Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang gia tăng áp lực nặng nề lên hệ thống cơ sở hạ tầng thoát nước tại Việt Nam. Theo các kịch bản cảnh báo, nếu mực nước biển dâng cao 1 mét, khoảng 40% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long và 10% diện tích Đồng bằng sông Hồng sẽ đứng trước nguy cơ ngập lụt, ảnh hưởng trực tiếp tới 20 đến 30 triệu người dân. Tại khu vực Bắc Đuống thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng kết hợp cùng các hình thái thời tiết cực đoan đã khiến bài toán tiêu thoát nước trở nên cấp thiết. Lưu vực tiêu liên thông của 3 trạm bơm Dương Hà, Phù Đổng và Thịnh Liên có tổng diện tích tự nhiên khoảng 2.500 ha, giữ vai trò huyết mạch trong việc bơm nước tiêu úng cưỡng bức ra sông Đuống.

Thực trạng khai thác cho thấy hệ thống công trình đầu mối đã qua 20 đến 39 năm vận hành, khiến lưu lượng bơm thực tế bị suy giảm nghiêm trọng, chỉ còn đạt khoảng 50% đến 60% so với công suất thiết kế ban đầu. Trong khi đó, chi phí điện năng vận hành bơm động lực hiện chiếm tới 45% đến 50% tổng kinh phí quản lý khai thác thủy nông. Trước sự gia tăng của các đợt mưa lớn vượt tần suất thiết kế và sự thu hẹp diện tích trữ nước tự nhiên, việc vận hành phân tán, thiếu quy trình phối hợp khoa học giữa các trạm bơm làm gia tăng mức độ thiệt hại do ngập úng và lãng phí điện năng tiêu thụ.

Đề tài tập trung nghiên cứu đề xuất quy trình vận hành tối ưu cho hệ thống tiêu 3 trạm bơm Dương Hà – Phù Đổng – Thịnh Liên giai đoạn hiện trạng và định hướng đến năm 2030. Nghiên cứu giải quyết mục tiêu kép: vừa đảm bảo an toàn chống úng cho 2.500 ha đất đô thị và nông nghiệp, vừa giảm thiểu chi phí năng lượng vận hành trạm bơm dưới tác động của kịch bản biến đổi khí hậu RCP4.5 và quá trình chuyển đổi sử dụng đất tại huyện Gia Lâm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết dòng chảy không ổn định trong hệ thống kênh hở (hệ phương trình Saint-Venant 1 chiều) và lý thuyết cân bằng nước mặt ruộng kết hợp tiêu động lực. Quá trình chuyển hóa mưa rào thành dòng chảy mặt trong lưu vực đô thị và nông thôn được mô tả thông qua mô hình thủy lực - thủy văn SWMM (Storm Water Management Model).

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các quy chuẩn chuyên ngành, tiêu biểu là Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về công trình thủy lợi QCVN 04-05:2012/BNNPTNT, quy định mức bảo đảm tiêu nước cho hệ thống từ 80% đến 90%, tương ứng với tần suất mưa thiết kế từ 10% đến 20%. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm có:

  • Hệ số tiêu thiết kế mặt ruộng và lưu vực.
  • Lượng mưa tiêu thiết kế 5 ngày lớn nhất tương ứng với tần suất thiết kế 10% và tần suất thường xuyên 50%.
  • Chế độ tiêu động lực liên thông đa trạm bơm qua hệ thống cống điều tiết.
  • Vùng trũng rốn nước tích trữ đệm.
  • Kịch bản phát thải khí nhà kính mức trung bình RCP4.5 theo công bố của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Số liệu khí hậu nền tảng tại khu vực Hà Nội chỉ ra lượng mưa trung bình nhiều năm đạt 1.716,6 mm/năm (tập trung 70% đến 85% trong mùa mưa từ tháng V đến tháng IX), lượng bốc hơi bình quân 972,3 mm/năm và độ ẩm không khí trung bình 82%, là các tham số quan trọng để thiết lập bài toán biên thủy văn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tích hợp chuỗi dữ liệu quan trắc khí tượng thủy văn giai đoạn 1967-1997 và các đợt mưa bão cực đoan cập nhật giai đoạn 2015-2018. Khảo sát thực địa thu thập thông số chi tiết của toàn bộ 62 tổ máy bơm thuộc 3 trạm đầu mối, bao gồm 28 máy bơm HL980-9 (công suất 33 kW/máy) tại trạm Dương Hà, 25 máy bơm 12LTX40 tại trạm Phù Đổng cũ và 9 máy bơm hướng trục HTD2300 (công suất 75 kW/máy, lưu lượng 0,63 m3/s/máy) tại trạm Thịnh Liên. Khảo sát trắc dọc, trắc ngang bao quát tuyến kênh chính dài 1.735,91 m và 4 tuyến kênh nhánh cấp 1 với tổng chiều dài 6.028 m.

Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng trên toàn bộ lưu vực khép kín 2.500 ha. Cơ sở lựa chọn mô hình SWMM bắt nguồn từ khả năng mô phỏng chính xác mạng lưới kênh dẫn phức tạp kết hợp công trình điều tiết dạng cống, đập tràn và trạm bơm tiêu trong môi trường chuyển đổi từ nông nghiệp sang đô thị. Quy trình phân tích kết hợp phương pháp đường tần suất lý luận Pearson III để xác định lượng mưa tiêu 5 ngày lớn nhất thời kỳ tương lai đến năm 2030, phục vụ việc kiểm định mô hình với sai số mực nước và giờ bơm thực tế dưới 10%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích hiện trạng cho thấy sự xuống cấp nghiêm trọng của hệ thống công trình đầu mối và mạng lưới kênh dẫn. Hiệu suất của trạm bơm Phù Đổng sau 39 năm khai thác chỉ còn khoảng 50% đến 60% so với ban đầu. Lòng kênh tiêu 7 xã dài 4.320 m bị bồi lắng thu hẹp mặt cắt đáy từ 25 m xuống chỉ còn 2,5 m ở nhiều vị trí, gây cản trở dòng chảy nghiêm trọng.

Quá trình đô thị hóa mạnh mẽ làm thay đổi cơ cấu bề mặt phủ. Sự hình thành của Cụm công nghiệp Ninh Hiệp quy mô 63,6 ha, Dự án Nhà máy nước mặt sông Đuống diện tích 62,5 ha với tổng vốn đầu tư gần 5.000 tỷ đồng, cùng đồ án Khu đô thị Gia Lâm rộng 420 ha đã làm suy giảm trên 30% diện tích ao hồ tự nhiên. Điều này khiến hệ số dòng chảy mặt tăng vọt, tạo áp lực tiêu thoát tức thời rất lớn.

Khi xuất hiện các trận mưa từ 100 mm/ngày hoặc các đợt mưa lớn như bão số 3 năm 2018 với lượng mưa xấp xỉ 300 mm, thời gian ngập úng trên lưu vực kéo dài từ 2 đến 10 ngày, làm thiệt hại trắng trên 30% diện tích lúa mới cấy.

Kết quả mô phỏng 6 nhóm kịch bản vận hành trên mô hình SWMM chứng minh rằng phương thức điều hành liên thông phân kỳ, tận dụng dung tích trữ tại bể hút Thịnh Liên (đáy sâu +3,0 m) và ưu tiên bơm trong khung giờ thấp điểm, giúp giảm từ 15% đến 22% lượng điện năng tiêu thụ so với việc khởi động đồng loạt cả 3 trạm bơm.

Thảo luận kết quả

Sự quá tải của hệ thống bắt nguồn từ việc công trình được thiết kế theo tiêu chuẩn nông nghiệp cũ (hệ số tiêu khoảng 7,5 l/s/ha), không còn phù hợp khi chuyển đổi sang đất đô thị và công nghiệp. Việc các trạm bơm vận hành độc lập, thiếu sự liên kết điều tiết mực nước tại các cống phân lưu khiến trạm Thịnh Liên ở vùng rốn nước thường xuyên bị quá tải, trong khi trạm Dương Hà và Phù Đổng chưa phát huy tối đa công suất đón dòng.

So sánh với các nghiên cứu trong nước, kết quả này hoàn toàn tương đồng với báo cáo của Viện Quy hoạch Thủy lợi, khi dự báo nhu cầu tiêu vùng Đồng bằng Bắc Bộ sẽ tăng 37,5% vào năm 2050 dưới tác động của biến đổi khí hậu và đô thị hóa. Kết quả cũng phù hợp với đánh giá tại hệ thống tiêu Đông Mỹ, nơi lưu lượng yêu cầu tăng từ 2,13% đến 5,65% trong các giai đoạn tương ứng.

Dữ liệu mô phỏng được trực quan hóa qua biểu đồ dao động mực nước bể hút theo thời gian và chuỗi bảng tổng hợp ma trận điện năng tiêu thụ (từ Kịch bản 1 đến Kịch bản 6 trong hồ sơ kỹ thuật). Bảng so sánh giữa các phương án khẳng định: việc phân bổ công suất bơm theo từng cấp mưa P=10% và P=50% cho phép kiểm soát mực nước nội đồng không vượt quá cao trình ngập úng giới hạn (+4,5 m), đồng thời tối ưu hóa chi phí vận hành hàng năm cho doanh nghiệp khai thác thủy nông.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác tiêu úng và giảm thiểu chi phí năng lượng cho lưu vực 2.500 ha tại huyện Gia Lâm, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý cụ thể:

  • Đẩy nhanh tiến độ nâng cấp trạm đầu mối Phù Đổng: Hoàn thành xây dựng trạm bơm Phù Đổng mới với quy mô 4 tổ máy trục đứng công suất 8.000 m3/h/máy (tổng công suất tiêu 32.000 m3/h) theo Quyết định số 5999/QĐ-UBND trước năm 2020. Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Hà Nội.
  • Cải tạo, nạo vét trục kênh tiêu chính và kênh nhánh: Tiến hành nạo vét 1.467 m kênh chính, kè kiên cố 239 m bờ kênh và nạo vét đồng bộ 6.028 m trên 4 tuyến kênh cấp 1 (Tào Khê, Đổng Viên, Giao Thông, 7 Xã) trong giai đoạn 2020-2022, nhằm nâng khả năng thông qua của lòng dẫn lên 25% đến 30%. Chủ thể thực hiện: Xí nghiệp Đầu tư Phát triển Thủy lợi Gia Lâm.
  • Ban hành quy trình vận hành liên trạm tối ưu điện năng: Áp dụng quy tắc vận hành phân tầng theo mực nước bể hút: ưu tiên vận hành trạm Thịnh Liên để hạ thấp mực nước rốn tiêu trước khi mưa lớn 6 giờ, chuyển dịch 60% thời lượng bơm sang khung giờ thấp điểm (từ 22h00 đến 04h00 hôm sau) nhằm tiết kiệm từ 18% đến 25% chi phí tiền điện. Chủ thể thực hiện: Công ty TNHH Một thành viên Đầu tư Phát triển Thủy lợi Hà Nội.
  • Lắp đặt hệ thống giám sát mực nước tự động và SCADA: Hoàn thiện mạng lưới quan trắc tự động tại 3 bể hút và 20 công trình cống điều tiết trước năm 2025, tích hợp công cụ cảnh báo mưa và ngập úng sớm để cán bộ quản lý chủ động đóng mở cống phân vùng chính xác. Chủ thể thực hiện: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội phối hợp UBND huyện Gia Lâm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và tính ứng dụng cao, là tài liệu chuyên khảo cần thiết cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý và kỹ sư vận hành hệ thống thủy nông: Cung cấp ma trận phân bổ giờ chạy máy chi tiết cho 3 trạm bơm Dương Hà, Phù Đổng, Thịnh Liên, giúp người vận hành nắm bắt quy trình điều tiết cống và vận hành tổ máy an toàn, tiết kiệm từ 15% đến 20% chi phí điện năng.
  • Chuyên viên quy hoạch đô thị và thoát nước khu vực: Sử dụng số liệu dự báo dòng chảy mặt và hệ số tiêu trên lưu vực 420 ha của Khu đô thị Gia Lâm để tính toán kích thước mạng lưới cống thoát nước và cao trình nền xây dựng, tránh tình trạng ngập cục bộ khi chuyển đổi đất nông nghiệp.
  • Các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên ngành Kỹ thuật tài nguyên nước: Kế thừa phương pháp thiết lập và kiểm định mô hình SWMM cho hệ thống tiêu động lực hỗn hợp nông nghiệp - đô thị tại vùng đồng bằng ven đê sông Đuống.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về phòng chống thiên tai: Tham khảo các kịch bản tính toán mưa cực đoan và kịch bản BĐKH RCP4.5 để xây dựng phương án phòng chống ngập úng cấp quận, huyện, bảo vệ an toàn cho đời sống của hơn 89.000 cư dân vùng dự án.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thống 3 trạm bơm Dương Hà – Phù Đổng – Thịnh Liên có cơ chế liên thông như thế nào? Ba trạm bơm cùng tiêu nước cho lưu vực Bắc Đuống diện tích 2.500 ha đổ ra sông Đuống. Các trạm dùng chung mạng lưới kênh tiêu chính nhưng được phân chia ranh giới động bằng các cống điều tiết (như cống Giao Thông, cống Dương Hà) để điều phối dòng chảy linh hoạt tùy theo diễn biến mực nước từng vùng.

Tại sao trạm bơm Phù Đổng cũ chỉ đạt khoảng 60% công suất thiết kế? Trạm Phù Đổng xây dựng từ năm 1974 gồm 25 tổ máy loại 12LTX40. Trải qua hơn 39 năm khai thác, hệ thống cánh bơm bị mài mòn, động cơ điện rò rỉ, đường ống thủng rỗ và bể hút bồi lắng nặng, khiến hiệu suất suy giảm 40% đến 50% so với thiết kế.

Tốc độ đô thị hóa tại Gia Lâm làm gia tăng áp lực ngập úng ra sao? Việc xây dựng Khu đô thị Gia Lâm 420 ha, Cụm công nghiệp Ninh Hiệp 63,6 ha và Nhà máy nước mặt sông Đuống 62,5 ha đã bê tông hóa bề mặt, làm giảm hơn 30% diện tích thấm và trữ nước tạm thời, khiến lượng nước dồn về kênh tiêu tăng gấp 1,5 đến 2 lần.

Mô hình SWMM giải quyết bài toán vận hành trạm bơm như thế nào? Mô hình SWMM mô phỏng chính xác chế độ dòng chảy không ổn định 1 chiều trên mạng lưới kênh dẫn và tính toán mực nước tại bể hút của từng trạm bơm. Dựa vào đó, mô hình giúp tìm ra thời điểm đóng mở máy bơm tối ưu nhất nhằm tránh ngập và tiết kiệm điện.

Quy trình vận hành mới giúp giảm chi phí điện năng như thế nào? Bằng cách tận dụng dung tích trữ nước của hệ thống kênh và bể hút tại trạm Thịnh Liên, quy trình mới ưu tiên bơm cưỡng bức vào khung giờ thấp điểm (giá điện rẻ) và hạn chế tối đa việc chạy máy vào giờ cao điểm, giúp tiết kiệm 15% đến 22% điện năng tiêu thụ.

Kết luận

  • Đề tài đã đánh giá toàn diện hiện trạng suy giảm công suất của hệ thống tiêu 3 trạm bơm Dương Hà – Phù Đổng – Thịnh Liên trên lưu vực 2.500 ha tại huyện Gia Lâm, Hà Nội.
  • Ứng dụng thành công mô hình thủy lực - thủy văn SWMM kết hợp kịch bản biến đổi khí hậu RCP4.5 để mô phỏng dòng chảy ngập úng trong điều kiện đô thị hóa mở rộng.
  • Đề xuất 6 kịch bản vận hành liên trạm khoa học, giúp cắt giảm từ 15% đến 22% điện năng tiêu thụ và khống chế mực nước nội đồng an toàn dưới cao trình +4,5 m.
  • Đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho dự án nâng cấp trạm bơm Phù Đổng mới công suất 32.000 m3/h và cải tạo 6.028 m kênh tiêu cấp 1 trong giai đoạn 2020-2025.
  • Quy trình điều hành liên thông cần sớm được chuyển giao và áp dụng đồng bộ tại các đơn vị quản lý khai thác thủy nông để nâng cao hiệu quả phòng chống thiên tai và tiết kiệm ngân sách nhà nước.