Tổng quan luận án

Phẫu thuật thay khớp gối toàn phần (TKGTP) là phương pháp can thiệp ngoại khoa phổ biến và hiệu quả nhằm điều trị thoái hóa khớp gối giai đoạn tiến triển. Mặc dù kỹ thuật mổ liên tục được cải tiến, y văn ghi nhận vẫn còn khoảng 20% người bệnh chưa thực sự hài lòng sau mổ do tình trạng đau dai dẳng hoặc hạn chế chức năng vận động. Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hạn chế này là sai số trong các lát cắt xương, đặc biệt là lát cắt xác định độ nghiêng và độ xoay của phần lồi cầu xương đùi nhân tạo. Độ nghiêng của thành phần đùi chi phối trực tiếp khả năng khôi phục trục cơ học chi dưới, trong khi độ xoay ảnh hưởng quyết định đến động học khớp chè - đùi, sự cân bằng lực và độ mài mòn của vật liệu nhân tạo.

Trước đây, các trợ cụ định vị cắt xương truyền thống thường mặc định góc xoay ngoài lồi cầu đùi là 3° so với trục nối bờ sau hai lồi cầu (PCA) và góc nghiêng đầu xa xương đùi là một hằng số cố định (khoảng 5° - 6°). Tuy nhiên, nhiều công trình giải phẫu gần đây chứng minh các chỉ số này có sự biến thiên lớn mang tính cá thể, phụ thuộc vào chủng tộc, giới tính cũng như mức độ biến dạng xương sụn. Tại Việt Nam, đa số các công trình công bố trước đây chỉ dừng lại ở việc tổng kết, báo cáo kết quả lâm sàng của kỹ thuật thay khớp mà chưa đi sâu khảo sát các thông số giải phẫu hình ảnh học để ứng dụng cá thể hóa vào từng lát cắt trong phẫu thuật.

Nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu trên, đề tài luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Huy Phương đã được thực hiện với 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Khảo sát góc nghiêng và góc xoay lồi cầu xương đùi dựa trên hình ảnh X-quang toàn trục và cộng hưởng từ, ứng dụng trong thay khớp gối toàn phần.
  2. Đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp gối toàn phần ứng dụng góc nghiêng và góc xoay lồi cầu xương đùi.
  • Tên đề tài: Nghiên cứu điều trị phẫu thuật bệnh lý thoái hoá khớp gối với kỹ thuật thay khớp toàn phần ứng dụng các góc của lồi cầu xương đùi.
  • Tác giả: Nguyễn Huy Phương.
  • Người hướng dẫn khoa học: GS. Trần Trung Dũng.
  • Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Y Hà Nội.
  • Chuyên ngành: Chấn thương chỉnh hình và tạo hình (Mã số: 62720129).
  • Năm hoàn thành: 2021.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán thoái hóa khớp gối nguyên phát hoặc thứ phát có chỉ định phẫu thuật thay khớp gối toàn phần, được theo dõi và đánh giá lâm sàng, cận lâm sàng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đặc điểm cơ sinh học khớp gối, hệ thống các trục giải phẫu và kỹ thuật phẫu thuật thay khớp gối toàn phần:

Hướng nghiên cứu Tác giả & Năm công bố Nội dung và phát hiện chính được trích dẫn
Cơ sinh học khớp gối Gunston (1971) [19] Trục ngang gối không cố định mà di chuyển tạo thành đường cong chữ J khi gấp từ 0° đến 120°, thể hiện sự phối hợp giữa động tác trượt và lăn của mâm chày trên lồi cầu đùi.
Trục giải phẫu lồi cầu đùi Whiteside và cs (1995) [21]
Poilvache và cs [22]
Nagamine và cs [23]
Andrew Park [24]
Benjamin [25]
Phân tích trục trước - sau lồi cầu đùi (APA/Whiteside). Đường vuông góc với APA xoay ngoài khoảng 3,5° so với PCA trên chụp cắt lớp vi tính (Nagamine) và 6,5° trên cộng hưởng từ (Andrew Park). Thiểu sản ròng rọc hoặc thoái hóa nặng diện khớp trong làm tăng sai lệch khi dùng đơn độc trục APA.
Trục liên mỏm trên lồi cầu Olcott và Scott [26]
Nobuyuki Yoshino [27]
Tiezheng Sun [28]
Trục sTEA phản ánh chính xác nhất trục ngang sinh lý của khớp gối và nguyên ủy các dây chằng bên. Tuy nhiên, sTEA chỉ xác định được trên khoảng 80% phim chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ do bị che phủ bởi cấu trúc phần mềm.
Ảnh hưởng của độ xoay ngoài lồi cầu Mark C. Miller [35]
Anouchi [36]
Figgie [37]
Rhoads [38], Sikorski [39]
Bedard [40]
Rienmüller Anna (2012) [41]
Đặt lồi cầu đùi xoay ngoài tối ưu giúp cân bằng áp lực diện khớp chè - đùi và ổn định khớp đùi - chày. Xoay trong hoặc giảm xoay ngoài gây mất vững, đau mặt trước gối và tăng góc Q. Theo dõi 204 khớp gối trong 5 năm cho thấy nhóm có góc xoay 0° - 5° có kết quả chức năng vượt trội so với nhóm >5° hoặc xoay trong.
Khảo sát góc nghiêng lồi cầu đùi (VCA) Kharwadkar và cs (2006) [42]
Deakin AH và cs (2012) [43]
Mahmoud Jabalameli và cs (2014) [44]
Lee CY và cs (2015) [45]
Drexler M và cs (2017) [46]
Góc nghiêng giữa trục cơ học và trục giải phẫu xương đùi dao động từ 5,4° ± 0,9° (Kharwadkar) đến 5,76° (Drexler). Trên người Châu Á, Lee CY ghi nhận góc VCA trung bình là 5° ± 2° với biên độ dao động rộng từ 4° đến 14°.
Thực hành thay khớp gối tại Việt Nam Trương Trí Hữu và Nguyễn Quốc Trị (2010) [73]
Lưu Hồng Hải (2012) [74]
Bùi Hồng Thiên Khanh (2012) [75]
Trần Trung Dũng (2012) [76]
Trần Ngọc Tuấn (2012) [77]
Đoàn Việt Quân (2013) [78]
Các tác giả báo cáo kết quả thay khớp gối khả quan theo thang điểm KSS (điểm KS sau mổ đạt từ 72% đến 88,5 điểm, biên độ vận động trung bình đạt 105° - 113°), phần lớn sử dụng kỹ thuật kinh điển mà chưa đo đạc cá thể hóa góc cắt xương.

Vị trí của luận án: Luận án đã kết nối khoảng trống giữa lý thuyết chẩn đoán hình ảnh hiện đại và thực hành phẫu thuật bằng cách đo lường trực tiếp góc nghiêng (trên X-quang toàn trục) và góc xoay (trên phim cộng hưởng từ) của từng bệnh nhân trước mổ, sau đó hiệu chỉnh trực tiếp trên các khối trợ cụ cắt xương trong phẫu thuật, thay thế cho việc áp đặt các giá trị mặc định cố định.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm định lượng

  1. Trục cơ học chi dưới: Đường thẳng nối từ tâm chỏm xương đùi đến điểm chính giữa khớp cổ chân (khớp chày - sên). Ở chi dưới bình thường, trục này đi qua tâm khớp gối.
  2. Trục giải phẫu xương đùi (FAA): Đường trục chính giữa ống tủy xương đùi. Luận án áp dụng phương pháp nối điểm giữa ống tủy ở 1/2 thân xương đùi đến điểm giữa khe gian lồi cầu theo Morland JR.
  3. Trục cơ học xương đùi (FMA): Đường thẳng nối tâm chỏm xương đùi với điểm giữa khe gian lồi cầu đùi.
  4. Góc nghiêng lồi cầu xương đùi (Valgus Cut Angle - VCA): Góc tạo bởi trục cơ học (FMA) và trục giải phẫu (FAA) của xương đùi, tương đương với góc cắt nghiêng đầu xa xương đùi.
  5. Trục liên mỏm trên lồi cầu đùi phẫu thuật (sTEA): Đường nối điểm nhô nhất của mỏm trên lồi cầu ngoài với rãnh khuyết sâu nhất của mỏm trên lồi cầu trong.
  6. Trục bờ sau hai lồi cầu đùi (PCA): Đường thẳng tiếp tuyến với điểm sau nhất của hai lồi cầu đùi.
  7. Góc xoay của lồi cầu xương đùi: Góc hợp bởi trục sTEA và trục PCA, ký hiệu (sTEA, PCA).
  8. Tiêu chuẩn chẩn đoán và phân độ: Chẩn đoán thoái hóa khớp gối theo tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ (ACR 1991); phân độ tổn thương trên X-quang chịu lực theo phân loại của Kellgren & Lawrence (độ 1 đến độ 4).

Thiết kế và phương tiện nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu lâm sàng tiến cứu, mô tả cắt ngang có can thiệp và theo dõi dọc kết quả điều trị.
  • Phương tiện thu thập số liệu:
    • Hệ thống chụp X-quang kỹ thuật số với cassette toàn trục chuyên dụng kích thước 35 × 110 cm để chụp tư thế đứng chịu lực toàn bộ chi dưới.
    • Chụp X-quang tiếp tuyến khớp chè - đùi theo kỹ thuật Merchant để đo góc nghiêng xương bánh chè.
    • Máy chụp cộng hưởng từ (CHT) với các chuỗi xung Spin-echo, Fast spin-echo (FSE), Gradient-echo (GRE) và chuỗi xung 3D trên các mặt phẳng đứng dọc, đứng ngang và cắt ngang (thời gian thăm khám khoảng 30 phút).
    • Bộ dụng cụ phẫu thuật thay khớp gối toàn phần cho phép hiệu chỉnh độ nghiêng lát cắt đầu xa và độ xoay ngoài của lồi cầu đùi; khớp gối nhân tạo loại cắt bỏ hoặc bảo tồn dây chằng chéo sau gắn bằng xi măng sinh học.
  • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:
    • Đo đạc góc nghiêng VCA trên phim X-quang toàn trục và góc xoay (sTEA, PCA) trên phim cộng hưởng từ trước mổ.
    • Ứng dụng số đo vào phẫu thuật: điều chỉnh góc nghiêng trên nòng nội tủy đầu xa xương đùi; điều chỉnh chốt định vị xoay ngoài trên khuôn cắt bờ trước - sau lồi cầu theo góc (sTEA, PCA) đã đo.
    • Đánh giá kết quả sau mổ tại các thời điểm 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và theo dõi xa dựa trên thang điểm KSS (Knee Score - KS, Knee Functional Score - KFS), thang điểm đau VAS, biên độ gấp duỗi khớp gối và các thông số phục hồi trục trên X-quang toàn trục và X-quang Merchant.
    • Dữ liệu được quản lý và xử lý bằng phần mềm thống kê y học chuyên dụng.
  • Khía cạnh đạo đức: Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học, bảo đảm tính tự nguyện và bảo mật thông tin của người bệnh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này trình bày chi tiết cơ sở giải phẫu định khu của khớp gối bao gồm cấu trúc đầu dưới xương đùi, mâm chày, xương bánh chè, 5 hệ thống dây chằng giữ khớp (dây chằng bên chày, bên mác, hệ thống phía trước, phía sau, dây chằng chéo và dây chằng sụn chêm) và lưu ý đường đi của bó mạch khoeo cùng thần kinh mác chung ở phía sau ngoài. Tác giả phân tích cơ sinh học trục chuyển động khớp gối và hệ thống các mốc trục giải phẫu lồi cầu đùi (APA, aTEA, sTEA, PCA, FAA, FMA).

Nội dung chương tổng hợp cơ chế bệnh sinh của thoái hóa khớp gối qua hai thuyết cơ học và thuyết tế bào, các nguyên nhân gây đau khớp và tiêu chuẩn chẩn đoán theo ACR 1991 cùng phân loại giai đoạn X-quang của Kellgren & Lawrence. Chương 1 cũng phân tích chi tiết cấu tạo khớp nhân tạo, chỉ định, chống chỉ định của phẫu thuật TKGTP, so sánh chuyên sâu giữa hai kỹ thuật mổ kinh điển: kỹ thuật cắt xương độc lập (Measured resection technique) và kỹ thuật cân bằng khoảng (Gap balancing technique), đồng thời điểm qua vai trò của hệ thống định vị Navigation và Robot trong phẫu thuật thay khớp.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả tường minh tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân (thoái hóa khớp gối độ 3, độ 4 theo Kellgren & Lawrence có chỉ định mổ TKGTP) và tiêu chuẩn loại trừ (bệnh nhân có tiền sử nhiễm trùng khớp gối, liệt vận động chi dưới, cứng khớp gối hoàn toàn hoặc biến dạng quá mức không thể đo đạc chính xác các mốc giải phẫu). Tác giả trình bày chi tiết quy trình kỹ thuật đo góc VCA trên phim X-quang toàn trục và đo góc (sTEA, PCA) trên phim CHT khớp gối.

Quy trình phẫu thuật được chuẩn hóa từng bước:

  1. Mở khớp theo đường rạch da giữa, mở bao khớp cạnh trong xương bánh chè, bộc lộ toàn bộ khớp gối và cắt bỏ gai xương.
  2. Khoan định vị ống tủy xương đùi, đặt bộ trợ cụ cắt đầu xa xương đùi được điều chỉnh góc cắt nghiêng ngoài chính xác theo số đo VCA của từng bệnh nhân.
  3. Cắt mâm chày vuông góc với trục cơ học xương chày trong mặt phẳng trán và dốc sau theo thiết kế của loại khớp.
  4. Gắn trợ cụ tỳ bờ sau 2 lồi cầu đùi, thiết lập góc xoay ngoài lồi cầu đùi chính xác theo chỉ số góc (sTEA, PCA) đã đo trên CHT trước mổ, sau đó tiến hành cắt các lát cắt trước, sau và lát cắt vát chéo.
  5. Cân bằng phần mềm, kiểm tra khoảng gấp và khoảng duỗi, tạo rãnh khay mâm chày, chuẩn bị mặt khớp xương bánh chè, đặt thử khớp nhân tạo để kiểm tra độ vững và tầm vận động.
  6. Lắp đặt khớp nhân tạo chính thức bằng xi măng sinh học, đặt dẫn lưu và đóng vết mổ theo lớp.
  7. Áp dụng quy trình chăm sóc hậu phẫu và tập phục hồi chức năng vận động sớm sau mổ với máy tập thụ động (CPM).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các kết quả định lượng thu được từ nhóm bệnh nhân nghiên cứu:

  • Đặc điểm chung: Phân tích phân bố theo nhóm tuổi, giới tính, chỉ số thể trạng (BMI), thời gian phát hiện bệnh và tỷ lệ thoái hóa khớp gối một bên hoặc hai bên.
  • Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước mổ: Đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS, mức độ hạn chế vận động, cứng khớp buổi sáng, biến dạng vẹo trục chi dưới; phân bố gai xương và mức độ hẹp khe khớp trên X-quang; điểm KS và KFS trước mổ.
  • Chỉ số góc giải phẫu lồi cầu đùi đo trước mổ: Báo cáo giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và sự phân bố của góc nghiêng lồi cầu đùi (VCA) trên phim X-quang toàn trục chi dưới; giá trị trung bình và khoảng biến thiên của góc xoay lồi cầu đùi (sTEA, PCA) đo trên phim CHT khớp gối.
  • Kết quả trong mổ: Phương pháp vô cảm, thời gian phẫu thuật trung bình, lượng máu mất và các đặc điểm giải phẫu quan sát trực tiếp trong phẫu thuật.
  • Kết quả sau mổ (gần và xa): Đánh giá sự cải thiện góc vẹo trục cơ học chi dưới (FMA, TMA) và góc chè - đùi trên X-quang sau mổ; sự phục hồi biên độ gấp duỗi khớp gối; so sánh điểm KS và KFS tại các thời điểm sau mổ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và theo dõi xa; tổng kết tỷ lệ kết quả chung theo thang điểm KSS và các tai biến, biến chứng ghi nhận.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung phân tích và đối chiếu kết quả nghiên cứu với các công trình trong và ngoài nước:

  • Phân tích mối liên quan giữa tuổi tác, thể trạng và mức độ tổn thương thoái hóa khớp gối ở bệnh nhân Việt Nam.
  • Bàn luận sâu về sự phân bố và tính biến thiên của góc nghiêng VCA và góc xoay (sTEA, PCA), khẳng định tính không hằng định của các góc này và sự cần thiết phải đo đạc cá thể hóa thay vì áp đặt góc cố định 3° hay 5° - 6°.
  • Phân tích ưu điểm cơ sinh học của việc điều chỉnh góc cắt xương đùi theo giải phẫu cá thể: giúp khôi phục chính xác trục cơ học chi dưới, cân bằng hoàn hảo khoảng gấp - duỗi, tối ưu hóa đường trượt của xương bánh chè trên rãnh ròng rọc nhân tạo và giảm thiểu tối đa áp lực lệch tâm lên khay mâm chày.
  • Đánh giá sự cải thiện rõ rệt về điểm đau, thang điểm KS, KFS và tầm vận động khớp gối sau mổ, đồng thời phân tích các yếu tố liên quan đến việc phục hồi chức năng sớm và kiểm soát biến chứng sau phẫu thuật.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  1. Cung cấp bộ dữ liệu khoa học định lượng về các chỉ số giải phẫu lồi cầu xương đùi (góc nghiêng VCA đo trên X-quang toàn trục và góc xoay lồi cầu đùi đo trên cộng hưởng từ) trên nhóm bệnh nhân thoái hóa khớp gối người Việt Nam.
  2. Chứng minh trên thực nghiệm lâm sàng rằng góc xoay và góc nghiêng của lồi cầu xương đùi có sự biến thiên cá thể rõ rệt, bác bỏ quan điểm áp dụng góc cố định hằng định cho tất cả các đối tượng phẫu thuật.

Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng

  1. Xây dựng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật thay khớp gối toàn phần ứng dụng cá thể hóa các góc của lồi cầu xương đùi dựa trên sự phối hợp giữa hình ảnh học trước mổ (X-quang toàn trục, cộng hưởng từ) và thao tác hiệu chỉnh dụng cụ cắt xương trong mổ.
  2. Kỹ thuật giúp khôi phục tối ưu trục cơ học chi dưới, cân bằng áp lực khớp chè - đùi, cải thiện tầm vận động khớp gối, nâng cao điểm số chức năng khớp (KSS), giảm đau sau mổ và giảm thiểu nguy cơ mài mòn sớm khớp nhân tạo.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đề xuất áp dụng quy trình chụp X-quang toàn trục chi dưới đứng chịu lực và chụp cộng hưởng từ khớp gối như các thăm dò thường quy trước phẫu thuật TKGTP tại các cơ sở chấn thương chỉnh hình có đủ điều kiện trang thiết bị.
  • Khuyến cáo phẫu thuật viên luôn đo đạc góc VCA và góc xoay (sTEA, PCA) của từng bệnh nhân để hiệu chỉnh bộ trợ cụ cắt xương tương ứng, tránh việc sử dụng thông số mặc định nhằm tối ưu hóa kết quả điều trị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu đòi hỏi cơ sở y tế phải được trang bị máy chụp X-quang toàn trục (với tấm cassette lớn) và máy chụp cộng hưởng từ, điều này có thể gây khó khăn khi triển khai rộng rãi ở các tuyến y tế cơ sở.
    • Thời gian theo dõi bệnh nhân trong khuôn khổ luận án chủ yếu tập trung vào kết quả ngắn hạn và trung hạn (đến 6 tháng và theo dõi mở rộng), cần thêm thời gian để đánh giá độ bền cơ học dài hạn (trên 10 - 15 năm) của khớp nhân tạo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục theo dõi dọc nhóm bệnh nhân nghiên cứu trong thời gian dài (5 năm, 10 năm, 15 năm) để đánh giá tỷ lệ sống còn của khớp gối nhân tạo và mức độ mài mòn của lớp đệm Polyethylene.
    • Mở rộng nghiên cứu ứng dụng các góc giải phẫu lồi cầu đùi kết hợp với công nghệ tạo hình khuôn cắt 3D cá thể hóa (Patient-Specific Instrumentation - PSI) hoặc hệ thống phẫu thuật có định vị Navigation và Robot hỗ trợ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho:

  • Bác sĩ Chấn thương chỉnh hình: Cung cấp hướng dẫn kỹ thuật thực hành từng bước để đo đạc và hiệu chỉnh góc cắt đầu xa cũng như góc xoay ngoài lồi cầu đùi trong phẫu thuật TKGTP.
  • Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học (Bác sĩ nội trú, Cao học, Chuyên khoa II): Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu cơ sinh học khớp gối, kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu và thang điểm lượng giá kết quả phẫu thuật khớp.
  • Các nhà nghiên cứu cơ sinh học và thiết kế dụng cụ y tế: Cung cấp dữ liệu nhân trắc học giải phẫu khớp gối người Việt Nam phục vụ công tác nghiên cứu, cải tiến thiết kế các thế hệ khớp gối nhân tạo và trợ cụ phẫu thuật phù hợp với thể trạng người Châu Á.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao góc xoay của lồi cầu xương đùi lại có vai trò quyết định đối với kết quả thay khớp gối toàn phần?

Góc xoay của lồi cầu đùi quyết định hướng của lát cắt bờ trước - sau xương đùi và vị trí đặt thành phần đùi nhân tạo. Nếu lồi cầu đùi bị đặt xoay trong hoặc giảm xoay ngoài, góc Q sẽ tăng, làm gia tăng lực ép của xương bánh chè lên lồi cầu trong hoặc gây trật xương bánh chè ra ngoài, dẫn đến đau mặt trước khớp gối dai dẳng và mất vững khớp khi gấp. Đặt xoay ngoài tối ưu giúp xương bánh chè trượt êm ái trên rãnh ròng rọc và phân bố tải trọng đồng đều lên diện khớp.

2. Góc nghiêng của lồi cầu xương đùi (VCA) được xác định như thế nào trên phim X-quang?

Góc nghiêng của lồi cầu xương đùi (VCA) được xác định là góc tạo bởi trục cơ học của xương đùi (FMA - đường nối tâm chỏm xương đùi với điểm giữa khe gian lồi cầu) và trục giải phẫu của xương đùi (FAA - đường trục chính giữa lòng tủy xương đùi) trên phim chụp X-quang toàn trục chi dưới đứng chịu trọng lực.

3. Vì sao không nên sử dụng góc xoay ngoài mặc định 3° so với trục PCA cho tất cả bệnh nhân?

Mặc dù góc (sTEA, PCA) trung bình trong quần thể thường xấp xỉ 3°, nhưng trên thực tế góc này có sự biến thiên lớn giữa các cá thể và thay đổi tùy theo mức độ thoái hóa hoặc mòn biến dạng bờ sau lồi cầu trong/ngoài. Việc áp đặt mặc định 3° ở những bệnh nhân có giải phẫu bất thường hoặc biến dạng vẹo khớp nặng sẽ gây sai lệch vị trí đặt khớp nhân tạo, dẫn đến mất cân bằng khoảng gấp và hạn chế tầm vận động.

4. Phương pháp chụp cộng hưởng từ (CHT) đóng vai trò gì trong việc xác định góc xoay lồi cầu đùi?

Chụp CHT cho phép tái hiện chi tiết và chính xác cấu trúc mô mềm cùng các mốc giải phẫu xương của đầu dưới xương đùi trên các mặt phẳng không gian. Trên các lát cắt ngang CHT, phẫu thuật viên có thể xác định rõ ràng trục liên mỏm trên lồi cầu phẫu thuật (sTEA) và trục bờ sau hai lồi cầu (PCA), từ đó đo đạc chính xác góc xoay (sTEA, PCA) của từng bệnh nhân trước khi tiến hành phẫu thuật.


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Huy Phương đã giải quyết một vấn đề kỹ thuật then chốt trong phẫu thuật thay khớp gối toàn phần bằng việc khảo sát có hệ thống góc nghiêng (trên X-quang toàn trục) và góc xoay (trên cộng hưởng từ) của lồi cầu xương đùi ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối. Việc ứng dụng cá thể hóa các chỉ số giải phẫu này vào từng lát cắt xương trong mổ đã giúp khôi phục chính xác trục cơ học chi dưới, cân bằng động học khớp chè - đùi và khớp đùi - chày, mang lại sự cải thiện rõ rệt về chức năng vận động và giảm đau sau phẫu thuật. Công trình là tài liệu khoa học chuyên sâu, đóng góp giá trị lý luận và thực tiễn quan trọng cho chuyên ngành Chấn thương chỉnh hình và tạo hình tại Việt Nam.