Luận án tiến sĩ nghiên cứu bệnh ký sinh trùng đường máu do ve truyền ở đàn bò nuôi tại ba vì hà nội và thử nghiệm thuốc diệt ve

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu bệnh ký sinh trùng đường máu do ve truyền ở đàn bò nuôi tại ba vì hà nội và thử nghiệm, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Chuyên ngành

Bệnh lí học và chữa bệnh vật nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

132
15
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

2. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

3. DANH MỤC BẢNG

4. DANH MỤC HÌNH

5. TRÍCH YẾU LUẬN ÁN

5.1. Mục đích nghiên cứu

5.2. Phương pháp nghiên cứu

5.3. Kết quả chính và kết luận

6. THESIS ABSTRACT

6.1. Research Objectives

6.2. Materials and Methods

6.3. Main findings and conclusions

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng do ve truyền tại Ba Vì, Hà Nội đã được thực hiện nhằm xác định tình hình nhiễm bệnh và đánh giá tác động của các loại ký sinh trùng đường máu. Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định tỷ lệ nhiễm Anaplasma spp. ở bò và mối liên hệ giữa nhiễm ve và nhiễm ký sinh trùng. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho công tác phòng ngừa và điều trị bệnh ở đàn bò nuôi. Theo nghiên cứu, tỷ lệ nhiễm Anaplasma spp. ở bò thịt cao hơn so với bò sữa, cho thấy sự khác biệt trong mức độ nhạy cảm giữa các giống bò. Điều này có thể ảnh hưởng đến các biện pháp quản lý và phòng bệnh trong chăn nuôi bò tại khu vực này.

II. Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng đường máu do ve truyền

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng bệnh ký sinh trùng đường máu do ve truyền là một vấn đề nghiêm trọng trong chăn nuôi bò. Tại Ba Vì, tỷ lệ nhiễm Anaplasma spp. được ghi nhận là 26,46%. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm bệnh có sự thay đổi theo mùa, với tỷ lệ cao nhất vào mùa hè. Điều này cho thấy sự cần thiết phải theo dõi tình hình dịch bệnh thường xuyên để có biện pháp ứng phó kịp thời. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu các yếu tố môi trường và hành vi của ve ký sinh cũng rất quan trọng để hiểu rõ hơn về cách thức lây lan của bệnh. Các bệnh lý do ve truyền không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bò mà còn có thể tác động đến năng suất chăn nuôi.

III. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc thu thập mẫu bò và ve ký sinh để xác định tỷ lệ nhiễm bệnh. Mẫu máu được nhuộm giemsa và phân tích bằng phương pháp PCR để xác định loài ký sinh trùng. Kỹ thuật này đã cho phép xác định chính xác các loài ký sinh trùng gây bệnh ở bò, từ đó đưa ra các biện pháp phòng trị hiệu quả. Ngoài ra, việc thử nghiệm thuốc diệt ve cũng được thực hiện để đánh giá hiệu quả của các hợp chất hóa học trong việc kiểm soát ve ký sinh. Kết quả cho thấy hợp chất Permethrin có hiệu lực diệt ve cao, đặc biệt là ở nồng độ 5%. Điều này mở ra khả năng ứng dụng trong thực tiễn chăn nuôi nhằm kiểm soát dịch bệnh do ve truyền.

IV. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm ve ký sinh ở bò tại Ba Vì là 33,70%, với sự khác biệt rõ rệt giữa các mùa và các lứa tuổi. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát ve trong việc giảm thiểu nguy cơ nhiễm ký sinh trùng đường máu. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bò nhiễm ve có nguy cơ nhiễm ký sinh trùng đường máu cao gấp 16,79 lần so với bò không nhiễm ve. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các chương trình phòng ngừa bệnh cho đàn bò nuôi, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển các biện pháp phòng trị hiệu quả.

V. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu đã xác định được thành phần loài ký sinh trùng đường máu và tỷ lệ nhiễm ve ký sinh ở bò tại Ba Vì, Hà Nội. Các kết quả này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về bệnh ký sinh trùng do ve truyền mà còn cung cấp thông tin cần thiết cho công tác phòng ngừa và điều trị. Việc thử nghiệm thuốc diệt ve cho thấy hứa hẹn trong việc kiểm soát dịch bệnh. Từ đó, khuyến nghị cần có các chương trình giám sát thường xuyên và áp dụng các biện pháp phòng trị hiệu quả để bảo vệ sức khỏe cho đàn bò và nâng cao năng suất chăn nuôi.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp chiếm ưu thế. Trong đó ngành chăn nuôi là một trong những thế mạnh của nền kinh tế nông nghiệp. Chăn nuôi bò chiếm một vị trí quan trọng trong giải quyết việc làm, cung cấp thịt, sữa cho người tiêu dùng và sức kéo cho nông nghiệp. Theo Cục Chăn nuôi (2019), tại thời điểm tháng 12 tổng đàn bò thịt là 5.177 con tăng khoảng 2,4% so với thời điểm năm 2018; sản lượng bò thịt xuất chuồng đạt 349,2 nghìn tấn, tăng 4,4%.

Tổng đàn bò sữa là 321.232 con, sản lượng sữa tươi cả nước ước đạt 1029,6 nghìn tấn, tăng 10,0%. Sản lượng sữa sản xuất trong nước hiện mới đáp ứng được 22% nhu cầu sữa tiêu dùng trong nước. Mục tiêu của chính phủ Việt Nam là đến năm 2020 đạt 500 nghìn bò sữa. Song song với sự phát triển số lượng đàn bò thì tình hình dịch bệnh là vấn đề đáng lo ngại đối với ngành chăn nuôi.

Ve và bệnh do ve truyền trên bò diễn ra rất phổ biến. Hiện nay, ở nước ta có 65 loài ve thuộc 2 họ ve (Phan Trọng Cung & Đoàn Văn Thụ, 2001). Ve Boophilus microplus, Rhipicephalus sanguineus là loài ve tồn tại phổ biến ở bò (Trịnh Văn Thịnh, 1963; Nguyễn Văn Diên & Phan Lục, 2007). Trên thế giới Sping Well (1991) đã có những công trình đầu tiên nghiên cứu về thiệt hại do ve bò gây ra trong sản xuất.

Tiếp đó, các nghiên cứu khác về ve bò cũng đã được công bố. Ở Úc, ve bò từng là ngoại ký sinh trùng gây tổn thất kinh tế lớn nhất trong chăn nuôi bò. Tính từ năm 1959 đến 1973, tổng thiệt hại do ve gây ra ở bang Queensland – đông bắc nước Úc tăng từ 47 triệu đến 50 triệu USD. Ve bò ngoài tác động trực tiếp còn là véc tơ truyền ký sinh trùng đường máu như Anaplasma, Theileria, Babesia.

Ve hút máu bò mang mầm bệnh và truyền sang cho động vật khỏe khác, mầm bệnh tồn tại truyền từ đời này sang đời khác của ve. Nếu ve hút máu có chứa ký sinh trùng thì có thể truyền mầm bệnh vào trứng và khi ấu trùng hình thành thì đã mang mầm bệnh (Phạm Sỹ Lăng, 2002). Các loài Anaplasma gây ra bệnh biên trùng (Anaplasmosis) là bệnh lây truyền từ động vật sang người do ve Ixodes (Santos & Massard, 2014; Ismail & McBride, 2017). Theo Rogers & Shiels (1977) Anaplasmosis xảy ra ở bò, cừu Úc do ve B.

1 microplus và Rh. sanguineus truyền bệnh. Ở động vật nhai có ít nhất năm loài Anaplasma, bò đóng một vai trò quan trọng là nguồn lây nhiễm cho người do ve truyền (Ismail & McBride, 2017; Hove & cs. marginale ký sinh trong hồng cầu, loài A.

platys ký sinh ở bạch cầu là nguyên nhân gây giảm bạch cầu ở bò, chó và người trên khắp thế giới (Lew & cs. Theileria ký sinh trên bò gây bệnh Theileriosis, có các loài là Theileria parva, Theileria anulata, Theileria mutans và Theileria surgenti. Bò bị bệnh Theileriosis có các biểu hiện như sốt cao gián đoạn, bỏ ăn, không nhai lại, niêm mạc mắt miệng nhợt nhạt, hoàng đản, bò gầy yếu, suy kiệt. Ngoài ra, những bò sau khi khỏi bệnh vẫn tiếp tục là nguồn mang trùng, tiềm ẩn nguy cơ phát tán mầm bệnh trong tự nhiên (Phạm Sỹ Lăng, 2002).

Ở Việt Nam, một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự tồn tại của các loài ký sinh trùng đường máu Babesia sp., Theileria sp, Anaplasma spp ở trâu, bò và ve (Sivakumar, 2013; Altangenel Khukhuu & cs., 2013; Phùng Quang Trường & cs. Bệnh ký sinh trùng đường máu ở bò tại Việt Nam thường tồn tại ở thể ẩn, có khi bùng phát nhanh thành dịch. Đặc biệt là với các đàn bò nhập ngọai thì khả năng bùng phát bệnh ký sinh trùng đường máu tăng cao do đàn bò nhập ngoại chưa thích nghi kịp thời với khí hậu và chưa có miễn dịch với bệnh (Phạm Sỹ Lăng, 2002). Trong bối cảnh điều kiện véc tơ truyền bệnh tồn tại phổ biến như hiện nay thì việc khống chế sự phát tán mầm bệnh ký sinh trùng đường máu do ve truyền bệnh là rất khó khăn, nguy cơ bùng phát bệnh ký sinh trùng đường máu là rất lớn.

Như vậy để phát triển đàn bò nuôi tại Việt Nam thì việc khống chế nguy cơ bùng phát bệnh ký sinh trùng đường máu lây truyền do ve là vô cùng quan trọng. Theo nghị quyết của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về chăn nuôi thì Ba Vì là một trong những địa phương có truyền thống và thế mạnh phát triển chăn nuôi bò vì vậy lựa chọn Ba Vì là địa điểm nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng đường máu ở bò là rất cần thiết. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi thực hiện nghiên cứu bệnh ký sinh trùng đường máu do ve truyền trên bò tại huyện Ba Vì – thành phố Hà Nội nhằm đánh giá sự tồn tại của bệnh ký sinh trùng đường máu và ve trên bò từ đó đưa ra những khuyến cáo để khống chế bệnh, góp phần phát triển chăn nuôi bò bền vững. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.

Mục tiêu tổng quát Nhằm đánh giá một số đặc điểm của ký sinh trùng đường máu do ve truyền và ve ký sinh ở đàn bò, cung cấp cơ sở khoa học cho việc chẩn đoán, phòng trị bệnh bệnh ký sinh trùng đường máu và ve ký sinh ở bò từ đó góp phần bảo vệ sức khỏe đàn bò. Mục tiêu cụ thể - Xác định sự lưu hành của bệnh ký sinh trùng đường máu do ve truyền: Biên trùng do Anaplasma spp., Theile trùng do Theileria spp., Lê dạng trùng do Babesia spp. - Định danh các loài ký sinh trùng đường máu bằng kỹ thuật phân tử. - Xác định các loài ve ký sinh, tình hình nhiễm ve trên đàn bò theo vùng địa hình, mùa vụ, lứa tuổi và giống bò.

- Bước đầu nghiên cứu thuốc diệt ve ký sinh ở bò. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu được thực hiện trên bò sữa và bò thịt từ tháng 11 năm 2015 đến 11 năm 2019 tại 9 xã gồm xã Tản Lĩnh, Yên Bài, Vân Hòa, Tòng Bạt, Thụy An, Vật Lại, Thái Hòa, Phú Sơn, Phú Đông thuộc 3 vùng địa hình là miền núi, gò đồi, đồng bằng của huyện Ba Vì – thành phố Hà Nội với nội dung nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng đường máu do ve truyền, biện pháp phòng trị ve. Địa điểm xét nghiệm mẫu: + Phòng thí nghiệm Ký sinh trùng, Phòng thí nghiệm Trọng điểm sinh học Phòng thí nghiệm Bộ môn Bệnh lý - Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam; + Phòng thí nghiệm Viện Công nghệ Sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam; + Phòng thí nghiệm - Trung tâm nghiên cứu Bò và đồng cỏ Ba Vì. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN Lần đầu tiên phát hiện loài Anaplasma platys ký sinh ở bò Việt Nam.

Nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật phân tử định danh được hai loài ký sinh trùng đường máu Anaplasma marginale và Anaplasma platys ký sinh ở bò. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN LUẬN ÁN 1. Ý nghĩa khoa học Về ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài đã bổ sung thông tin về bệnh ký sinh trùng đường máu do ve truyền và biện pháp diệt ve. Kết quả nghiên cứu có thể được dùng làm tài liệu giảng dạy tại các trường cao đẳng, đại học Nông nghiệp, là tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ký sinh trùng.

Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý học bệnh ký sinh trùng đường máu ở bò và biện pháp phòng trị ve, có thể được vận dụng vào việc chẩn đoán và phòng chống ve ký sinh, chẩn đoán và phòng trị bệnh ký sinh trùng đường máu do ve truyền cho bò trong thực tiễn sản xuất. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC 2. Một số bệnh ký sinh trùng đường máu do ve truyền ở bò Bệnh ký sinh trùng đường máu do ve truyền trên động vật do đơn bào lê dạng trùng (Babesia sp), biên trùng (Anaplasma sp), theiler trùng (Theilera sp) kí sinh trong máu của bò, trâu, bò sữa, ngựa.

Tùy vào đặc điểm, vị trí ký sinh, hình thái, cấu tạo và khả năng gây bệnh cũng khác nhau (Phạm Sỹ Lăng, 2006). Bệnh lê dạng trùng ở bò (Babesiosis) a. Căn bệnh Bệnh này được đặt tên theo nhà khoa học người Romania là Victor Babeş. Năm 1888, Victor Babeş là người đầu tiên miêu tả về Babesia spp ký sinh trùng trong máu trâu, bò, cừu.

Ở bò chủ yếu có 2 loài là Babesia bigemina và Babesia bovis. ký sinh trong hồng cầu, có hình quả lê, hình tròn, hình ô van hoặc các hình dạng khác hình trứng, hình bầu dục. kích thước thay đổi tùy từng loài, đặc trưng là hình lê cặp đôi. Babesia bigemina: 2-4x 1-2 µm và Babesia bovis: 1.5 µm (Mahoney, 1977; Levine, 1985; Johannes 1996; Nguyễn Văn Thọ & cs.

Vòng đời Lê dạng trùng phát triển qua vật chủ trung gian là ve. Theo Johan (1996) loài ve truyền bệnh này là Boophilus microplus, Boophilus annulatus, Rhipicephalus bura. Ở Việt Nam loài ve đóng vai trò truyền bệnh của lê dạng trùng đã được phát hiện là Rhipicephalus (Boophilus) microplus. Vòng đời của lê dạng trùng diễn ra qua 2 giai đoạn: + Sinh sản vô tính Trong hồng cầu bò, lê dạng trùng sinh sản vô tính theo hình thức liệt thực sinh thực bằng cách chia đôi nên trong hồng cầu lê dạng trùng thường ghép lại thành đôi, thành hình quả lê hai mầm, dần dần các đầu nhỏ co lại khiến cho ký sinh trùng có hình bầu dục rồi hình cầu.

Khi đó hồng cầu bị ký sinh trùng phá hủy và giải phóng 2 lê dạng trùng non trôi nổi trong huyết tương một thời gian rồi mỗi lê dạng trùng non lại xâm nhập vào hồng cầu lành sau vài giờ chúng lớn dần thành dạng trưởng thành rồi thực hiện phân đôi liên tiếp 5 đến 6 lần và chỉ sau một tuần số lượng đã tăng 5 lên hàng trăm lần. Trong quá trình sinh sản vô tính có 3 thời kỳ ở trong hồng cầu thường có hình đơn giản, hình lê hai mầm và hình tròn hai mầm và 1 dạng tự do ở ngoài hồng cầu. Vòng đời của Piroplasma (Babesia) bigemina Nguồn: William (2001) + Sinh sản hữu tính Sinh sản hữu tính của lê dạng trùng được tiến hành trong cơ thể ve. Khi ve hút máu bò nhiễm lê dạng trùng, khi tới dạ dày ve, hồng cầu được tiêu hóa và giải phóng các lê dạng trùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Nghiên cứu bệnh ký sinh trùng đường máu do ve truyền ở đàn bò tại Ba Vì, Hà Nội và thử nghiệm thuốc diệt ve" của tác giả Nguyễn Thị Hồng Chiên, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Văn Thọ và GS. Bertrand Losson, mang đến cái nhìn sâu sắc về tình trạng bệnh ký sinh trùng do ve truyền ở đàn bò tại khu vực Ba Vì, Hà Nội. Nghiên cứu không chỉ phân tích sự hiện diện của các loại ký sinh trùng trong máu bò mà còn thử nghiệm hiệu quả của các loại thuốc diệt ve, từ đó cung cấp những thông tin giá trị cho việc quản lý và điều trị bệnh cho đàn gia súc.

Bài viết này sẽ hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực thú y và quản lý sức khỏe động vật, đặc biệt là trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh ký sinh trùng. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Nghiên cứu đặc điểm bệnh care ở chó nuôi tại Hà Nội và phương pháp phòng trị, nghiên cứu này cũng đề cập đến bệnh lý ở động vật, hoặc Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý viêm phổi ở lợn do Actinobacillus pleuropneumoniae, giúp bạn có thêm thông tin về các bệnh lý liên quan đến động vật nuôi. Thêm vào đó, bài viết Luận án tiến sĩ về dịch tễ học phân tử của porcine circovirus type 2 ở lợn tại Việt Nam cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về các bệnh truyền nhiễm ở động vật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết về tình trạng sức khỏe và bệnh lý trong ngành chăn nuôi.