Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về bồ hòn 1. Giới thiệu chung về bồ hòn Bồ hòn có tên khoa học là Sapindus mukorossi Gaertn, thuộc họ bồ hòn Sapindaceae [2]. Giới: Plantae Nhóm: Tracheobionta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Magnoliophyta Họ: Sapindaceae Chi: Sapindus L Giống: Morida Loài: Sapindus mukorossi Geartn [15].
1 Bồ hòn [39] Bồ hòn có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo mỗi vùng miền, đất nước. Tên nước ngoài như soap-nutree, soap-berry (Anh); savonnette, savounier (Pháp); reetha, aritha, dodan, doadni (Ấn Độ). Ở Việt Nam, bồ hòn được gọi là vô hoạn, bòn hòn, mộc hoạn tử, mác hón (Tày); co hón (Thái); thụ, lai patt (dân tộc núi Bà Rá - Biên Hòa) [1,2,39] Bồ hòn phân bố rải rác ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, nhất là khu vực Nam Á, Ấn Độ, Srilanca và Malaysia. Ở Ấn Độ, quả bồ hòn được sử dụng như xà phòng, hơn nữa nó còn được xuất khẩu sang một số nước lân cận như Iran, Arap Saudi, Somali và Madagasca [1].
Đây là một loại cây rụng lá được trồng rộng rãi ở vùng cao của đồng bằng Ấn Độ, Shivaliks và các dãy núi thuộc dãy Himalaya ở độ cao từ 200m đến 1500m [16]. SVTH: Lê Thị Thùy Trang GVHD: Nguyễn Thị Đông Phương 3 Nghiên cứu khảo sát hoạt tính một số enzyme của chế phẩm sinh học được tạo thành từ quá trình lên men bồ hòn kết hợp với rác thải hữu cơ Ở Việt Nam, bồ hòn phân bố rải rác hầu hết các tỉnh thuộc vùng núi thấp (thường dưới 1000m) và trung du, được trồng khắp các tỉnh miền Bắc, nhất là ở Bắc Giang, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hà Tây, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang [1,2]. Đặc điểm thực vật của cây bồ hòn Bồ hòn là loại cây gỗ to ưa sáng, cao 5 - 10m hoặc hơn, rụng lá vào mùa khô. Vỏ cây có màu tối sậm, có nhiều đường sọc và những vết nứt không đều nhau.
Lá kép mọc so le, đầu nhọn, mép nguyên, gân nổi rõ ở cả hai mặt. Cụm hoa mọc ở đầu cành thành chùm, gồm rất nhiều hoa nhỏ, màu lục nhạt. Quả có hình cầu, đường kính khoảng 1 - 2 cm, màu vàng xanh nhạt. Khi chín, vỏ ngoài nhăn nheo, có màu vàng nâu nhạt, bên trong chứa một hạt hình cầu màu đen, dễ dàng tách rời khi trái khô.
2 Một số hình ảnh đặc điểm thực vật của bồ hòn [16,40] Bồ hòn có thể phát triển trên nhiều loại đất khác nhau, chịu được hạn, không chịu được úng và ra hoa quanh năm. Mùa quả chín thường trùng với thời kì lá rụng, vào khoảng tháng 10 – 11 [1,2]. Thành phần hóa học của bồ hòn Quả bồ hòn là nguồn nguyên liệu giàu saponin. Trong thịt quả có tới 18% saponin.
Các saponin chiết xuất từ bồ hòn có hoạt tính bề mặt mạnh, ngoài tính năng tẩy rửa còn có tính kháng khuẩn mạnh [3]. Cấu trúc của saponin chứa steroid, triterpenoid tan trong chất béo và một hoặc nhiều chuỗi carbohydrate tan trong nước. Ngoài ra, saponin có khả năng tạo bọt tuyệt vời và bọt tạo thành rất ổn định [35]. Nhờ vào các đặc tính trên, saponin được ứng dụng hiệu quả để tạo chất tẩy rửa tự nhiên.
Chất tẩy rửa tự nhiên có nguồn gốc từ bồ hòn đang ngày càng trở nên khá phổ biến ở Đài Loan và toàn cầu [33]. SVTH: Lê Thị Thùy Trang GVHD: Nguyễn Thị Đông Phương 4 Nghiên cứu khảo sát hoạt tính một số enzyme của chế phẩm sinh học được tạo thành từ quá trình lên men bồ hòn kết hợp với rác thải hữu cơ Hạt bồ hòn chứa 9-10% dầu béo [1]. Hàm lượng đường trong trái bồ hòn khoảng 10% [40]. Tác dụng dược lý của bồ hòn 1.1 Ngăn ngừa ung thư Tác dụng ức chế sự hình thành khối u nhờ vào các cấu trúc khác nhau của thành phần saponin [16].2 Bảo vệ gan Chiết xuất từ bồ hòn được kết hợp rheum emodi có khả năng bảo vệ gan bị tổn thương của con chuột do tetrachloride carbon - CCl4 [16].3 Giảm căng thẳng Chiết xuất methanolic của bồ hòn (20 - 40 mg/l) có tác dụng giúp giảm căng thẳng đáng kể [16].4 Diệt vi khuẩn Chiết xuất ethanolic và chloroform của bồ hòn đã ức chế sự phát triển của Helicobacter pylori ở nồng độ rất thấp (2,5 µg/ml), khi dùng cho chuột đực uống trong 7 ngày.
Cao chiết với nước quả bồ hòn có tác dụng ức chế sự phát triển của Staphylococcus aureus. Staphylococus Pyogenes, Staphylococus Viridans và ức chế yếu các vi khuẩn: Diplococcus pneumoniae và Corynebacterium diphteriae [3].5 Diệt côn trùng Saponin có hoạt tính diệt côn trùng, ức chế sự tăng trưởng ở côn trùng. Thử nghiệm thì chỉ với 0,1% saponin đã có thể giết chết loài rệp sáp Acyrthosiphon pisum. Do đó, saponin có thể được sử dụng như một chất tự nhiên để kiểm soát côn trùng gây hại, phù hợp với nông nghiệp hiện đại và làm vườn [16].6 Diệt nấm Chiết xuất thô của bồ bòn có thể ức chế sự tăng trưởng mạnh mẽ của nấm men gây ra bệnh nấm Candida ở da [16].7 Chống Trichomonas Saponin ức chế khả năng bám vào tế bào Hela và làm giảm hoạt động phân giải protein của protease cysteine của ký sinh trùng [16].
Tổng quan về vỏ dứa và vỏ thanh trà 1. Vỏ dứa Vỏ dứa là nguồn tiềm năng để chiết xuất các hợp chất hoạt tính sinh học có lợi [17]. Vỏ dứa chứa hàm lượng đáng kể đường, các hợp chất phenolic, axit ferulic và SVTH: Lê Thị Thùy Trang GVHD: Nguyễn Thị Đông Phương 5 Nghiên cứu khảo sát hoạt tính một số enzyme của chế phẩm sinh học được tạo thành từ quá trình lên men bồ hòn kết hợp với rác thải hữu cơ vitamin A và C là nguồn chất chống oxy hóa tiềm năng, chất xơ cao và chất đạm. Đặc biệt, vỏ dứa cũng cung cấp lượng enzyme protease tiềm năng cao [18].
Các hợp chất polyphenolic bao gồm: acid gallic (31,76 mg/100g chiết xuất khô), catechin (58,51 mg/100g), epicatechin (50,00 mg/100g) và axit ferulic (19,50 mg/100g) với các đặc tính sinh lý như: chống dị ứng, chống viêm, chống vi khuẩn, chống oxy hóa …[17]. 1 Thành phần gần đúng của vỏ dứa (g/100g vỏ khô) [19] Hàm lượng Protein Lipid Tro Cellulose Carbohydrates (g/100g quả tươi) thô 9,17±0,67 5,11±0,02 5,31±0,74 4,39±0,14 14,80±0,01 37,49±0,74 Bảng 1. 2 Thành phần khoáng chất của vỏ dứa (mg/100g vỏ khô) [19] Thành phần khoáng chất Canxi Kẽm Sắt Mangan 8. Vỏ thanh trà Vỏ thanh trà giàu các hợp chất hoạt tính sinh học, trong đó chứa hàm lượng cao naringin có vị đắng; flavone có hoạt tính chống viêm, chống oxy hóa.
Các thành phần khác cũng có tính ứng dụng cao: Nomilin có tác dụng ức chế ung thư da. Limonoid với đặc tính chống côn trùng được ứng dụng trong thuốc trừ sâu an toàn sinh học để kiểm soát dịch hại trong nông nghiệp và góp phần giảm ô nhiễm môi trường [32]. Vỏ thanh trà chứa chứa sắc tố tự nhiên flavonoid, carotenoid tác dụng chống oxy hóa và khử độc tố [32]. Ngoài ra, vỏ thanh trà giàu hợp chất hóa học terpenoid gọi là D-limonene chiếm hơn 90% tổng lượng tinh dầu, là chất tạo mùi thơm, được ứng dụng làm hương liệu và trong chất tẩy rửa [48].
Nó còn là một chất ức chế lên men, với hàm lượng cao có thể ức chế vi khuẩn phát triển [20,21]. Tinh dầu vỏ thanh trà có mùi thơm tự nhiên đặc trưng với tỷ lệ khoảng 0,80- 0,84% chủ yếu tạo nên từ các thành phần aldehydes, alcohols, xetones, este terpenoids, acid citric [3,13]. Vỏ giàu chiết xuất pectin, khoảng 30% theo khối lượng khô có độ bền gel [4,22]. Đã có nhiều nghiên cứu về tính ứng dụng đa dạng của vỏ này: được xem là phương pháp mới, chi phí thấp, vỏ thanh trà chứa chất hấp phụ khá hiếm ứng dụng trong việc hấp phụ thuốc nhuộm Reactive Blue 114 [23].
Aerogel carbon có nguồn gốc từ vỏ thanh trà có SVTH: Lê Thị Thùy Trang GVHD: Nguyễn Thị Đông Phương 6 Nghiên cứu khảo sát hoạt tính một số enzyme của chế phẩm sinh học được tạo thành từ quá trình lên men bồ hòn kết hợp với rác thải hữu cơ khả năng hấp thụ hiệu quả nhiều loại chất ô nhiễm/dầu hữu cơ [15]. Ứng dụng làm nguyên liệu sản xuất ethanol hiệu quả thông qua quá trình lên men [22]. Với các thành phần và đặc tính như trên thì vỏ dứa và vỏ thanh trà là nguyên liệu hiệu quả để tạo GE có tính khử trùng tốt, an toàn, có mùi thơm dễ chịu và tạo được độ đặc cho sản phẩm GE. Tổng quan về enzyme từ rác thải – garbage enzyme (GE) 1.
Khái niệm về GE Sản phẩm lên men từ rác thải hữu cơ được phát triển bởi nhà nghiên cứu Tiến sĩ Rosukon Poompanvong từ Thái Lan vào năm 2003 với hơn 30 năm nghiên cứu và khuyến khích sản xuất, sử dụng nhằm hạn chế sự nóng lên toàn cầu. Đây là một hỗn hợp phức tạp màu nâu sẫm gồm: chuỗi protein (enzyme), acid hữu cơ và muối khoáng được tạo ra dễ dàng từ quá trình lên men rác thải hữu cơ (vỏ trái cây, rau), đường (đường nâu hoặc mật rỉ) và nước với tỷ lệ tương ứng là 3 : 1 :10 trong 3 tháng. Các chức năng của GE là phân giải, biến đổi, kết hợp và xúc tác [21,40]. Bản chất của GE Quá trình tạo GE thực chất là quá trình chuyển hóa nguồn carbohydrate có trong dung dịch lên men có thể là một hỗn hợp hòa tan (glucose, fructose và sucrose) và không hòa tan (cellulose và hemicellulose) dưới tác động của các nhóm vi sinh vật khác nhau hiện diện trên vỏ trái cây nguyên liệu hoặc nhiễm từ môi trường ngoài vào [21].
GE được xem như là dung dịch thô chủ yếu chứa các enzyme thủy phân, là chất xúc tác sinh học các phản ứng sinh hóa như amylase, protease, lipase, pectinase [21]. Do đó, dịch lọc GE có thể được sử dụng làm chất tẩy rửa, loại bỏ vết bẩn giúp giảm việc sử dụng chất tẩy rửa hóa học thương mại. Còn cặn tách ra có thể được sử dụng cho các đợt lên men tiếp theo hoặc làm phân bón [21]. Lợi ích của GE GE là một chất lỏng đa năng, được ứng dụng rộng rãi trong hộ gia đình, nông nghiệp và cả chăn nuôi …[41].
Cụ thể GE có công dụng như: vệ sinh đồ gia dụng, giặt áo quần; loại bỏ vết bẩn, mùi hôi; làm sạch rau quả và trái cây; xử lý tắc nghẽn ống cống; thuốc chống côn trùng, phân bón cho cây trồng…Trong đó, enzyme tạo ra trong GE được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp và công nghiệp [21].