Nghiên cứu điều trị phẫu thuật thoái hóa khớp gối bằng thay khớp toàn phần - Luận án tiến sĩ của Nguyễn Huy Phương

Thay khớp gối toàn phần là phương pháp phẫu thuật hiệu quả cho bệnh nhân thoái hóa khớp nặng. Nội dung bài viết giới thiệu chi tiết kỹ thuật, lợi ích, quy

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2021

173
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thoái hóa khớp gối và kỹ thuật thay khớp toàn phần

Thoái hóa khớp gối là bệnh lý xương khớp phổ biến nhất ở người trung niên và cao tuổi. Bệnh gây đau đớn, hạn chế vận động và giảm chất lượng cuộc sống. Tại Việt Nam, tỷ lệ thoái hóa khớp gối ngày càng gia tăng do quá trình già hóa dân số. Khi điều trị bảo tồn không còn hiệu quả, phẫu thuật thay khớp gối toàn phần trở thành lựa chọn tối ưu. Kỹ thuật này thay thế bề mặt sụn khớp bị tổn thương bằng khớp nhân tạo. Thành công của phẫu thuật phụ thuộc lớn vào việc xác định chính xác các góc giải phẫu của lồi cầu xương đùi. Góc xoay ngoài và góc nghiêng của lồi cầu đóng vai trò then chốt trong việc định vị chính xác thành phần đùi nhân tạo. Nghiên cứu của Nguyễn Huy Phƣơng (2021) đã chỉ ra tầm quan trọng của việc ứng dụng các góc này để cải thiện kết quả phẫu thuật. Bài viết phân tích toàn diện về chủ đề này theo luận án tiến sĩ y học.

1.1. Định nghĩa và dịch tễ học thoái hóa khớp gối

Thoái hóa khớp gối là quá trình thoái triển của sụn khớp, kèm theo phản ứng viêm và thay đổi cấu trúc xương dưới sụn. Bệnh biểu hiện qua đau khi vận động, cứng khớp buổi sáng và giảm biên độ vận động. Dịch tễ học cho thấy hơn 50% người trên 65 tuổi mắc thoái hóa khớp gối. Tại Việt Nam, nghiên cứu trên bệnh nhân thay khớp gối tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho thấy độ tuổi trung bình phẫu thuật là 63-68 tuổi. Nữ giới mắc bệnh nhiều hơn nam giới với tỷ lệ khoảng 2:1.

1.2. Nguyên lý kỹ thuật thay khớp gối toàn phần

Thay khớp gối toàn phần bao gồm việc loại bỏ sụn khớp và một phần xương bị tổn thương, sau đó thay thế bằng ba thành phần nhân tạo: thành phần đùi, thành phần mâm chày và miếng chêm nhựa. Nguyên lý cốt lõi là khôi phục trục cơ học của chi dưới và cân bằng phần mềm quanh khớp. Thành phần đùi phải được đặt ở vị trí có góc xoay ngoài và góc nghiêng phù hợp với giải phẫu từng bệnh nhân. Sai lệch vị trí dẫn đến đau, cứng khớp và giảm tuổi thọ khớp nhân tạo.

II. Phân tích vai trò các góc lồi cầu xương đùi trong phẫu thuật

Các góc giải phẫu của lồi cầu xương đùi đóng vai trò quyết định đến tính chính xác của phẫu thuật thay khớp gối toàn phần. Góc xoay ngoài của lồi cầu đùi xác định sự cân bằng trong xoay của thành phần đùi nhân tạo. Nghiên cứu cho thấy góc xoay ngoài lý tưởng nằm trong khoảng 0 đến 5 độ. Khi góc xoay ngoài lớn hơn 5 độ hoặc bị xoay trong, chức năng khớp gối sau phẫu thuật kém hơn rõ rệt. Rienmüller Anna (2018) theo dõi 204 khớp gối trong 5 năm, chứng minh rằng 98 khớp có góc xoay ngoài 0-5 độ cho kết quả tốt hơn 106 khớp còn lại. Góc nghiêng của lồi cầu đùi được xác định bởi góc giữa trục giải phẫu và trục cơ học xương đùi. Kharwadkar (2006) ghi nhận góc nghiêng trung bình 5,4 độ. Deakin AH (2012) báo cáo 5,7 độ. Mahmoud Jabalameli (2014) nghiên cứu trên 100 người. Việc xác định chính xác các góc này trước mổ giúp cá thể hóa phẫu thuật cho từng bệnh nhân.

2.1. Góc xoay ngoài của lồi cầu xương đùi và ảnh hưởng kết quả

Góc xoay ngoài của lồi cầu đùi được đo bằng nhiều phương pháp: trục trước-sau lồi cầu (APA), trục Whiteside, đường liên lồi cầu sau (PCA). Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng. Nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội sử dụng phần mềm đo góc trên ảnh CT scan. Kết quả cho thấy góc xoay ngoài trung bình ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối là 3,2±1,8 độ. Giá trị này gần với góc 3 độ external rotation tiêu chuẩn khi lắp đặt thành phần đùi nhân tạo. Sai lệch góc xoay ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến sự cân bằng dây chằng bên và biên độ vận động.

2.2. Góc nghiêng của lồi cầu xương đùi và ứng dụng lâm sàng

Góc nghiêng lồi cầu đùi (valgus angle) là góc giữa trục giải phẫu xương đùi (FAA) và trục cơ học xương đùi (FMA). Góc này quyết định độ nghiêng của lát cắt trên xương đùi trong phẫu thuật. Giá trị trung bình được ghi nhận là 5-7 độ. Ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối, góc nghiêng có thể thay đổi do biến dạng xương. Việc đo góc nghiêng trước mổ trên ảnh X-quang toàn chi giúp xác định chính xác góc cắt xương đùi. Ứng dụng lâm sàng bao gồm lập kế hoạch phẫu thuật cá thể hóa và dự đoán kích thước thành phần nhân tạo phù hợp.

III. Phương pháp phẫu thuật thay khớp toàn phần ứng dụng góc lồi cầu

Nghiên cứu đề xuất hai phương pháp phẫu thuật chính: kỹ thuật cân bằng khoảng và kỹ thuật có hỗ trợ hệ thống định vị Navigation. Kỹ thuật cân bằng khoảng dựa trên nguyên tắc cân bằng phần mềm trước khi cắt xương. Phương pháp này xác định góc xoay của thành phần đùi theo khoảng cách cân bằng bên trong-bên ngoài. Kết quả nghiên cứu cho thấy 11/20 khớp gối sử dụng loại bảo tồn dây chằng chéo sau (CR) và 9/20 khớp loại cắt bỏ dây chằng chéo sau (PS). Không có trường hợp nào chênh lệch hai lồi cầu lớn hơn 1mm. Mức độ chênh lên cao tối đa chỉ 0,9mm, thấp hơn nhiều so với kỹ thuật cắt xương chuẩn. Hệ thống định vị Navigation sử dụng camera quang học, máy tính và màn hình để mô phỏng và kiểm soát các thông số giải phẫu trong mổ. Navigation giúp đường mổ nhỏ hơn, xâm lấn tối thiểu và các lát cắt chính xác hơn. Trục cơ học chi dưới gần như được khôi phục tuyệt đối.

3.1. Kỹ thuật cân bằng khoảng trong thay khớp gối toàn phần

Kỹ thuật cân bằng khoảng (gap balancing technique) xác định vị trí cắt xương dựa trên sự cân bằng phần mềm quanh khớp gối. Bước đầu tiên là cắt mâm chày theo trục cơ học. Sau đó, bác sĩ thực hiện cân bằng gian phần mềm ở tư thế duỗi và gập. Dựa trên khoảng cách cân bằng, góc xoay của thành phần đùi được xác định. Ưu điểm lớn nhất là đảm bảo sự cân đối của khoảng gian phần mềm, giảm nguy cơ đau và cứng khớp sau mổ. Nhược điểm là có thể thay đổi độ cao khớp và mất mốc giải phẫu gốc.

3.2. Hệ thống định vị Navigation hỗ trợ phẫu thuật

Hệ thống Navigation trong thay khớp gối toàn phần bao gồm camera hồng ngoại, cảm biến và phần mềm tính toán. Thiết bị cho phép phẫu thuật viên thấy được vị trí cắt xương trên màn hình thời gian thực. Các nghiên cứu chứng minh Navigation cải thiện độ chính xác trục cơ học chi dưới, giảm tỷ lệ sai lệch trục ngoài 3 độ. Đường mổ nhỏ hơn với xâm lấn phần mềm tối thiểu. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho rằng giá trị thực của Navigation đối với kết quả lâm sàng và độ bền khớp nhân tạo chưa được khẳng định rõ ràng. Thời gian phẫu thuật kéo dài hơn và chi phí cao hơn.

IV. Kết luận và ứng dụng lâm sàng của nghiên cứu

Nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng của các góc giải phẫu lồi cầu xương đùi trong phẫu thuật thay khớp gối toàn phần. Góc xoay ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả cuối cùng của phẫu thuật. Giá trị góc xoay ngoài nằm trong khoảng 0-5 độ cho kết quả chức năng tốt hơn hẳn. Việc xác định góc xoay trước mổ và cá thể hóa theo từng bệnh nhân giúp cải thiện tính chính xác. Góc nghiêng lồi cầu đùi trung bình khoảng 5-7 độ, cần được đo chính xác trước phẫu thuật. Kỹ thuật cân bằng khoảng cho kết quả khả quan với mức chênh lệch tối thiểu. Hệ thống Navigation là bước tiến quan trọng nhưng cần thêm nghiên cứu về hiệu quả kinh tế-xã hội. Ứng dụng lâm sàng bao gồm lập kế hoạch phẫu thuật 3D, in mẫu xương 3D và hướng dẫn cắt xương cá thể hóa. Kết luận này mở ra hướng nghiên cứu mới về phẫu thuật cá thể hóa trong điều trị thoái hóa khớp gối tại Việt Nam.

4.1. Kết quả chính của luận án nghiên cứu

Luận án của Nguyễn Huy Phƣơng (2021) đã thu thập dữ liệu trên bệnh nhân thoái hóa khớp gối tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Xanh Pôn. Kết quả cho thấy góc xoay ngoài trung bình của lồi cầu đùi là 3,2±1,8 độ. Góc nghiêng trung bình đạt 5,4±0,9 độ. Kỹ thuật cân bằng khoảng cho tỷ lệ cân bằng phần mềm đạt 95%. Không có biến chứng nghiêm trọng nào được ghi nhận trong thời gian theo dõi. Chức năng khớp gối cải thiện rõ rệt sau phẫu thuật 6 tháng.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng tại Việt Nam. Bác sĩ phẫu thuật có thể sử dụng các giá trị góc trung bình làm tham chiếu khi lập kế hoạch mổ. Phần mềm đo góc trên ảnh CT scan giúp cá thể hóa phẫu thuật cho từng bệnh nhân. Hướng phát triển bao gồm xây dựng cơ sở dữ liệu góc giải phẫu cho người Việt Nam, phát triển phần mềm hỗ trợ phẫu thuật và ứng dụng in 3D trong tạo mẫu phẫu thuật. Nghiên cứu cũng đặt nền tảng cho đào tạo phẫu thuật viên chuyên sâu về thay khớp gối.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều trị phẫu thuật bệnh lý thoái hoá khớp gối với kỹ thuật thay khớp toàn phần ứng dụng

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Thay khớp gối toàn phần (TKGTP) điều trị thoái hóa khớp là phẫu thuật ngày càng phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới. Tuy nhiên vẫn có tỷ lệ khá cao (khoảng 20%) ngƣời bệnh không hài lòng vì vẫn còn đau hoặc khó khăn trong vận động sau phẫu thuật do nhiều nguyên nhân khác nhau [1],[2]. Một trong các nguyên nhân đó là chƣa đạt đƣợc độ chính xác của các lát cắt xƣơng. Trong đó lát cắt quyết định độ nghiêng và độ xoay của phần đùi là hai yếu tố cực kỳ quan trọng, ảnh hƣởng trực tiếp đến kết quả của thay khớp gối.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng độ xoay của phần đùi không đúng có thể dẫn đến các biến chứng nhƣ đau khớp chè đùi, hạn chế chức năng gối và tăng độ mòn của vật liệu khớp nhân tạo [3],[4]. Độ nghiêng của phần đùi thì ảnh hƣởng trực tiếp đến việc khôi phục trục cơ học chi dƣới sau mổ [5],[6]. Lát cắt xƣơng đầu dƣới xƣơng đùi để thiết lập độ xoay của phần đùi căn cứ vào 3 trục giải phẫu là: trục xuyên mỏm trên lồi cầu đùi phẫu thuật (surgical Transepicodylar axis - sTEA), trục nối bờ sau của hai lồi cầu đùi (Posterior Condylar axis - PCA) và trục nối bờ trƣớc - sau lồi cầu đùi (AnteroPosterior axis - APA) [7],[8],[9]. Trục sTEA đƣợc đánh giá là phản ánh chính xác nhất trục ngang sinh lý của khớp gối nhƣng lại khó xác định và đánh dấu trong quá trình phẫu thuật [10], vì thế trục PCA thƣờng đƣợc sử dụng hơn để thiết kế trợ cụ cắt xƣơng [11].

Góc (sTEA, PCA) là góc xoay của lồi cầu xƣơng đùi. Nhiều nghiên cứu đánh giá góc (sTEA, PCA) trung bình là 3º, tức là trục ngang của khớp gối xoay ngoài khoảng 3º so với trục PCA [7],[8]. Tuy nhiên một số nghiên cứu gần đây lại nhận thấy rằng góc này không hằng định mà thay đổi mang tính cá thể, phụ thuộc vào chủng tộc ngƣời, cũng nhƣ mức độ thoái hoá và biến dạng của khớp gối [12],[13]. 2 Bên cạnh đó, góc nghiêng của lồi cầu xƣơng đùi đƣợc tính tƣơng đƣơng với góc đƣợc tạo bởi giữa trục cơ học và trục giải phẫu của xƣơng đùi cũng rất quan trọng, góc này quyết định đến lát cắt đầu xa xƣơng đùi và ảnh hƣởng trực tiếp đến việc khôi phục trục cơ học của chi dƣới.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng góc nghiêng này có sự khác nhau giữa các bệnh nhân và trục cơ học chi dƣới có thể không đƣợc khôi phục tốt nếu sử dụng một góc nghiêng hằng định để cắt xƣơng đầu xa xƣơng đùi [14],[15]. Vì vậy việc điều chỉnh cá thể hoá góc cắt nghiêng và xoay trên từng bệnh nhân khác nhau đƣợc kỳ vọng sẽ cải thiện tính chính xác của phẫu thuật thay khớp gối toàn phần, từ đó giúp khôi phục trục cơ học chi dƣới, giảm đau và tăng độ bền khớp nhân tạo sau mổ tốt hơn. Tại nƣớc ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về thay khớp gối toàn phần nhƣng chủ yếu vẫn là báo cáo kết quả phẫu thuật mà chƣa chú trọng đến nghiên cứu các chỉ số giải phẫu để ứng dụng vào kỹ thuật mổ. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài "Nghiên cứu điều trị phẫu thuật bệnh lý thoái hoá khớp gối với kỹ thuật thay khớp toàn phần ứng dụng các góc của lồi cầu xương đùi” với 2 mục tiêu: 1.

Khảo sát góc nghiêng và góc xoay lồi cầu xương đùi dựa trên hình ảnh X.quang toàn trục và cộng hưởng từ, ứng dụng trong thay khớp gối toàn phần. Đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp gối toàn phần ứng dụng góc nghiêng và góc xoay lồi cầu xương đùi. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm giải phẫu khớp gối Khớp gối là một khớp phức hợp bao gồm 2 khớp [16],[17]: - Giữa xƣơng đùi và xƣơng chày (thuộc loại khớp lồi cầu).

- Giữa xƣơng đùi và xƣơng bánh chè (thuộc loại khớp phẳng). Cấu trúc xương - Đầu dƣới xƣơng đùi: có lồi cầu trong to hơn và thấp hơn lồi cầu ngoài. Mặt trƣớc hai lồi cầu hơi phẳng, mặt sau tròn nhƣ một phần hình cầu. So với thân xƣơng đùi, hai lồi cầu ở phía sau nhiều hơn.

Giữa hai lồi cầu là rãnh. - Mâm chày: không nằm trong mặt phẳng ngang mà phía sau thấp hơn phía trƣớc, làm một góc 20º với mặt phẳng này. Mặt khớp mâm chày trong phẳng và thấp hơn mâm chày ngoài; mặt khớp mâm chày ngoài hơi trũng. - Xƣơng bánh chè: có dạng tam giác.

Mặt khớp có hai diện trong và ngoài, phân cách bởi một gờ. Diện trong nhỏ hơn ngoài. Khi gối duỗi, diện ngoài bánh chè tiếp xúc hoàn toàn với mặt khớp lồi cầu ngoài đùi. Chỉ lúc gối gấp hoàn toàn, diện trong bánh chè mới tiếp xúc sát và tạo lực ép lớn nhất lên mặt khớp lồi cầu trong đùi.

Hệ thống dây chằng giữ khớp Có 5 hệ thống dây chằng: - Các dây chằng bên: + Dây chằng bên chày đi từ mỏm trên lồi cầu trong xƣơng đùi xuống dƣới và ra trƣớc bám vào đầu trên xƣơng chày. + Dây chằng bên mác đi từ mỏm trên lồi cầu ngoài xƣơng đùi xuống dƣới và ra sau bám vào chỏm xƣơng mác. Giải phẫu xương và hệ thống dây chằng khớp gối (Nguồn: Netter F. [18]) - Các dây chằng phía trƣớc: + Dây chằng bánh chè.

+ Mạc giữ bánh chè trong. + Mạc giữ bánh chè ngoài. - Các dây chằng phía sau: + Dây chằng khoeo chéo là một chẽ quặt ngƣợc của gân cơ bán mạc, đi từ trong ra ngoài và lên trên, bám vào vỏ lồi cầu ngoài xƣơng đùi. + Dây chằng khoeo cung đi từ chỏm xƣơng mác tỏa thành 2 bó bám vào xƣơng chày và xƣơng đùi, tạo thành một vành cung có cơ khoeo đi qua.

- Các dây chằng bắt chéo ở hố gian lồi cầu: + Dây chằng chéo trƣớc đi từ lồi cầu ngoài tới diện gian lồi cầu trƣớc. + Dây chằng chéo sau đi từ lồi cầu trong tới diện gian lồi cầu sau. 5 Hai dây chằng bắt chéo thành hình chữ X, rất chắc giữ cho khớp gối không bị trật theo chiều trƣớc sau. - Các dây chằng sụn chêm: + Dây chằng ngang gối nối 2 sừng trƣớc của sụn chêm với nhau.

+ Dây chằng chêm đùi trƣớc là một số sợi của dây chằng bắt chéo trƣớc, đi từ lồi cầu ngoài xƣơng đùi tới bám vào sừng trƣớc của sụn chêm trong. + Dây chằng chêm đùi sau là một số sợi của dây chằng bắt chéo sau đi từ lồi cầu trong xƣơng đùi tới bám vào sụn chêm ngoài. Thần kinh, mạch máu Khi làm KGTP chú ý toàn bộ thần kinh, mạch máu lớn của gối đều nằm phía sau. Gần nhất với phẫu trƣờng là động mạch, xa hơn là tĩnh mạch và xa nhất là thần kinh.

Ngoài ra, trên và dƣới là bó mạch gối. Phía ngoài có thần kinh mác chung rất dễ bị tổn thƣơng, đặc biệt ở các trƣờng hợp gối biến dạng vẹo ngoài nhiều. Đặc điểm cơ sinh học khớp gối 1. Trục ngang gối Trục ngang gối là một đƣờng ngang tƣởng tƣợng song song với mặt đất, qua đó, trong quá trình gấp duỗi, mâm chày (MC) trƣợt trên lồi cầu đùi (LCĐ) và lấy trục ngang gối làm trục tâm chuyển động.

Theo Gunston [19] trong quá trình gấp duỗi gối trục này không duy nhất, mà tại mỗi vị trí cẳng chân so với đùi có một trục ngang gối khác nhau. Khi gấp gối từ 0° đến 120° các trục này tạo thành hình chữ J. Nhƣ vậy là mâm chày vừa trƣợt, vừa lăn trên LCĐ trong quá trình gấp duỗi gối. Trục ngang gối tạo thành hình chữ J khi gối gấp từ 0-120° [19] 1.

Các trục giải phẫu của lồi cầu xương đùi Các mốc xƣơng ở đầu dƣới xƣơng đùi tạo nên 3 trục giải phẫu của LCĐ là: trục trƣớc - sau lồi cầu đùi (Anterior-Posterior axis - APA), trục liên mỏm trên lồi cầu đùi (TransEpicondylar Axis - TEA) và trục nối bờ sau của 2 lồi cầu đùi (Posterial Condylar axis - PCA) [20]. Chúng tôi xin phép đƣợc giữ nguyên chữ viết tắt tiếng Anh của các trục này để tiện cho việc trình bày và theo dõi trong luận án. Trục trước- sau lồi cầu đùi Trục trƣớc - sau LCĐ (Trục APA hay còn gọi là trục Whiteside) là đƣờng nối điểm thấp nhất của hõm ròng rọc ở phía trƣớc với điểm cao nhất của mái liên lồi cầu đùi. Trục APA phụ thuộc vào giải phẫu bình thƣờng của hõm ròng rọc và mái liên lồi cầu ở đầu xa xƣơng đùi [21].

Các trục giải phẫu xương đùi [20] 7 Tác giả Whiteside và cộng sự [21] nhận thấy rằng, khi đặt trục ngang khớp gối vuông góc với trục APA, các biến chứng của khớp đùi chè giảm có ý nghĩa so với khi đặt các trục này song song với trục PCA và đề xuất lấy trục APA là trục đáng tin cậy để sử dụng trong trƣờng hợp gối bị vẹo ngoài. Không giống nhƣ PCA, APA vẫn có thể đƣợc sử dụng trong trƣờng hợp phần xƣơng phía sau lồi cầu bị mòn hoặc thiểu sản, tuy nhiên, trong các trƣờng hợp khớp gối bị thoái hóa nặng, xuất hiện nhiều các chồi xƣơng làm khó xác định chính xác trục này. Poilvache và cộng sự [22] thấy rằng sự thiểu sản nặng của ròng rọc gây ra xoay ngoài quá mức của đầu dƣới xƣơng đùi. Nagamine [23] và cộng sự cũng lƣu ý rằng, đƣờng vuông góc với APA ở gối bình thƣờng xoay ngoài khoảng 3,5° so với PCA trên chụp cắt lớp vi tính ở 84 khớp gối, và xoay ngoài hơn ở những trƣờng hợp thoái hóa nặng diện khớp đùi chày trong.

Andrew Park [24] khi nghiên cứu trên 114 khớp gối và đo đạc trên MRI, tác giả cũng nhận xét rằng đƣờng vuông góc với APA tạo với trục ngang gối một góc xoay ngoài 6,5° và khoảng biến thiên của góc này rất lớn. Việc sử dụng đơn độc APA ở những bệnh nhân thoái hóa khớp đùi - chày trong làm xoay ngoài quá mức xƣơng đùi và do đó, sẽ làm mất vững khớp gối khi gấp. Benjamin thấy rằng, APA có thể sử dụng để xác định trục ngang gối với sai lệch 1° trong 26% các trƣờng hợp [25]. Trục liên mỏm trên lồi cầu đùi Có 2 trục liên mỏm trên LCĐ khác nhau: trục liên mỏm trên LCĐ giải phẫu (anatomical Transepicodylar axis - aTEA) là đƣờng nối điểm lồi nhất của mỏm trên lồi cầu ngoài với điểm lồi nhất mỏm trên lồi cầu trong; trục liên mỏm trên LCĐ phẫu thuật (surgical Transepicodylar axis - sTEA) là đƣờng nối điểm lồi nhất của mỏm trên lồi cầu ngoài với với rãnh khuyết sâu nhất mỏm trên lồi cầu trong (hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ