn tính của huyết khối hoặc khi có sự tái thông dòng chảy, ngấm thuốc của xoang tĩnh mạch có thể gây âm tính giả. Phương pháp TOF 2D cũng được sử dụng nhưng đôi khi khó phân biệt giữa thiểu sản xoang và huyết khối cũ. Việc kết hợp nhiều chuỗi MRI giúp tăng độ chính xác chẩn đoán.

3.2. Vai trò của CT tĩnh mạch não và chụp mạch DSA trong chẩn đoán

CT tĩnh mạch não (CTV) sử dụng kỹ thuật CT xoắn ốc động được ứng dụng rộng rãi nhờ tính dễ thực hiện và cho kết quả nhanh chóng. Hình ảnh huyết khối trên CTV thường表现为 xoang có huyết khối không được làm đầy, ngấm thuốc thành xoang tĩnh mạch và tuần hoàn bàng hệ bất thường. Chụp mạch 4 trục (DSA) là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán, cho phép quan sát toàn bộ pha tĩnh mạch với độ phân giải không gian cao. Hình ảnh trên DSA bao gồm xoang hoặc tĩnh mạch không được làm đầy, tĩnh mạch giãn, tuần hoàn bàng hệ ngoằn ngoèo và thời gian thuốc tồn tại trong nhu mô não kéo dài. DSA có ưu điểm cho phép can thiệp điều trị trực tiếp như tiêu sợi huyết, nhưng là phương pháp xâm lấn và có nguy cơ biến chứng.

IV. Kết luận và ứng dụng lâm sàng nghiên cứu huyết khối tĩnh mạch não

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học của bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não mang lại nhiều kết quả có giá trị ứng dụng thực tiễn cao. Việc phân tích đặc điểm lâm sàng giúp xây dựng các tiêu chí nghi ngờ lâm sàng, từ đó chỉ định chẩn đoán hình ảnh phù hợp và kịp thời. Các phương pháp hình ảnh không xâm lấn như MRI, MRA và CTV có vai trò quan trọng trong sàng lọc và theo dõi điều trị, trong khi DSA được chỉ định trong trường hợp cần can thiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phối hợp giữa triệu chứng lâm sàng và hình ảnh học giúp nâng cao tỷ lệ chẩn đoán chính xác, giảm thời gian từ khởi phát triệu chứng đến chẩn đoán xác định. Tiên lượng bệnh nhân phụ thuộc vào thời điểm chẩn đoán, vị trí và mức độ tắc nghẽn, cũng như nguyên nhân gây bệnh. Việc điều trị kháng đông sớm và tích cực cải thiện đáng kể kết cục lâm sàng. Các nghiên cứu tương lai cần tập trung vào việc xây dựng quy trình chẩn đoán chuẩn hóa và đánh giá hiệu quả điều trị dài hạn.

4.1. Giá trị của việc phối hợp lâm sàng và hình ảnh trong chẩn đoán

4.2. Hướng phát triển và cải thiện trong điều trị huyết khối tĩnh mạch não

Điều trị huyết khối tĩnh mạch não đang có nhiều tiến bộ đáng kể với các hướng phát triển mới. Kháng đông là nền tảng điều trị, sử dụng heparin đường tiêm truyền hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp, sau đó chuyển sang kháng đông đường uống dài hạn. Tiêu sợi huyết qua catheter được chỉ định trong trường hợp nặng, không đáp ứng với kháng đông. Can thiệp cơ học lấy huyết khối áp dụng cho các trường hợp tắc nghẽn hoàn toàn nặng nề. Nghiên cứu tương lai tập trung vào phát triển thuốc kháng đông thế hệ mới với hiệu quả cao và nguy cơ chảy máu thấp hơn. Việc xây dựng quy trình chẩn đoán và điều trị chuẩn hóa dựa trên bằng chứng sẽ cải thiện tiên lượng và chất lượng sống cho bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học của bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. ĐẠI CƯƠNG BỆNH HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH NÃO - Huyết khối tĩnh mạch não là bệnh tương đối hiếm gặp tỷ lệ mắc hàng năm ước tính từ 2-7 trường hợp trong 1. Ngày nay tỷ lệ này có thể cao hơn nhiều do sự phát triển của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm nhập [8],[9]. - Huyết khối tĩnh mạch não lần đầu tiên được đề cập đến từ hơn 100 năm trước.

Vị trí của HKTMN hay gặp nhất là xoang tĩnh mạch dọc trên, xoang ngang. Có thể có nhiều xoang bị huyết khối trên một bệnh nhân [1],[10]. - Huyết khối tĩnh mạch não gặp ở mọi lứa tuổi, người lớn, trẻ em và cả ở trẻ sơ sinh. Ở người trưởng thành tỷ lệ bị bệnh ở nữ gặp cao hơn ở nam giới, đặc biệt ở lứa tuổi 20 đến 35.

Có sự chênh lệch tỷ lệ mắc này có lẽ liên quan đến độ tuổi mang thai, sinh đẻ và dùng thuốc tránh thai đường uống [1],[11]. - Có một số yếu tố di truyền và mắc phải của HKTMN đã được xác định. Tuy nhiên có đến 1/3 các trường hợp HKTMN không thể xác định được nguyên nhân gây bệnh cho dù bệnh nhân được thăm khám và làm xét nghiệm đầy đủ [1],[12]. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH NÃO 1.

Trên thế giới. - Theo Agnelli G, Verso M bệnh HKTMN được biết từ hơn 100 năm trước. Khi các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chưa phát triển tỷ lệ phát hiện bệnh rất thấp, chẩn đoán xác định được chủ yếu qua mổ tử thi [10]. - Năm 2004 Ferro M và cộng sự nhận thấy HKTMN có tần suất mắc bệnh cao ở người trẻ tuổi chủ yếu ở phụ nữ do sự liên quan giữa loại bệnh lý này với tình trạng mang thai, sinh đẻ và dùng thuốc tránh thai đường uống [13].

4 - Năm 2010 trong nghiên cứu của mình Coutinho JM, Stam J đã đưa ra kết luận với những tiến bộ của chẩn đoán hình ảnh việc chẩn đoán sớm HKTMN là điều hoàn toàn có thể. Đồng thời cùng với việc áp dụng điều trị heparin làm cho các bệnh nhân HKTMN có tiên lượng tốt hơn [14]. - Năm 2011 Saposnik G, Barinagarrementeria F và cộng sự thấy rằng tỷ lệ mắc của HKTMN là 5/1.000 dân và chiếm khoảng 0,5-1% các trường hợp đột quỵ. Các tác giả cũng đưa ra các khuyến cáo chẩn đoán, điều trị cũng như các biện pháp điều trị dự phòng tái phát bệnh [9].

- Năm 2012 Coutinho JM và cộng sự khi nghiên cứu tỷ lệ mắc của HKTMN trong một nghiên cứu cắt ngang thấy tỷ lệ mắc hàng năm của bệnh là 1,32/100. Tỷ lệ bị bệnh nhiều nhất là ở nữ giới lứa tuổi 31- 50 tuổi. Các tác giả thấy tỷ lệ của huyết khối tĩnh mạch có thể cao hơn chúng ta nghĩ [15]. - Năm 2014 Gulati D và cộng sự thấy rằng cần chỉ định điều trị thuốc chống đông trong HKTMN kể cả khi HKTMN có chảy máu não.

Cần theo dõi tình trạng tái thông của tĩnh mạch có huyết khối sau điều trị 3- 6 tháng [16]. - Năm 2015 Sari S và cộng sự so sánh MRV T1 3D sau tiêm thuốc đối quang từ với MRV không tiêm và MRI thường quy. Các tác giả thấy, MRV T1 3D sau tiêm thuốc đối quang từ là biện pháp chẩn đoán hình ảnh có giá trị trong chẩn đoán huyết khối xoang tĩnh mạch não và huyết khối tĩnh mạch vỏ não [17]. - Cũng trong năm 2015 Mendonça MD và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu hiệu quả của thuốc chống đông thế hệ mới cho 15 bệnh nhân HKTMN.

Các tác giả thấy hiệu quả điều trị cũng như tính an toàn của thuốc cao. Tuy nhiên các tác giả cũng đề nghị cần có có những nghiên cứu sâu hơn với các thuốc khác trong nhóm với số lượng bệnh nhân lớn hơn [18]. 5 - Năm 2016 Aguiar D và cộng sự tổng hợp, phân tích 13 nghiên cứu HKTMN. Các tác giả thấy ở bệnh nhân có tiền sử HKTMN nguy cơ rõ ràng với HKTMN tái phát khi mang thai là thấp, nguy cơ xảy thai không khác so với dân số chung.

Từ đó các tác giả cho rằng những bệnh nhân có tiền sử HKTMN không phải là chống chỉ định cho việc mang thai [19]. - Năm 2017 Salottolo K và cộng sự nghiên cứu hồi cứu 152 bệnh nhân HKTMN. Các tác giả đưa ra đồng thuận điều trị cơ bản vẫn là chống đông toàn thân. Tuy nhiên điều trị can thiệp mạch để lấy huyết khối hoặc thuốc tiêu cục máu đông tại chỗ có thể được chỉ định cho các trường hợp đáp ứng kém với chống đông toàn thân [20].

- Năm 2018 Goyal G và cộng sự khi nghiên cứu 181 bệnh nhân HKTMN thấy tuổi trung bình của bệnh nhân là 34,6 tuổi, tỷ lệ nữ chiếm 66,9% và có tới 64% số bệnh nhân có tổn thương nhu mô não. Các tác giả đưa ra kết luận HKTMN là nguyên nhân quan trọng và có thể điều trị được của đột quỵ não với biểu hiện lâm sàng đa dạng. Chẩn đoán và điều trị sớm HKTMN có thể ngăn ngừa tổn thương nhu mô não [21]. Tại Việt Nam.

- Năm 2004 Lê Quang Cường, Phan Hồng Minh đã đưa ra nhận xét về giá trị của chẩn đoán hình ảnh trong chẩn đoán HKTMN. Đồng thời các tác giả cũng nêu ra heparin là thuốc chống đông được lựa chọn đầu tiên trong giai đoạn cấp [22]. - Năm 2007 Lê Đức Hinh cho thấy triệu chứng lâm sàng chủ yếu của HKTMN là nhức đầu, thiếu sót thần kinh cục bộ, cơn co giật động kinh và rối loạn ý thức. Ngoài ra tác giả còn nêu ra điều trị heparin trong giai đoạn cấp sau đó duy trì thuốc chống đông trong 3 tháng [1].

6 - Năm 2007 Lê Quang Cường nêu ra xoang tĩnh mạch hang là vị trí thường bị nhiễm khuẩn và tạo nên huyết khối. Bên cạnh việc sử dụng kháng sinh mạnh liều cao phù hợp với vi khuẩn gây bệnh thì dùng thuốc chống đông là cần thiết [23]. - Năm 2013 Lê Văn Minh, Phan Việt Nga, Phạm Ngọc Hoa và cộng sự nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ ở 59 bệnh nhân HKTMN. Các tác giả thấy chẩn đoán HKTMN có những khó khăn nhất định do triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu.

Các tác giả cũng thấy rối loạn tăng đông mắc phải hoặc di truyền là các yếu tố nguy cơ quan trọng [24]. - Năm 2016 Nguyễn Thị Thơ, Vũ Đăng Lưu, Lê Văn Thính nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh huyết khối tĩnh mạch não trên cộng hưởng từ ở 25 bệnh nhân HKTMN. Các tác giả thấy HKTMN thường gặp ở người trưởng thành trẻ tuổi với triệu chứng hay gặp nhất là đau đầu. Các tác giả cũng đưa ra kết luận MRI giúp dễ dàng xác định tĩnh mạch tắc trên ảnh T1 3D sau tiêm thuốc và thay đổi nhu mô do tắc tĩnh mạch gây nên [25].

Các nghiên cứu trong nước về HKTMN chưa nhiều do khó khăn trong chẩn đoán bệnh. Các tác giả trên là những người đi đầu trong nghiên cứu về lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh học HKTMN. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU HỆ THỐNG TĨNH MẠCH NÃO Hệ thống tĩnh mạch não bao gồm các xoang tĩnh mạch não và các tĩnh mạch não [26]. Các tĩnh mạch não bao gồm các tĩnh mạch nông bề mặt vỏ não, các tĩnh mạch não sâu (chất trắng gian não và cạnh não thất) và tĩnh mạch não vùng hố sau.

Sự phân bố hệ thống tĩnh mạch não không ổn định có nhiều thay đổi về giải phẫu hơn so với hệ thống động mạch não [8],[27]. Các xoang tĩnh mạch não Các xoang tĩnh mạch não nằm giữa các lớp sợi xơ của màng cứng do đó các xoang tĩnh mạch não còn được gọi là các xoang màng cứng. Thành của xoang tĩnh mạch não gồm lớp nội mô, màng cứng và có thể có xương sọ tạo nên tùy xoang. Trong lòng xoang tĩnh mạch não là nơi chứa hầu hết vi mao màng nhện và các hạt Pacchioni [8],[28].

Xoang dọc trên Xoang dọc dưới Xoang thẳng Hợp lưu Herophille Xoang ngang Xoang Sigma Tĩnh mạch cảnh trong Hình 1.1: Các xoang màng cứng [8] 1. Xoang dọc trên Xoang tĩnh mạch dọc trên là xoang tĩnh mạch to nhất, dài nhất của não. Xoang dọc trên nằm ở bờ liềm não gắn vào xương sọ, chạy theo đường tiếp giữa kéo dài từ ụ trán lỗ tịt trước mào gà tới ụ chẩm trong. Xoang dọc trên tới chỗ nối với xoang thẳng và xoang bên để tạo nên hội lưu Herophili [26].

Xoang tĩnh mạch dọc trên nhỏ ở phía trước càng đi ra phía sau xoang càng lớn dần. Xoang dọc trên dẫn lưu phần lớn máu vỏ não. Lòng xoang tĩnh mạch dọc trên có các hạt Pacchioni ấn lồi vào [29]. Xoang bên và xoang chẩm sau.

Từ hợp lưu xoang Herophili chia ra thành xoang bên và xoang chẩm sau. Xoang bên xuất phát từ hội lưu Herophili dọc theo lều tiểu não đến tĩnh mạch cảnh trong [8]. - Xoang bên bao gồm 2 phần: + Xoang ngang, còn gọi là đoạn chẩm hay đoạn ngang của xoang bên, nằm ở rãnh ngang trong bờ lều tiểu não gắn vào xương sọ. + Xoang sigma, còn gọi đoạn xuống hay đoạn sau chũm của xoang bên, nằm trong xương chũm.

Xoang sigma đi ra sau xuống dưới vòng quanh mỏm cảnh tới lỗ rách sau đổ vào tĩnh mạch cảnh trong. Các xoang bên nhận máu từ tiểu não, thân não và phần sau của bán cầu đại não. - Xoang chẩm sau chạy ra trước và xuống dưới từ hợp lưu Herophili tới lỗ chẩm nối tiếp với đám rối tĩnh mạch sống. Chỉ một nửa số trường hợp xoang ngang hai bên cân đối số còn lại không cân đối hai bên, thường là thiểu sản xoang ngang bên trái [8].

Xoang hang Có 2 xoang hang ở hai bên yên bướm, ngay bên trên và bên ngoài xoang bướm đi từ đỉnh xương đá tới khe bướm. Xoang hang gồm các hang rỗng được tạo nên bởi các lớp riêng rẽ của màng cứng [26]. Xoang hang nhận máu từ nhãn cầu qua tĩnh mạch mắt và phần trước nền não qua xoang bướm đỉnh và qua tĩnh mạch não giữa. Máu từ xoang hang đổ vào xoang đá trên và xoang đá dưới sau đó đổ vào tĩnh mạch cảnh trong qua xoang bên.

Hai xoang hang thông với nhau bởi xoang vành (xoang liên hang) và xoang chẩm ngang. Trong lòng xoang hang có động mạch cảnh trong và dây VI. Thành bên xoang hang có dây thần kinh III, IV, V1, V2 [27],[28]. Xoang dọc dưới Xoang dọc dưới chạy ở bờ tự do của liềm đại não.

Xoang dọc dưới nối với tĩnh mạch Galen để tạo nên xoang thẳng [28]. Xoang thẳng Xoang thẳng chạy dọc theo chỗ bám của liềm đại não vào lều tiểu não.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ