CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số tư liệu về loài chó 1. Nguồn gốc loài chó Theo một số nghiên cứu của các nhà khoa học thì tổ tiên của loài chó nhà hiện nay là một số loài chó sói sống hoang dã ở các vùng sinh thái khác nhau trên thế giới. Cách đây khoảng 15.000 năm con người đã thuần hoá với mục đích phục vụ cho việc săn bắt, sau đó là giữ nhà và là bạn với con người.
Tại Việt Nam, theo các nhà khảo cổ học, chó được nuôi từ trung kỳ đồ đá mới, khoảng 3000 - 4000 năm trước công nguyên (cách đây 5 - 6 nghìn năm). Tập hợp những giống chó nhà được nuôi hiện nay trên thế giới có khoảng 400 giống, được gọi chung là loài chó nhà (Canis familiaris), thuộc họ chó (Canidae), bộ ăn thịt (Carnivora), lớp động vật có vú (Mammilia). Chó là loài động vật rất gần gũi với con người, chúng có thể làm được nhiều công việc khác nhau như dẫn đường cho người mù hay chó nghiệp vụ. Ngày nay chó được quan tâm, chăm sóc và đặc biệt là được chú ý hơn trong việc phòng và trị bệnh.
Một số giống chó chính trên thế giới Trên thế giới có khoảng 150 giống chó và được chia thành 7 nhóm: Chó thông minh, chó làm việc, chó thể thao, chó săn, chó chăn giữ gia súc, chó cảnh. Một số giống chó nuôi ở Việt Nam 1. Các giống chó địa phương Theo Nguyễn Văn Thanh và cs. (2012) các giống chó địa phương được nuôi phổ biến bao gồm: - Giống chó Vàng: Đây là giống chó nuôi phổ biến nhất, có tầm vóc trung bình, cao 50 - 55cm, nặng 12 - 15kg, là giống chó săn được nuôi để giữ nhà, săn thú và làm thực phẩm.
Chó phối giống được ở độ tuổi 15 - 18 tháng. Luan van 4 Chó cái sinh sản được ở độ tuổi 12 - 14 tháng. Mỗi lứa chó cái đẻ 4 - 7 con, trung bình 5 con. - Giống chó H'Mông: Sống ở miền núi cao, được dùng giữ nhà và săn thú, có tầm vóc lớn hơn chó Vàng, chiều cao 55 - 60cm, nặng 18 - 20kg.
Chó đực phối giống được ở 16 - 18 tháng tuổi, chó cái sinh sản ở độ tuổi 12 - 15 tháng. Chó cái mỗi lứa đẻ 5 - 8 con, trung bình 6 con. - Giống chó Phú Quốc: Màu nâu xám, bụng thon, trên lưng lông mọc có hình xoắn, hay lật theo kiểu rẽ "ngôi", lông vàng xám có các đường kẻ chạy dọc theo thân, tầm vóc tương tự chó Lào. Chó cao 60 - 65cm; nặng 20 - 25kg.
Chó đực phối giống được ở độ tuổi 15 - 18 tháng. Chó cái sinh sản ở độ tuổi 12 - 15 tháng. Mỗi lứa chó cái đẻ 4 - 6 con, trung bình 5 con. Chó Phú Quốc được xếp vào loại chó quý ở Việt Nam, nó có đặc tính là rất trung thành với chủ.
Một số giống chó nhập ngoại - Giống chó Berger Đức: Berger Đức (German sheperd) còn có các tên gọi khác" Alratian, Deutsthe, Shaperhund; có nguồn gốc từ Đức, được nhập vào nước ta từ những năm 1960 do Bộ nội vụ (nay là Bộ Công An). Chó có tầm vóc tương đối lớn so với các giống chó nước ta, dài 110 - 112cm, cao từ 56 - 65cm đối với chó đực và từ 62 - 66cm đối với chó cái; trọng lượng từ 28 - 37kg. Bộ lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và mõm, đầu, ngực và bốn chân có màu vàng sẫm. Người ta thường dùng giống chó này làm chó nghiệp vụ trong lực lượng cảnh sát hình sự và bảo vệ an ninh biên giới trong bộ đội biên phòng (Phạm Sỹ Lăng và cs.
- Giống chó Dobermann: Theo Nguyễn Văn Thanh và cs. (2012), chó Dobermann có nguồn gốc từ Đức được phát hiện ra vào năm 1866 và được nhập vào nước ta nuôi với mục đích để canh gác, tìm kiếm và làm cảnh. Luan van 5 Chó có tầm vóc trung bình cao, cao 65 - 69cm, dài 110 - 112cm, nặng 30 - 33kg. Chó có bộ lông ngắn đen sẫm gần như toàn thân; mõm, ngực, 4 chân có màu vàng sẫm.
Có đầu hình nêm, hơi thô, mũi rộng mắt đen, hàm răng chắc, cắn khít; cổ to khoẻ; ngực nở, bụng thon; cơ chi chắc khoẻ, đuôi ngắn. - Giống chó Rottweiler: Giống chó Rottweiler (Rottweiler Metzgerhund), được phát hiện năm 1800, có nguồn gốc từ thành phố nhỏ Rottweiler của nước Đức. Được sử dụng chủ yếu vào việc chăn giữ gia súc và bảo vệ tài sản. Ngày nay nó được sử dụng trong trinh sát trong lực lượng cảnh sát và bộ đội biên phòng.
Chó có tầm vóc lớn, cao: 68cm; nặng 42kg; lông ngắn đen toàn thân, mõm bụng và bốn chân vàng sẫm; bốn chân vững chắc, đầu to không dài, hai mắt sáng, khoảng cách 2 mắt không xa (Nguyễn Văn Thanh và cs. Một số đặc điểm sinh lý của chó 2. Thân nhiệt (oC) Thân nhiệt của chó ở trạng thái sinh lý bình thường là 38 - 39oC. Khi trong tình trạng bệnh lý thân nhiệt có sự thay đổi tùy vào tính chất và mức độ bệnh.
Ngoài ra, nhiệt độ của cơ thể chó còn phụ thuộc vào các yếu tố như giới tính (con cái thì thân nhiệt thường cao hơn con đực), tuổi (con non có thân nhiệt cao hơn con trưởng thành), mức độ vận động (vận động nhiều thì thân nhiệt cao hơn), con vật có thai thân nhiệt cũng cao hơn bình thường. Kết quả kiểm tra thân nhiệt sẽ giúp sơ bộ chẩn đoán được nguyên nhân, tính chất và mức độ tiên lượng, đánh giá hiệu quả điều trị bệnh tốt hay xấu. Thông qua việc kiểm tra thân nhiệt của chó ta có thể xác định được con vật có bị sốt hay không: Nếu thân nhiệt tăng 1 – 2oC là sốt nhẹ, tăng 2 – 3oC là hiện tượng sốt cao (Hồ Văn Nam và Phạm Ngọc Thạch, 1997). Tần số hô hấp (số lần thở/phút) Tần số hô hấp là số lần thở trong 1 phút, thường đếm số lần hô hấp trong 2 - 3 phút sau đó lấy bình quân.
Chú ý hõm hông, thành ngực, thành bụng thoi thóp, xương cánh mũi hoạt động khi con vật thở để tính tần số hô hấp. Tần số hô hấp phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất, tuổi, tầm vóc, trạng thái dinh dưỡng, trạng thái làm việc, trạng thái sinh lý, thời tiết, khí hậu và tình trạng bệnh lý. Ở trạng thái sinh lý bình thường, tần số hô hấp trung bình của chó là 10 - 30 lần/phút. Chó con có tần số hô hấp từ 18 - 20 lần/phút, chó trưởng thành, giống chó to có tần số hô hấp từ 10 - 20 lần/phút, chó nhỏ có tần số hô hấp 20 - 30 lần/phút (Hồ Đình Chúc, 1993).
Tần số tim (lần/phút) Tần số tim mạch là số lần co bóp của tim trong 1 phút (lần/phút). Khi tim đập thì mỏm tim hoặc thân tim chạm vào thành ngực. Vì vậy mà ta có thể dùng ống nghe áp vào thành ngực vùng tim để nghe được tiếng tim. Khi tim co bóp sẽ đẩy một lượng máu vào động mạch làm mạch quản mở rộng, thành mạch căng cứng.
Sau đó nhờ vào tính đàn hồi, mạch quản tự co bóp lại cho đến thời kỳ co tiếp theo tạo nên hiện tượng động mạch đập. Dựa vào tính chất này ta có thể tính được nhịp độ mạch sẽ tương đương với mạch tim đập. Tần số tim ở chó khi trong trạng thái sinh lý bình thường: chó nhỏ 100 - 130 lần/phút, chó lớn 70 - 100 lần/phút (Nguyễn Văn Thanh và cs. Một vài chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trên chó trưởng thành Máu có nhiều chức năng quan trọng trong cơ thể như vận chuyển oxy trong quá trình hô hấp, vận chuyển chất dinh dưỡng, hấp thu từ ống tiêu hóa đến mô bào và nhận các chất cặn bã đến các cơ quan bài tiết thải ra ngoài, điều hòa thân nhiệt, điều hòa và duy trì cân bằng nội mô, điều hòa thể dịch… Trong máu còn có các loại kháng thể, các loại bạch cầu tham gia vào các chức Luan van 7 năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh và vi khuẩn xâm nhập là tấm gương phản ánh tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của cơ thể.
Vì vậy những xét nghiệm về máu là những nhận xét cơ bản được dùng để đánh giá tình trạng sức khỏe cũng như giúp việc chẩn đoán bệnh (Vũ Như Quán và Chu Đức Thắng, 2010) Bảng 1. Chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trên chó khỏe TT Chỉ tiêu Đơn vị tính Trị số 1 Hồng cầu 106/mm 5,5 - 8,5 2 Bạch cầu 103/mm3 6 - 18 3 Hemoglobin g/100ml 12 - 8 4 Hematocrite ml/100ml 37 - 55 5 ASAT (aspartate aminotransferase) UI/I < 20 6 ALAT (alanine aminotransferase) UI/I < 30 TT Chỉ tiêu Đơn vị tính Trị số 7 Urea g/l 0,2 - 0,5 8 Bilirubine Mg/l 1-6 9 Creatine g/l 10 - 20 10 Protein tổng số g/l 54 - 71 11 Albumin g/l 23 - 32 12 Globulin g/l 27 - 44 (Nguồn: Vũ Như Quán và Chu Đức Thắng, 2010) 3. Bệnh Ca rê ở chó 3. Đặc điểm dịch tễ của bệnh Ca rê 3.
Phân bố địa lý của bệnh Bệnh Ca rê lưu hành ở nhiều nơi trên thế giới như châu Phi, châu Mỹ, ở châu Âu và châu Á dựa trên những nghiên cứu về dịch tễ học và huyết thanh học. Luan van 8 Ở Châu Phi, sự lây nhiễm của bệnh được báo cáo giữa chó nuôi ở Nam Châu Phi và Nigeria (Ezeibe, 2005; Leisewitz và cs. Có bằng chứng về sự lây nhiễm bệnh được xuất hiện giữa các loài hoang dã ở Botswana, Zimbabwe, Nam Châu Phi, Tanzania và các phần khác ở Châu Phi (Van Vuuren và cs. Ở Châu Mỹ, bệnh Ca rê xuất hiện trên chó nuôi và chó hoang dã (Pardo và cs.
Hơn 300 chó đã chết trong một trận dịch bệnh Ca rê ở Alaska (Maes và cs., 2003) và bệnh Ca rê cũng được báo cáo ở chó đã tiêm phòng vắc xin tại Mexico. Bệnh Ca rê cũng được tìm thấy ở Brazil (Headley và Graça, 2000). Bệnh cũng được phát hiện ở chó đã tiêm phòng vắc xin và chưa tiêm phòng vắc xin ở Argentina (Calderon và cs., 2007), trong khi dịch bệnh xảy ra trên gấu trúc ở Chicago vào năm 1998 (Lednicky và cs. Ở Châu Âu, bệnh Ca rê được phát hiện tại Italy (Martella và cs., 2006), Đức (Frisk và cs., 1999), Hungary (Demeter và cs., 2007) và Bắc Ireland (Harder và Osterhaus, 1997).
Ở Phần Lan, đợt dịch bệnh Ca rê đã xảy ra trên đàn chó đã được tiêm phòng vắc xin. Bệnh Ca rê là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn chó nuôi khi 71% chó chưa được tiêm phòng vắc xin. Bệnh Ca rê gần đây xuất hiện tại một số trang trại chăn nuôi tại Australia.