Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu thực trạng bệnh lý quanh răng và đánh giá hiệu quả điều trị phẫu thuật bằng máy AMD laser trên người cao tuổi tại Hà Nội năm 2015 - Trương Mạnh Nguyên

Tìm hiểu chi tiết bệnh lý quanh răng ở người cao tuổi và hiệu quả của phương pháp điều trị laser AMD hiện đại. Phân tích khoa học mới về sức khỏe lợi.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Răng Hàm Mặt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

219
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh lý quanh răng

Bệnh lý quanh răng là tình trạng bệnh lý ảnh hưởng đến mô hỗ trợ xung quanh răng, bao gồm nướu, xương ổ răng, dây chằng và cement. Tình trạng này có thể dẫn đến mất răng nếu không được điều trị kịp thời. Bệnh lý quanh răng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mất răng ở người cao tuổi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh lý quanh răng ảnh hưởng đến hơn 90% dân số thế giới.

1.1. Định nghĩa và phân loại

Bệnh lý quanh răng được định nghĩa là tình trạng viêm nhiễm và phá hủy mô hỗ trợ xung quanh răng. Bệnh lý quanh răng có thể được phân loại thành các giai đoạn khác nhau dựa trên mức độ nghiêm trọng của bệnh, bao gồm viêm nướu, viêm quanh răng cấp tính và viêm quanh răng mãn tính.

1.2. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân chính của bệnh lý quanh răng là sự tích tụ mảng bám răng và vi khuẩn. Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm tuổi tác, vệ sinh răng miệng kém, hút thuốc lá, tiểu đường và di truyền.

II. Thực trạng bệnh lý quanh răng ở người cao tuổi

Người cao tuổi có nguy cơ mắc bệnh lý quanh răng cao do quá trình lão hóa tự nhiên của cơ thể. Tình trạng này có thể dẫn đến mất răng, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe toàn thân. Theo nghiên cứu, hơn 50% người cao tuổi tại Hà Nội mắc bệnh lý quanh răng.

2.1. Tình hình bệnh lý quanh răng ở người cao tuổi tại Hà Nội

Nghiên cứu cho thấy tình hình bệnh lý quanh răng ở người cao tuổi tại Hà Nội là đáng báo động. Hơn 50% người cao tuổi tại Hà Nội mắc bệnh lý quanh răng, trong đó 20% ở mức độ nặng.

2.2. Ảnh hưởng của bệnh lý quanh răng đến chất lượng cuộc sống

Bệnh lý quanh răng có thể dẫn đến mất răng, ảnh hưởng đến khả năng ăn nhai, tiêu hóa và chất lượng cuộc sống. Ngoài ra, bệnh lý quanh răng còn có liên quan đến các bệnh lý toàn thân khác như tim mạch, tiểu đường.

III. Giải pháp điều trị phẫu thuật bằng máy AMD Laser

Phẫu thuật bằng máy AMD Laser là một trong những giải pháp điều trị bệnh lý quanh răng hiệu quả. Phương pháp này có thể giúp loại bỏ mô nhiễm trùng, tái tạo mô hỗ trợ xung quanh răng.

3.1. Nguyên lý và kỹ thuật điều trị

Máy AMD Laser sử dụng công nghệ laser để loại bỏ mô nhiễm trùng và tái tạo mô hỗ trợ xung quanh răng. Kỹ thuật điều trị này đòi hỏi sự chính xác và kinh nghiệm của bác sĩ.

3.2. Ưu điểm và kết quả điều trị

Phương pháp điều trị bằng máy AMD Laser có nhiều ưu điểm, bao gồm giảm đau, giảm sưng, thời gian hồi phục nhanh. Kết quả điều trị cho thấy tình trạng bệnh lý quanh răng được cải thiện đáng kể.

IV. Kết luận và ứng dụng

Bệnh lý quanh răng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mất răng ở người cao tuổi. Phẫu thuật bằng máy AMD Laser là một trong những giải pháp điều trị hiệu quả. Ứng dụng công nghệ laser trong điều trị bệnh lý quanh răng sẽ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và sức khỏe toàn thân cho người bệnh.

4.1. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng

Nghiên cứu cho thấy phương pháp điều trị bằng máy AMD Laser có kết quả tốt trong điều trị bệnh lý quanh răng. Ứng dụng công nghệ này sẽ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và sức khỏe toàn thân cho người bệnh.

4.2. Hướng phát triển và nghiên cứu tiếp theo

Hướng phát triển và nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc cải thiện kỹ thuật điều trị, ứng dụng công nghệ mới và nghiên cứu về nguyên nhân và cơ chế bệnh lý quanh răng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng bệnh lý quanh răng và đánh giá hiệu quả điều trị phẫu thuật bằng máy amd laser

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm người cao tuổi và xu thế già hóa dân số ở Việt Nam và thế giới 1. Khái niệm người cao tuổi Có rất nhiều quan niệm về người cao tuổi nhưng quan niệm đó thường dựa vào mức tuổi thọ trung bình của con người, điều này được áp dụng trên cả thế giới cũng như Việt Nam Theo Luật người cao tuổi Việt Nam: Những người từ đủ 60 tuổi trở lên là người cao tuổi (Luật ban hành năm 2009).

Theo luật lao động: để tính tuổi nghỉ hưu hoặc nghỉ quản lý thì người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên (với nam), từ 55 tuổi trở lên (với nữ). Tuy nhiên quan niệm này có thể thay đổi theo thời gian khi điều kiện về kinh tế và tuổi thọ trung bình thay đổi ở các nước. Một số khái niệm có liên quan Tuổi già sinh học: Là độ tuổi mà đến khi đó con người đã xuất hiện những biểu hiện suy giảm các chức năng tâm sinh lý và các chức năng lao động, sinh hoạt trong cuộc sống. Già sinh học là khi hoạt động sống của người bị chính các quá trình diễn biến tự nhiên trong cơ thể con người tạo ra.

Bởi vậy tuổi già sinh học có thể bắt đầu ở mỗi cá nhân ở nhiều lứa tuổi khác nhau, phụ thuộc vào cấu tạo sinh học vốn có của mỗi giống nòi và tính di 4 truyền của dòng họ, của dân tộc và phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế xã hội của mỗi vùng, mỗi quốc gia trong thời kỳ nhất định. Tuổi già pháp định: theo những quy định này những người đạt đến một độ tuổi nào đó phải chấm dứt các hợp đồng lao động, được quyền nghỉ ngơi. Tổ chức và cá nhân nào vi phạm quyền này đối với người cao tuổi được coi là vi phạm pháp luật. Tuổi già lao động: là độ tuổi mà người lao động đã có những suy giảm về thể chất và các chức năng lao động.

Các phản xạ về nghề nghiệp đã kém đi. Già hóa dân số: vấn đề toàn cầu trong thế kỷ 21 1. Xu hướng già hóa trên thế giới Già hoá dân số đánh dấu thành công của chuyển đổi nhân khẩu học nhờ kết hợp giảm nhanh, giảm mạnh mức chết và mức sinh trong đó giảm mức sinh là yếu tố quyết định nhất dẫn đến làm thay đổi cơ cấu tuổi, phân bố dân số của từng nhóm tuổi (tỷ lệ người trưởng thành và người cao tuổi tăng lên trong cơ cấu dân số, tỷ lệ dân số trẻ so với tổng dân số giảm rõ rệt) và tuổi trung vị của dân số không ngừng tăng lên. Để xem xét đánh giá vấn đề dân số già hóa, các nhà nhân khẩu học dựa vào các chỉ số như tuổi thọ bình quân, tỷ lệ dân số 60 tuổi trở lên, 65 tuổi trở lên, tuổi trung vị.

Ở hầu hết các nước phát triển, từ 65 tuổi trở lên được coi là người cao tuổi. Tuy nhiên với nhiều nước đang phát triển thì mốc tuổi này không phù hợp. Hiện tại chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho các quốc gia, tuy nhiên Liên Hợp quốc chấp nhận mốc để xác định dân số già là từ 60 tuổi trở lên trong đó phân ra làm ba nhóm: Sơ lão (60-69 tuổi), trung lão (70-79 tuổi) và đại lão (từ 80 tuổi trở lên) [9]. Già hoá diễn ra khi mức sinh giảm trong khi triển vọng sống duy trì không đổi hoặc tăng lên ở các độ tuổi già.

Trong giai đoạn 1950-2005, không 5 chỉ mức tử vong sơ sinh giảm mà mức tử vong ở tất cả những nhóm tuổi khác cũng giảm. Mức sinh giảm ở hầu hết các nước trên thế giới. Thế kỷ XX đã chứng kiến một cuộc cách mạng về tăng tuổi thọ. Tuổi thọ bình quân của thế giới đã tăng thêm 20 năm, đạt mức 67,2 tuổi năm 2010 và dự kiến đạt 75,4 tuổi vào năm 2050.

Kết quả là dân số của nhiều quốc gia sẽ già hoá nhanh chóng và số lượng quốc gia phải đối mặt với thực trạng này ngày càng tăng. Thành tựu này cùng với kết quả tăng trưởng dân số trong nửa đầu của thế kỷ XXI, dự báo trong giai đoạn 2005-2050, một nửa lượng dân số gia tăng là do tăng số người trên 60 tuổi (60+), số trẻ em dưới 15 tuổi sẽ giảm nhẹ. Dân số 60+ của thế giới sẽ tăng gấp ba từ 673 triệu (246 triệu sống ở các quốc gia phát triển) năm 2005 lên 2 tỷ vào năm 2050 (406 triệu ở các quốc gia phát triển). Tỷ lệ người cao tuổi tăng từ 10% năm 1998 lên 15% năm 2025 [10].

Già hoá dân số sẽ trở thành một vấn đề lớn ở các nước đang phát triển, nơi mà dân số sẽ bị già hoá nhanh chóng trong nửa đầu của thế kỷ XXI. Các nước đang phát triển sẽ là nơi có tỷ lệ người cao tuổi tăng cao nhất và nhanh nhất, theo dự báo số người cao tuổi ở khu vực này sẽ tăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm tới. Tỷ lệ người cao tuổi theo dự báo sẽ tăng từ 8% lên 19% vào năm 2025, trong khi đó tỷ lệ trẻ em sẽ giảm từ 33% xuống 22%. Hơn một nửa dân số tuổi 80+ sống ở những nước đang phát triển, dự báo sẽ tăng lên 71% vào năm 2050 [10].

Tốc độ già hóa tại các nước đang phát triển ngày càng nhanh hơn tại các nước phát triển (ví dụ Pháp mất khoảng 75 năm còn ở Singapore chỉ mất 19 năm), dẫn đến xảy ra nguy cơ “Già trước khi giàu” chứ không phải “Giàu trước khi già”. Xu hướng già hóa tại Việt Nam Già hoá dân số sẽ là một thách thức lớn mà Việt Nam sẽ phải đối mặt trong thời gian tới. Theo Tổng cục Dân số, Bộ Y tế, mức sinh của nước ta đã giảm mạnh từ trung bình 4,8 con (1979) xuống 2,33 con (1999), và 2,07 con 6 (2007) và nâng tuổi thọ bình quân của Việt Nam từ 68,6 tuổi (1999) lên 72,2 tuổi (2005), dự kiến sẽ là 75 tuổi vào năm 2020. Việt Nam đã bước vào giai đoạn “già hoá dân số” vào năm 2011 (đạt 10,1%).

Người cao tuổi không ngừng tăng lên cả về số tương đối và số tuyệt đối. Tỷ lệ người cao tuổi (60+) trong tổng dân số đã tăng từ 6,9% (1979) lên 9,45% (2007) [6], xấp xỉ ngưỡng dân số già theo qui định của thế giới. Tỷ lệ này dự kiến là 11,24% vào năm 2020, 18,3% năm 2030 và sẽ tăng lên tới 28,5% năm 2050 [7], thuộc vào mức cao trong khối ASEAN sau Singapore (39,8%), Thái Lan (29,8%)[10]. Nếu trong 10 năm (1979-89) số người cao tuổi chỉ tăng lên 930 nghìn người thì trong 10 năm sau, số người cao tuổi tăng thêm là 1,55 triệu người.1: Người cao tuổi ở Việt Nam: Số lượng và tỷ lệ [8] Số dân Số người trên 60 Tỷ lệ người trên Năm (triệu người) tuổi (triệu người) 60 tuổi (%) (1) (2) (3) (4) =( 3): (2) 1979 53,74 3,71 6,90 1989 64,41 4,64 7,20 1999 76,32 6,19 8,12 2007 85,1549 8,05 9,45 2020 99,003 11,125 11,24 Nhịp độ già hoá dân số ở nước ta trong thập niên 90 thế kỷ XX và 10 năm đầu của thế kỷ XXI đã nhanh hơn nhiều so những năm 1980 (từ 25% lên 33% và 35%), cao hơn nhịp độ tăng dân số (dân số tăng 20% và dân số già tăng 25% giai đoạn 1979-89; còn trong giai đoạn 1989-99 các tỷ lệ tương ứng là 18% và 33%).

Nếu nhìn toàn bộ thời kỳ từ 1979 đến 2007, dân số tăng lên 1,61 lần còn dân số cao tuổi tăng 2,17 lần [4]. Tốc độ già hoá của dân số nước ta khoảng 35 năm (tỷ lệ người cao tuổi từ 7% năm 1990 tăng lên 14% năm 2025). 7 So sánh tỷ lệ dân số nhóm 60+ và tỷ lệ dân số trẻ (0-14) cũng cho thấy rõ xu hướng già hoá của dân số Việt Nam. Chỉ số này đã tăng gần gấp rưỡi trong giai đoạn 1989-99 và gần gấp đôi trong 10 năm tiếp theo.

Dự tính đến năm 2030, số người từ 60 tuổi trở lên sẽ vượt số người 0-14 tuổi. Nếu mức sinh tiếp tục giảm, cùng với sự giảm của tỷ lệ chết và mức tăng tuổi thọ trung bình thì nguy cơ già hóa sẽ gia tăng ngày càng nhanh [11].2: Chỉ số già hoá của Việt Nam qua các năm [11] Năm 1979 1989 1999 2007 Chỉ số già hoá (%) 16 17 24 37 % (60+):% (0-14) So với năm 1979, tỷ số phụ thuộc trẻ đã giảm mạnh tới hơn một nửa từ 84,2% xuống còn 39,2% vào năm 2007. Trong cùng thời kỳ, tỷ số phụ thuộc già tăng lên không nhiều từ 13,8% lên 14,5%. Điều đó có nghĩa là tốc độ già hoá dân số nhanh hơn tốc độ tăng của dân số trong độ tuổi lao động, số người sẽ đóng góp chủ yếu cho khối của cải vật chất của xã hội, đổi mới khoa học và công nghệ trong các ngành nghề kinh tế, dịch vụ (tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam tăng từ 50% năm 1979 lên 65% năm 2007, tăng thêm 15%) [13].

NCT phân bố không đều, tập trung tại 3 vùng có đông dân cư nhất trong cả nước là Đồng bằng sông Hồng (27,17%), Đồng bằng sông Cửu Long (19,05%) và Bắc Trung Bộ (15,01%) [11]. Trong 10 năm (1989- 99), số lượng người cao tuổi ở các vùng đều tăng. Đặc điểm cư dân nước ta sống tập trung tại khu vực nông thôn nên đại đa số NCT sống tại nông thôn nên số NCT ở nông thôn cao hơn gấp 3,5 lần khu vực thành thị. Tuy nhiên, do tác động của quá trình đô thị hoá, tỷ lệ dân số già ở khu vực nông thôn đã giảm dần, từ 77,81% (1999) xuống 76,83% (2002) và 73,33% (2004) và sẽ giảm dần lên theo thời gian.3: Phân bố dân số già theo vùng sinh thái [11] Vùng 1989 Tỷ lệ 1999 Tỷ lệ Cả nước 4.999 27,17 Miền núi phía bắc 577.241 12,60 Bắc Trung Bộ và duyên hải 1.291 24,71 miền Trung Tây Nguyên 125.130 3,36 Đông Nam Bộ 575.520 13,11 Tây Nam Bộ 896.4: Số người cao tuổi chia theo nhóm tuổi khu vực thành thị và nông thôn [11] Nhóm Thành thị Nông thôn tuổi Tống số Nam Nữ Tống số Nam Nữ 60-64 409,484 179,982 229,502 1,347,824 589,726 758,098 65-69 367,000 164,733 202,267 1,279,775 560,867 718,908 70-74 262,578 111,897 150,681 947,926 388,625 559,301 75-79 170,797 63,805 106,992 650,952 243,264 407,688 80-84 89,323 30,036 59,287 328,921 114,167 214,754 85+ 62,432 17,505 44,927 228,787 68,614 160,173 Tổng số 1,361,614 567,958 793,656 4,784,185 1,965,263 2,818,922 9 1.

Các biến đổi sinh lý, bệnh lý toàn thân và ở tổ chức quanh răng người cao tuổi 1. Biến đổi sinh lý chung Lão hóa: là quá trình tích lũy các thay đổi của cơ thể theo thời gian, bao gồm thay đổi về sinh lý, tâm lý, xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ