Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây Đậu xanh (Vigna radiata (L.) Wilczek) thuộc họ Đậu (Fabaceae) là cây thực phẩm ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cao, giàu protein, axit amin thiết yếu, vitamin và khoáng chất, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng nhờ khả năng cố định đạm cải tạo đất. Tại Việt Nam, đậu xanh được gieo trồng từ lâu đời trên nhiều vùng sinh thái từ Bắc vào Nam với diện tích hàng năm ước tính khoảng 60.000 – 80.000 ha. Tuy nhiên, năng suất bình quân còn thấp (chỉ đạt 6 – 7 tạ/ha), sản lượng chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ nội địa dẫn đến việc phải nhập khẩu từ nước ngoài. Phần lớn diện tích sản xuất vẫn sử dụng các giống địa phương tự để giống qua nhiều vụ, dẫn đến tình trạng thoái hóa và xói mòn nguồn gen. Nhằm phục vụ công tác chọn tạo giống có năng suất cao, phẩm chất tốt và khả năng chống chịu điều kiện bất lợi, đề tài khóa luận "Đánh giá sinh trưởng, phát triển và năng suất các mẫu giống Đậu xanh trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội" đã được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là chọn lọc được 1 – 2 mẫu giống đậu xanh có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao, chống chịu sâu bệnh hại chính và thích ứng với điều kiện sinh thái để làm nguồn vật liệu ban đầu cho công tác chọn giống và mở rộng sản xuất hàng hóa.

Để đạt được mục tiêu trên, tác giả đã xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các mẫu giống đậu xanh trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội.
  2. Đánh giá mức độ nhiễm các loại sâu bệnh hại chính trên các mẫu giống đậu xanh thí nghiệm.
  3. Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các mẫu giống đậu xanh.
  4. Chọn ra các mẫu giống có đặc tính nông sinh học tốt, năng suất vượt trội phục vụ sản xuất hoặc làm vật liệu cho các nghiên cứu tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu gồm 32 mẫu giống đậu xanh (ký hiệu từ MG1 đến MG32) do Bộ môn Di truyền và Chọn giống cây trồng (Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam) cung cấp, trong đó giống ĐX11 (ký hiệu MG21) được sử dụng làm giống đối chứng (ĐC). Phạm vi nghiên cứu về không gian được triển khai tại Khu thí nghiệm đồng ruộng Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội). Phạm vi thời gian nghiên cứu thực nghiệm diễn ra trong vụ Xuân 2021, từ tháng 3/2021 đến tháng 8/2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết của khóa luận dựa trên hệ thống phân loại thực vật học và đặc tính sinh học, sinh thái học của cây đậu xanh:

  • Phân loại thực vật: Cây đậu xanh thuộc giới Plantae, ngành Magnoliophyta, lớp Magnoliopsida, bộ Fabales, họ Fabaceae, phân họ Papilionoideae, tông Phaseoleae, chi Vigna, loài Vigna radiata (L.) Wilczek; có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội $2n = 22$. Trong cơ sở dữ liệu FAOSTAT, đậu xanh được xếp vào nhóm "Beans, dry".
  • Đặc tính sinh thái và dinh dưỡng: Cây sinh trưởng tối ưu ở nhiệt độ 22 – 27°C, ẩm độ đất 70 – 80%, lượng mưa thích hợp 1300 – 1500 mm, độ pH đất tối ưu từ 5,5 – 7,5. Rễ cây có vi khuẩn nốt sần Rhizobium cộng sinh với khả năng cố định nitơ tự do đạt khoảng 200 kg N/ha/năm. Hạt chứa 22% protein (chủ yếu là globulins chiếm 85%), giàu lysin và sắt (5,9 – 7,6 mg/100g).

Khung quy chuẩn và phương pháp thực nghiệm được áp dụng bao gồm:

  • Quy chuẩn đánh giá: Toàn bộ các chỉ tiêu hình thái, sinh trưởng, năng suất và tính chống chịu được theo dõi và đánh giá theo "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống đậu xanh" (QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành.
  • Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khảo sát tập đoàn không lặp lại. Mỗi mẫu giống được gieo trên một ô thí nghiệm có diện tích 2 $m^2$ (kích thước 2 m × 1 m), mật độ trồng 20 cây/$m^2$.
  • Quy trình kỹ thuật canh tác: Đất cát pha, thịt nhẹ được cày bừa kỹ, lên luống cách nhau 25 cm. Mức phân bón tính cho 1 ha gồm: 20 – 30 tấn phân chuồng hoai mục, 300 kg supe lân, 100 – 150 kg urê, 100 – 150 kg kali clorua. Toàn bộ phân chuồng và supe lân được bón lót. Phân đạm và kali được bón thúc qua 3 thời kỳ: lần 1 sau gieo 10 – 15 ngày (30% đạm); lần 2 sau gieo 25 ngày (40% đạm + 50% kali); lần 3 sau gieo 40 ngày (30% đạm + 50% kali). Chăm sóc xới xáo, vun gốc và tưới ẩm duy trì 70 – 75%.
  • Phương pháp thu thập chỉ tiêu:
    • Chỉ tiêu hình thái: 14 chỉ tiêu đánh giá định tính về màu sắc thân mầm, lông thân, kiểu sinh trưởng, dạng thân, màu lá, màu hoa, màu vỏ quả, màu hạt, hình dạng hạt, màu rốn hạt.
    • Chỉ tiêu sinh trưởng: Thời gian gieo – mọc, mọc – ra hoa, thời gian nở hoa, tổng thời gian sinh trưởng; động thái tăng trưởng chiều cao cây (đo ở các mốc 44, 51, 58 ngày sau gieo); chiều cao cây cuối cùng, đường kính thân, số cành cấp 1, số đốt thân chính, số đốt mang quả hữu hiệu, số lá trên thân chính (theo dõi trên 10 cây ngẫu nhiên/ô).
    • Chỉ tiêu năng suất: Tổng số quả/cây, số quả chắc/cây, số hạt/quả, số nang/quả, khối lượng 1000 hạt ($P_{1000}$ ở độ ẩm hạt 12%), năng suất cá thể (g/cây), năng suất lý thuyết (tạ/ha) và năng suất thực thu (tạ/ha).
    • Điều tra sâu bệnh: Theo dõi tỷ lệ hại của sâu cuốn lá, sâu ăn lá, sâu đục quả, giòi đục thân; phân cấp bệnh (từ cấp 1 đến cấp 5) đối với bệnh lở cổ rễ, rỉ sắt, đốm nâu, phấn trắng sau mọc 15 ngày.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được tổng hợp, tính toán giá trị trung bình ($\bar{X}$) và độ lệch chuẩn ($SD$) bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng chương

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương này hệ thống hóa các tư liệu nghiên cứu về cây đậu xanh trong nước và quốc tế. Tác giả trình bày nguồn gốc cây đậu xanh từ Ấn Độ và Trung Á với lịch sử trồng trọt hơn 4500 năm trước khi lan rộng ra toàn cầu. Về mặt sinh học, chương tổng quan phân tích giải phẫu rễ cọc, khả năng hình thành nốt sần cố định đạm của vi khuẩn Rhizobium, cấu tạo thân thảo mọc đứng cao 50 – 80 cm, lá kép 3 lá chét, hoa cánh bướm lưỡng tính và quả nang hình trụ. Về mặt giá trị, đậu xanh được chứng minh có hàm lượng protein 22g/100g hạt, chứa đầy đủ các axit amin không thay thế, vỏ hạt chứa 0,8% flavonoid có tác dụng chống oxy hóa và hạ cholesterol máu thực nghiệm trên động vật (chuột, thỏ). Về nhu cầu sinh thái, chương tài liệu nêu rõ các giới hạn nhiệt độ, độ dài chiếu sáng ngày ngắn/trung tính, nhu cầu nước và các nguyên tố khoáng đa lượng (N, P, K), trung lượng (Ca, Mg, S) và vi lượng (Mo, B, Cu, Zn). Đánh giá tình hình sản xuất chỉ ra châu Á chiếm 90% sản lượng toàn cầu, đứng đầu là Ấn Độ (50% sản lượng), Trung Quốc, Úc (xuất khẩu 1,8 triệu tấn năm 2017). Tại Việt Nam, diện tích dao động 60.000 – 80.000 ha, các viện nghiên cứu đã chọn tạo được các giống ưu tú như ĐX-044, ĐX-06, HL89-E3, V94-208, V87-13.

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 mô tả chi tiết vật liệu gồm 32 mẫu giống đậu xanh (MG1 – MG32), trong đó giống ĐX11 (MG21) làm đối chứng. Thí nghiệm được thực hiện tại Gia Lâm, Hà Nội trong vụ Xuân 2021. Phương pháp bố trí tập đoàn không lặp lại với diện tích ô 2 $m^2$, mật độ 20 cây/$m^2$. Chương này quy định chi tiết quy trình bón phân cân đối 20 – 30 tấn phân chuồng, 300 kg supe lân, 100 – 150 kg đạm urê và 100 – 150 kg kali clorua cho 1 ha. Hệ thống chỉ tiêu theo dõi được xây dựng bám sát Quy chuẩn QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT, bao gồm bảng tiêu chí đánh giá hình thái, thang thời gian sinh trưởng, phương pháp đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng cá thể, các cấu phần cấu thành năng suất và quy định thang 5 cấp điều tra mức độ hại của sâu bệnh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm thu thập được qua các tiểu mục:

  • Đặc điểm hình thái: Cả 32 mẫu giống đều có dạng thân đứng, kiểu sinh trưởng hữu hạn, tính chống đổ tốt và hoa màu vàng. Về thân mầm, có 8 mẫu màu xanh (MG3, MG8, MG13, MG21, MG26, MG27, MG30, MG31), 2 mẫu xanh tím (MG19, MG24), 3 mẫu tím xanh (MG1, MG15, MG25) và 19 mẫu màu tím; toàn bộ thân mầm phủ lông trắng dày. Về quả chín, 30 mẫu có vỏ quả màu đen, riêng MG5 và MG10 có vỏ quả màu vàng sáng; 14 mẫu có lông quả dày và 18 mẫu lông quả thưa; tất cả các mẫu đều có tính tách vỏ thấp (<25%). Về hạt, có 10 mẫu màu xanh nhạt, 19 mẫu màu xanh vàng, 1 mẫu màu vàng xám (MG8), 1 mẫu màu vàng (MG16) và 1 mẫu xanh đậm (MG28); 19 mẫu hạt hình trụ, 13 mẫu hạt hình ôvan; rốn hạt đều có màu trắng.
Nhóm chỉ tiêu hình thái Mức độ biểu hiện phổ biến Các trường hợp đặc thù
Dạng thân & Kiểu sinh trưởng Thân đứng, sinh trưởng hữu hạn (32/32 mẫu) Không
Màu sắc hoa & Rốn hạt Hoa vàng, rốn hạt trắng (32/32 mẫu) Không
Màu sắc quả khi chín Vỏ quả màu đen (30/32 mẫu) Vàng sáng (MG5, MG10)
Màu sắc vỏ hạt khi chín Xanh vàng (19 mẫu), Xanh nhạt (10 mẫu) Vàng xám (MG8), Vàng (MG16), Xanh đậm (MG28)
Hình dạng hạt Hình trụ (19 mẫu) Hình ôvan (13 mẫu)
  • Đặc điểm sinh trưởng và phát triển: Thời gian gieo – mọc của 32 mẫu giống đạt từ 3 – 4 ngày. Thời gian mọc – ra hoa dao động từ 36 – 45 ngày (sớm nhất là MG2, MG4, MG31 với 36 ngày; muộn nhất là MG25 với 45 ngày; giống đối chứng MG21 là 41 ngày). Thời gian ra hoa biến động từ 15 – 24 ngày (ngắn nhất là MG9, MG25 đạt 15 ngày; dài nhất là MG19, MG23 đạt 24 ngày; đối chứng MG21 là 16 ngày). Tổng thời gian sinh trưởng từ gieo đến thu hoạch của tất cả 32 mẫu giống đều đạt 69 ngày.
  • Động thái tăng trưởng chiều cao và đặc điểm sinh trưởng: Chiều cao cây tăng trưởng liên tục ở các mốc 44, 51 và 58 ngày sau gieo. Chiều cao cây cuối cùng dao động từ 39,70 cm (MG4) đến 93,57 cm (MG29), đối chứng MG21 đạt 66,94 cm. Đường kính thân biến động từ 0,39 cm (MG4) đến 0,99 cm (MG5), đối chứng đạt 0,81 cm. Số cành cấp 1 đạt từ 0,1 cành/cây (MG3) đến 0,7 cành/cây (MG1). Số đốt trên thân chính dao động từ 7,1 đốt/cây (MG16) đến 12,1 đốt/cây (MG24). Số đốt mang quả hữu hiệu đạt từ 2,0 đốt/cây (MG18) đến 5,7 đốt/cây (MG11) và 5,3 đốt/cây (MG13), trong khi đối chứng đạt 2,9 đốt/cây. Số lá trên thân chính biến động từ 5,9 lá/cây (MG16) đến 8,9 lá/cây (MG7, MG24).
Mẫu giống tiêu biểu Chiều cao cuối cùng (cm) Đường kính thân (cm) Số cành cấp 1 (cành/cây) Số đốt thân chính (đốt/cây) Số đốt mang quả hữu hiệu (đốt/cây) Số lá thân chính (lá/cây)
MG4 (Thấp nhất) 39,70 ± 1,99 0,39 ± 0,08 0,6 ± 0,52 8,1 ± 1,45 3,10 ± 0,74 8,3 ± 0,82
MG11 (Triển vọng) 69,98 ± 0,88 0,51 ± 0,07 0,5 ± 0,53 9,8 ± 1,75 5,70 ± 0,48 8,6 ± 0,70
MG13 (Triển vọng) 81,08 ± 1,70 0,66 ± 0,10 0,4 ± 0,52 9,0 ± 0,82 5,30 ± 0,48 7,8 ± 0,79
MG21 (Đối chứng) 66,94 ± 1,49 0,81 ± 0,07 0,3 ± 0,48 9,0 ± 0,94 2,90 ± 0,74 7,7 ± 0,67
MG29 (Cao nhất) 93,57 ± 1,31 0,71 ± 0,51 0,4 ± 0,52 11,3 ± 0,95 3,00 ± 0,94 8,8 ± 0,42
  • Yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và sâu bệnh hại: Các mẫu giống có số quả chắc/cây dao động từ 1,58 đến 11,05 quả/cây; tỷ lệ quả chắc đạt 68,7 – 78,1%; số hạt/quả đạt 6,24 – 9,54 hạt; khối lượng 1000 hạt ($P_{1000}$) đạt 36,56 – 69,12 g. Năng suất cá thể đạt từ 0,87 – 5,10 g/cây; năng suất lý thuyết đạt từ 1,74 – 10,2 tạ/ha; năng suất thực thu đạt từ 1,31 – 9,17 tạ/ha. Về sâu bệnh hại, các mẫu giống bị nhiễm nhẹ bởi sâu cuốn lá, sâu ăn lá và bệnh lở cổ rễ, mức độ gây hại nhẹ không làm suy giảm nghiêm trọng đến năng suất. Hai mẫu giống đạt năng suất thực thu cao nhất và thể hiện tiềm năng vượt trội là MG13 (9,17 tạ/ha) và MG11 (8,86 tạ/ha).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã ghi nhận các kết quả thực nghiệm định lượng cụ thể trên tập đoàn 32 mẫu giống đậu xanh trong vụ Xuân 2021:

  • Thời gian sinh trưởng đồng đều: Tất cả 32 mẫu giống đều hoàn thành chu kỳ sinh trưởng trong 69 ngày, thuộc nhóm giống chín sớm/ngắn ngày, thích hợp cho việc bố trí xen canh, gối vụ trong hệ thống luân canh nông nghiệp.
  • Biến động nông sinh học: Chiều cao cây cuối cùng đạt 39,70 – 93,57 cm; đường kính thân đạt 0,39 – 0,99 cm; số cành cấp 1 đạt 0,1 – 0,7 cành/cây; số đốt mang quả hữu hiệu đạt 2,0 – 5,7 đốt/cây; số lá thân chính đạt 5,9 – 8,9 lá/cây. Toàn bộ các mẫu giống có tính chống đổ tốt và tỷ lệ tách vỏ quả thấp (<25%).
  • Năng suất và chỉ tiêu cấu thành: Số quả chắc đạt 1,58 – 11,05 quả/cây; số hạt/quả đạt 6,24 – 9,54 hạt; trọng lượng 1000 hạt đạt 36,56 – 69,12 g; năng suất cá thể đạt 0,87 – 5,10 g/cây; năng suất lý thuyết đạt 1,74 – 10,2 tạ/ha; năng suất thực thu dao động từ 1,31 – 9,17 tạ/ha.
  • Lựa chọn giống triển vọng: Đã tuyển chọn được 2 mẫu giống ưu tú gồm MG13 (đạt năng suất thực thu 9,17 tạ/ha, số đốt hữu hiệu 5,3 đốt/cây) và MG11 (đạt năng suất thực thu 8,86 tạ/ha, số đốt hữu hiệu 5,7 đốt/cây), cao hơn rõ rệt so với giống đối chứng ĐX11 (MG21).

Khóa luận đóng góp nguồn dữ liệu mô tả hình thái và nông sinh học chi tiết cho 32 mẫu giống đậu xanh lưu giữ tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam theo chuẩn QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT, cung cấp nguồn vật liệu khởi đầu có giá trị cho công tác lai tạo giống đậu xanh năng suất cao, chống chịu tốt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận đã thẳng thắn chỉ ra các hạn chế thực tế trong quá trình thực hiện:

  • Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khảo sát tập đoàn không lặp lại trên diện tích ô nhỏ (2 $m^2$), do đó các số liệu thu được chưa qua phân tích phương sai thống kê (ANOVA) để kiểm định sai số.
  • Trong giai đoạn thu hoạch, điều kiện thời tiết vụ Xuân 2021 gặp mưa nhiều và kéo dài làm nhiều quả bị ẩm mốc, hư hại, dẫn đến số liệu về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu chưa phản ánh hết tiềm năng di truyền tối đa của các mẫu giống.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là:

  • Tiếp tục bố trí thí nghiệm so sánh giống có lặp lại với diện tích ô lớn hơn nhằm thu thập số liệu có xử lý thống kê sinh học tin cậy.
  • Khảo nghiệm các mẫu giống triển vọng (đặc biệt là MG11 và MG13) qua các mùa vụ khác nhau (vụ Hè, vụ Thu Đông) và tại nhiều vùng sinh thái khác nhau để đánh giá tính ổn định di truyền, tính thích ứng và tiềm năng năng suất phục vụ sản xuất đại trà.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Di truyền và Chọn giống cây trồng: Tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm tập đoàn, quy trình điều tra chỉ tiêu hình thái và nông sinh học cây họ Đậu theo quy chuẩn ngành QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT.
  • Cán bộ nghiên cứu chọn tạo giống: Sử dụng các số liệu mô tả hình thái chi tiết (màu sắc thân mầm, màu quả chín, màu vỏ hạt, số đốt hữu hiệu, trọng lượng hạt) của 32 mẫu giống từ MG1 đến MG32 làm cơ sở dữ liệu tra cứu vật liệu bố mẹ phục vụ lai tạo giống đậu xanh.
  • Người sản xuất nông nghiệp tại địa phương: Tham khảo đặc tính thời gian sinh trưởng (69 ngày) và tiềm năng của các dòng giống mới (MG11, MG13) để định hướng cơ cấu luân canh tăng vụ tại khu vực đồng bằng sông Hồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát bao nhiêu mẫu giống đậu xanh và giống nào được sử dụng làm đối chứng? Khóa luận khảo sát 32 mẫu giống đậu xanh (ký hiệu từ MG1 đến MG32) do Bộ môn Di truyền và Chọn giống cây trồng cung cấp. Giống ĐX11 (ký hiệu là MG21) được sử dụng làm giống đối chứng (ĐC).

2. Thời gian sinh trưởng của các mẫu giống đậu xanh trong vụ Xuân 2021 là bao nhiêu ngày? Tất cả 32 mẫu giống đậu xanh tham gia thí nghiệm đều có tổng thời gian sinh trưởng từ gieo đến thu hoạch là 69 ngày; thời gian gieo – mọc từ 3 – 4 ngày; thời gian mọc – ra hoa từ 36 – 45 ngày; thời gian nở hoa kéo dài từ 15 – 24 ngày.

3. Mẫu giống nào có chiều cao cây cao nhất và thấp nhất trong thí nghiệm? Mẫu giống có chiều cao cây cuối cùng lớn nhất là MG29 đạt 93,57 cm (cao hơn đối chứng MG21 26,63 cm). Mẫu giống có chiều cao thấp nhất là MG4 đạt 39,70 cm (thấp hơn đối chứng MG21 24,27 cm). Chiều cao của giống đối chứng MG21 đạt 66,94 cm.

4. Những mẫu giống nào có đặc điểm hình thái quả và hạt đặc biệt khác với phần lớn tập đoàn? Phần lớn các mẫu giống có vỏ quả chín màu đen, riêng 2 mẫu giống MG5 và MG10 có vỏ quả chín màu vàng sáng. Về màu hạt, phần lớn có màu xanh vàng hoặc xanh nhạt, riêng MG8 có hạt màu vàng xám, MG16 có hạt màu vàng và MG28 có hạt màu xanh đậm.

5. Hai mẫu giống đậu xanh nào được tác giả lựa chọn là có triển vọng nhất và năng suất thực thu đạt bao nhiêu? Hai mẫu giống được lựa chọn là MG13 đạt năng suất thực thu 9,17 tạ/ha (số đốt hữu hiệu 5,3 đốt/cây) và MG11 đạt năng suất thực thu 8,86 tạ/ha (số đốt hữu hiệu 5,7 đốt/cây), vượt trội so với năng suất bình quân của tập đoàn và giống đối chứng.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Tuấn Cương đã thực hiện đánh giá toàn diện các đặc tính hình thái, sinh trưởng, tính chống chịu sâu bệnh và năng suất của 32 mẫu giống đậu xanh trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội theo Quy chuẩn QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT. Nghiên cứu đã xác định tập đoàn thí nghiệm có thời gian sinh trưởng ngắn (69 ngày), sinh trưởng hữu hạn, tính chống đổ tốt và ít bị hại bởi sâu bệnh chính. Kết quả thực nghiệm đã tuyển chọn thành công 2 mẫu giống có năng suất thực thu cao và tiềm năng nông sinh học vượt trội là MG13 (9,17 tạ/ha) và MG11 (8,86 tạ/ha), tạo tiền đề khoa học vững chắc cho các nghiên cứu khảo nghiệm đa điểm và công tác chọn tạo giống đậu xanh tiếp theo.