mở đầu để tái bản, tức là có khả năng tái bản tích cực, không phụ thuộc vào sự sao chép của bộ gen tế bào chủ; các thể biến nạp phải dễ dàng được chọn lọc và sinh trưởng tốt trên môi trường thạch. Khả năng chọn lọc được mã hóa 16 bởi các gen chọn lọc, thường có đặc tính kháng với chất kháng sinh (Khuất Hữu Thanh, 2006 [31]). Ngoài ra, vector tách dòng sẽ được xem là càng mạnh khi có thêm các ưu điểm sau đây: có kích thước nhỏ để có thể thu nhận được tối đa lượng ADN, dễ xâm nhập vào tế bào chủ và sao chép nhanh; tồn tại được qua nhiều thế hệ trong tế bào chủ và ít gây xáo trộn đối với quá trình trao đổi chất của tế bào chủ; mang các vị trí nhận biết duy nhất của nhiều loại enzyme giới hạn, và vị trí đó nằm trong các gen chọn lọc. Trong số các loại vector hiện có thì plasmid được sử dụng phổ biến nhất do dễ dàng nhân lên trong tế bào chủ và có kích thước nhỏ (1 - 200 kb).
Các thế hệ plasmid ngày càng được cải tiến và mang các đặc tính mới, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tách dòng. - Các loại vector tách dòng Khuất Hữu Thanh (2003) [30] cho biết, mỗi loại vector tách dòng có những ưu, nhược điểm nhất định. Tùy thuộc kích thước của gen cần tách dòng và đặc điểm của loại tế bào chủ để chọn loại vector tách dòng thích hợp. Vector tách dòng có bản chất là plasmid Plasmid là những phân tử ADN có kích thước nhỏ (2 - 5 kb) dạng vòng, nằm trong nguyên sinh chất của tế bào vi khuẩn, nấm men.Một số loại vector tách dòng thường được sử dụng như pCR 2.1 là vector tách dòng đang được sử dụng phổ biến, có hiệu quả cao, với ưu điểm nổi bật là có thể gắn trực tiếp sản phẩm pCR vào vector đã được cắt mở vòng do có sẵn hai đầu dính, mỗi đầu có một bazơ Timin.1 có kích thước 3,9 kb, mang điểm khởi đầu tái bản của plasmid pUC nên có khả năng nhân lên với số lượng rất lớn trong tế bào vi khuẩn E.
Vector được thiết kế có gắn một operon chuyển hóa đường lactoza là operon - lac. Sau vị trí promoter là đoạn LacZα mã hóa cho 146 axit amin đầu tiên của enzyme β - galactosidase, là vùng cắt gắn đa vị được thiết kế trên đoạn này với 17 vị trí cắt cho các enzyme giới hạn: EcoRI, HindIII, NsiI, KpnI, SacI, BamHI, SpeI, BstXI, EcoRV, NotI, AvaI, PaeR7I, XhoI, XbaI, ApaI. Trong đó, EcoRI và BstXI có 17 2 vị trí cắt, các enzyme còn lại chỉ có 1 vị trí cắt. Với vị trí của vùng cắt đa điểm như vậy, sản phẩm β - galactosidase có thể được tạo ra (nếu vector không được dính đoạn ADN ngoại lai, khuẩn lạc màu xanh) hoặc không được tạo ra (nếu vector được dính đoạn ADN ngoại lai và khuẩn lạc có màu trắng trên môi trường thạch).
Dựa vào dấu chuẩn đó, người ta có thể lựa chọn được những tế bào mang vector tái tổ hợp với tần suất cao. Một ưu điểm nữa của pCR 2.1 là nó mang promoter của thực khuẩn thể T và các vị trí gắn mồi xuôi và ngược của thực khuẩn thể M13, nhờ đó có thể phiên mã được đoạn ARN antisense và đọc trình tự đoạn ADN. Ngoài ra, vector pCR 2.1 có chứa gen kháng kháng sinh ampicillin và kanamycin, nhờ đó mà có thể sinh trưởng bình thường trên môi trường có chứa ampicillin hoặc kanamycin với nồng độ ức chế tối thiểu.1 18 Vector tách dòng là phage Các phage sử dụng làm vector tách dòng hiện nay phần lớn đều bắt nguồn từ phage cosADN. Phage cosADN là phage mạch kép, kích thước 48.
Sử dụng phage làm vector tách dòng hiệu quả với tế bào chủ prokaryote và eukaryote (các plasmid sử dụng với tế bào eukaryote thường không có kết quả). Ví dụ: các loại phage M13, phage EMBL4, phage GEM. Vector tách dòng là cosmid Cosmid là vector nhân tạo, ghép nối từ một plasmid với đoạn trình tự cos của phage. Trình tự cos điều khiển sự gắn kết ADN của phage vào phần đầu của phage.
Vector tách dòng là cosmid cho phép cài gắn đoạn ADN có kích thước 40 - 50 kb. Vector tách dòng là phagemid Phagemid là các cloning vector được cấu tạo trên cơ sở của vector tách dòng plasmid pBR322 được gắn thêm đoạn khởi đầu tái bản (Ori) của phage fl, một đoạn có chứa promoter của phage T3, T7 và polycloning site - vị trí đa tách dòng. Điển hình cho phagemid là nhóm plasmid bluescript, là loại plasmid mạnh được sử dụng nhiều trong công nghệ ADN tái tổ hợp. Kỹ thuật biểu hiện gen Trong tế bào sống, biểu hiện gen được hiểu là quá trình sinh tổng hợp protein trong mối liên hệ: ADN → ARN → protein, protein là sản phẩm cuối cùng của quá trình này.
Trong kỹ thuật di truyền, biểu hiện gen là hiện tượng protein của gen ngoại lai được tổng hợp trong tế bào chủ. Vector biểu hiện gen là những vector tách dòng mang các promoter mạnh, cho phép biểu hiện đồng thời cả gen chỉ thị và gen tách dòng, tạo nên các protein lai. Một vector biểu hiện gen gồm các thành phần chủ yếu: promoter mạnh, trình tự sao chép, vị trí khởi đầu phiên mã, vị trí bám của riboxom, tín hiệu kết thúc dịch mã, các trình tự cắt nối và các gen chỉ thị. Các hệ thống biểu hiện gen Biểu hiện gen tái tổ hợp là kỹ thuật quan trọng quyết định tính thành bại của kỹ thuật gen.
Hiện nay, có 4 hệ thường được sử dụng biểu hiện gen là Escherichia coli, Baculovirus, nấm men (Saccharomyces cerevisiae, Pichia pastoris) và tế bào 19 động vật. Tuy nhiên, vi khuẩn E. coli và nấm men là hai hệ biểu hiện chính hiện đang được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và ứng dụng (Đái Duy Ban và Lữ Thị Cẩm Vân, 1994 [1]). Biểu hiện gen trong tế bào vi khuẩn Vi khuẩn E.
coli là tế bào chủ được ưa chuộng nhất trong biểu hiện gen, do mang nhiều ưu điểm hơn so với các tế bào khác. coli có tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng biểu hiện protein tái tổ hợp mạnh, chỉ sau khoảng 8 giờ nuôi cấy ở điều kiện thích hợp đã có sản phẩm protein tái tổ hợp, khả năng tạo ra sản phẩm gen cao từ 50 - 500 mg/lít dịch nuôi cấy. Biểu hiện gen trong tế bào vi khuẩn E. coli có thể làm giảm các chi phí cho công nghệ và hóa chất nên giá thành sản phẩm hạ.
Cấu trúc bộ gen E. coli và các đặc điểm di truyền đã được biết tương đối đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi khi biểu hiện protein tái tổ hợp ở E. coli có thể biểu hiện tốt các loại protein không biến đổi cấu trúc phân tử sau khi dịch mã và không có quá trình glycosyl hóa. Có rất nhiều chủng vi khuẩn E.
coli được sử dụng trong biểu hiện gen, trong đó chủng E. coli BL21 là một trong những chủng E. coli được sử dụng rộng rãi để biểu hiện các loại gen khác nhau. Theo Khuất Hữu Thanh (2006) [31], ngoài những ưu điểm trên, việc sử dụng vi khuẩn E.
coli trong biểu hiện gen cũng có những hạn chế nhất định. Các gen mã hóa các loại protein có kích thước lớn hơn 50 kDa, protein giàu cystein (ví dụ như gen mã hóa plasminogen) hoặc những sản phẩm protein có sự hình thành liên kết disunfua (S - S) rất khó biểu hiện gen trên vi khuẩn E. Một số chủng vi khuẩn E. coli có thể gây bệnh hoặc có thể tạo độc tố khi biểu hiện gen của sinh vật bậc cao.
Biểu hiện gen trong tế bào nấm men Nấm men là nhóm tế bào chủ cũng được sử dụng rộng rãi trong biểu hiện gen của sinh vật bậc cao. Nấm men có nhiều ưu điểm như: cho phép sử dụng cả hai loại vector biểu hiện trong prokaryote và trong eukaryote; có thể biểu hiện protein kích thước lớn 50 kDa; có cấu trúc bộ gen đã được nghiên cứu đầy đủ và không gây bệnh cho sinh vật bậc cao. 20 Nấm men có khả năng tạo sản phẩm nhanh, chỉ sau khoảng 8 giờ nuôi cấy đã có sản phẩm protein tái tổ hợp, hiệu suất biểu hiện gen khá cao (50 - 5000 mg/lít dịch nuôi cấy). Các vector biểu hiện trong tế bào nấm men thường có promoter AOX (gen alcohol oxidase) rất mạnh, có khả năng kiểm soát gen cần biểu hiện cao.
Biểu hiện gen trong tế bào nấm men có thể thực hiện các phản ứng glycosyl hóa chính xác, phản ứng cắt chuỗi tín hiệu hoặc thay đổi cấu trúc protein sau dịch mã (Khuất Hữu Thanh, 2003 [30]). Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 1. Tình hình nghiên cứu trong nước * Những nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng Kiểm tra máu của 73 trâu ở xã Tả Thanh Oai - Thanh trì - Hà Nội bằng phương pháp tiêm truyền chuột bạch, Nguyễn Quốc Doanh và cs. (1996) [4] đã phát hiện 13 trâu có T.
evansi trong máu, chiếm 17,80%. Tác giả cũng đã kiểm tra mẫu máu của 83 trâu ở xã Phấn Mễ bằng phương pháp Card - test, phát hiện 25 trâu nhiễm bệnh, chiếm 30,12%. Hà Viết Lượng (1998) [25] cho biết, tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở bò tại các tỉnh miền Trung là 8,99%. Nguyễn Quốc Doanh và Phạm Sỹ Lăng (2001) [5] đã kiểm tra 670 mẫu máu rắn và 90 mẫu máu ba ba, thấy tỷ lệ nhiễm T.
evansi trung bình là 7,89%. (2013) [79] đã xét nghiệm 585 mẫu huyết thanh trâu thu thập được tại Thái Nguyên và Cao Bằng, kết quả cho thấy: có 131 mẫu dương tính với tiên mao trùng, chiếm tỷ lệ 22,4%. Trong đó, trâu dưới 3 năm tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp nhất. Thu thập 484 mẫu huyết thanh trâu ở 5 tỉnh miền Bắc Việt Nam để xác định tỷ lệ nhiễm T.
evansi bằng phản ứng CATT và ELISA, Nguyen T. (2014) [80] đã phát hiện được 27,1% số mẫu dương tính với T. 21 Kiểm tra mẫu máu một số loài gia súc của các tỉnh Thái Nguyên, Hòa Bình, Lạng Sơn, Lai Châu, Khánh Hòa và Tây Ninh, Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2014) [15] cho biết, tỷ lệ nhiễm T.
evansi của các loại gia súc ở các tỉnh không giống nhau. Tỷ lệ nhiễm T. evansi cao nhất ở trâu (15,58%), sau đó đến bò (12,94%), ngựa (10,26%), dê (9,52%) và thấp nhất là ở lợn (0,99%). Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Kim Lan và cs.
(2014) [16] cho thấy, các chủng T. evansi phân lập từ các loài gia súc khác nhau (trâu, bò, dê, ngựa, lợn) đều có khả năng gây nhiễm chéo cho nhau. Tuy nhiên, thời gian xuất hiện T. evansi trong máu, tỷ lệ gia súc xuất hiện T.