Chương 1 chủ yếu làm rõ lịch sử quá trình hình thành và phát triển xung đột tôn giáo ở miền Nam Thái Lan để từ đó tạo tiền đề cho việc phân tích những nguyên nhân gây ra tình hình bất 6n trong thời gian qua. Chương 2: Vấn đề xung đột tôn giáo ở miền Nam Thái Lan (2014- 2020). Chương 2 làm rõ thực trạng bat 6n ở miền Nam Thái Lan vốn tập trung ở các tỉnh biên giới nhưng đang có xu hướng lan rộng, cũng như các biện pháp giải quyết của Chính phủ Thái Lan bao gồm cả đàm phán hòa bình và an ninh vũ trang. Chương 3: Tác động, dự báo và khuyến nghị.
Chương 3 đưa ra những đánh giá đối với tác động của xung đột tại miền Nam Thái Lan tới khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng. Đồng thời, chương này cũng đưa ra những dự báo về tình hình xung đột trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, chương 3 đưa ra những khuyến nghị cho Việt Nam. LICH SỬ VÀ NGUYÊN NHÂN XUNG ĐỘT TON GIÁO O MIEN NAM THÁI LAN Miền Nam Thái Lan là một bộ phận lãnh thổ của đất nước Thái, nối với miền Trung bởi eo đất Kra hẹp.
Miền Nam Thái Lan tọa lạc ở bán đảo Malaysia với diện tích khoảng 70.713 km2, bao bọc phía Bắc bởi Eo đất Kra là phần hẹp nhất của bán đảo. Phần phía Tây là bờ biển đốc hon, trong khi phía Đông là đồng bằng châu thé chiếm ưu thế. Sông lớn nhất của phía Nam là Tapi, cùng với Phum Duang có lưu vực hơn 8.000 km?, hon 10% diện tích của Nam Thái Lan. Các sông nhỏ hơn bao gồm Pattani, sông Sai Buri, Krabi và Trang.
Hồ lớn nhất của phía Nam là Hồ Songkhla (1.040 km?), hồ nhân tạo lớn nhất là Chiao Lan (đập Ratchaprapha) với 165 km? trong Vườn quốc gia || 10 0 m Lam m 100 0 -1835 Peak (in meters) ° Province centers ARDS ToAHILfNSD REG. ©IRD-CNS Ảnh 1. Bản đồ khu vực miền Nam Thái Lan (2002) Nguồn: Atlas of Thailand: spatial structures and development (tam dich: Atlas Thái Lan: cấu trúc không gian và sự phát triển) [Deler J.31] Địa hình miền Nam chủ yếu là đồng bằng và bờ bién, các đảo ven bờ với cảnh quan đẹp, khí hậu mang tính nhiệt đới hải dương rất thích hợp cho 11 việc phát triển du lịch tự nhiên. Bên cạnh đó đất đai màu mỡ, khí hậu thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, đồng thời nơi đây cũng có một số loại khoáng sản với trữ lượng lớn như thiếc, dầu khí.
thuận lợi cho phát triển công nghiệp khai khoáng. Rừng cũng là một tài nguyên thế mạnh của miền Nam, với nhiều loài sinh vật đa dạng được quy hoạch trong các khu bảo tồn và vườn quốc gia. Về phân chia đơn vị hành chính thì miền Nam gồm có 14 tỉnh/77 tỉnh, với dân số 3.744 người (2020), mật độ dân số miền Nam khoảng 122 người/km2. Về xã hội, đây là nơi sinh sống của người Thái theo đạo Phật và phan lớn người Mã Lai theo Hồi giáo (ở ba tỉnh cực Nam giáp Malaysia).
Do mâu thuẫn về tôn giáo, sắc tộc và nhiều nguyên nhân khác nữa, nên từ tháng 01/2004 trở lại đây, khu vực nảy trở thành một điểm nóng về xung đột bạo lực đẫm máu. Về kinh tế, đây vẫn còn là vùng có nền kinh tế kém phát triển nhất trong cả nước, với nền nông nghiệp vẫn còn lạc hậu, chủ yếu phát triển dựa vào nguồn tài nguyên du lịch về tự nhiên nhưng hiện nay do tình trạng bất ôn mà ngành “công nghiệp không khói” ở đây đang lâm vào tình trạng khốn đồn. Lịch sử quá trình xung đột tôn giáo ở miền Nam Thái Lan 1. Quá trình hình thành tình trạng đa tôn giáo, đa sắc tộc ở miền Nam Thái Lan Lịch sử Thái Lan được chia thành 4 thời kỳ qua các triều đại: Sukhothai, Ayutthaya, Thonburi và Rattanakosin (Bangkok).
Theo cuốn “Insight Guides: Thailand” do Insight Publication phát hành và tái bản năm 2016, thời ky dau của triều dai Sukhothai (1237-1456), Phat giáo đã được xem la quốc giáo của dân tộc Thái. Hiện tại, tổng số 95% dân chúng được ghi nhận là tín đồ Phật giáo, hầu hết là theo truyền thống Theravada. Thống kê trong cuốn sách cũng chỉ ra rằng, ước tính có trên 30.000 ngôi Chùa ở 75 tỉnh thành của Thái Lan. Con số tăng sĩ cao nhất được ghi nhận là 350.000 tăng sĩ 12 hiện diện trong mùa nhằm vào mùa kiết đông an cư của chư tăng Thái, từ tháng 7 đến tháng 9 mỗi năm [Insight Guide, 2016, tr.
Theo cuốn “Lich sử Phật giáo thé giới (tập 2)” của Pháp sư Tinh Hải, Phật giáo được truyền vào Thái Lan vào đầu thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch theo sau cuộc truyền bá Chánh pháp quy mô của nhà vua Phật tử Asoka (A Dục) đến Tích Lan và Miễn Điện. Phật giáo Thái Lan về sau còn tiếp nhận thêm nhiều nhà truyền bá đến từ Mién Điện vào năm 1044 và các pháp sư đến từ Tích Lan vào năm 1155, hầu hết là theo truyền thống Phật giáo Theravada. Tuy vậy, Phật giáo chỉ thực sự đặt lại nền móng, phát triển và ảnh hưởng sâu rộng vào xã hội Thái Lan từ triều đại Sukhothai (1237-1456). Trong thời kỳ này có rất nhiều vị vua tín ngưỡng Phật Pháp, xây dựng chùa chién, ủng hộ việc đào tạo tăng tài để phát triển Chánh pháp, thậm chí có nhiều vị xuất gia tu học luôn, như Vua Ramkhamheng và Vua Lithai.
Đặc biệt, Vua Lithai là một ông Vua Phật tử anh minh, từ ai, thương dân như con của minh, kế cả những kẻ đối đầu với mình, những người chống lại Thái Lan. Ông đã có công xây chùa và đúc tượng Phật rất nhiều trong thời ông trị vì. Những tượng đồng thật lớn hiện nay vẫn còn tôn thờ ở Chùa Buddhajinarai, Chùa Phrarinatnahadhatu, Chùa Sadassana v. đều được đúc từ thời của ông.
Tiếp đến là các triều đại Ayudhya (1350 - 1766), Thonburi (1766-7) và triều đại Bangkok (1782 cho đến nay) do vua RamaI thiết lập, Phật giáo đã tiếp tục phát triển mạnh trong mọi lĩnh vực. Đặc biệt các vị Vua trong triều đại Bangkok, có nhiều vị đã xuất gia tu học và sáng tác nhiều tác phẩm văn học Phật giáo giá trị dé công hiến cho đời. Có thể nói triều đại Bangkok là một triều đại ủng hộ cho Phật giáo phát triển mọi mặt. Nhất là Vua Rama IV (vua Mongkut) đã xuất gia tu học ở Chùa Bovoranives, ông đã tổ chức biên tập lại Tam Tạng Thánh Điển Phat giáo, băng tiếng Pali vào năm 1888, đến năm 1893 hoàn thành với 39 quyền.
Đây là một bộ Tam Tạng Thánh Điền Phật giáo đầu tiên trên thế giới băng tiếng Pali 13 được in trên giấy (trước đây chỉ viết trên lá bối). Bộ Tam Tạng này sau đó được ấn tống ra rất nhiều dé gửi tặng các nhà tu hành trên thé giới. Nhà vua cũng cho thành lập hệ phái Dhammayuttika gồm các tu sĩ tu hạnh đầu đà, vẫn còn hoạt động cho đến ngày nay ở miền Đông Bắc, song song với hệ phái chính là Maha Nikaya là hệ phái của đa số tu sĩ Thái. Bên cạnh đạo Phật, đạo Hồi cũng là một tôn giáo phố biến ở Thái Lan.
Theo các nhà nghiên cứu của Thái Lan, đạo Hồi ở Thái Lan xuất hiện từ trước khi Vương quốc Sukhothai hình thành, chủ yếu do người Thái gốc Mã Lai du nhập vào Thái Lan. Ban dau tôn giáo này phổ biến ở tỉnh Pattani năm sát biên giới Thái Lan - Malaysia, sau đó lan rộng ra các tỉnh ở miền Nam bao gồm Narathiwat, Yala, Satun và Songkhla. Nhóm người Thái gốc Mã Lai chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cộng đồng Hồi giáo ở Thái Lan hiện nay, khoảng 1.6 triệu người [Văn phòng Thống kê Quốc gia Thái Lan, 2021]. Theo cuốn “History of the Malay Kingdom of Pattani’” (tam dịch: Lịch sử vương quốc Mã Lai tai Pattani) của Ibrahim Syukri, Conner Bailey và John N.
Miksic xuất bản năm 1985, một nhóm người Hồi giáo cũng khá đông đảo khác có nguồn gốc từ Ba Tu (Iran ngày nay). Khoảng 400 năm trước, những thương gia Ba Tư đầu tiên đã đến vương quốc Xiêm buôn bán, trong đó có thương gia Amad Kumi - được xem là người đầu tiên tuyên truyền giáo lý đạo Hồi dong Shiite vào Thái Lan và được vua Song Tham tin dùng, trao cho quyên cai quản việc buôn ban của các tàu thuyén ra vào cảng Xiêm. Ong cũng là người sáng lập ra các dòng họ Hồi giáo gốc Ba Tư giàu có và sinh sống dọc sông Chao Phraya, cửa ngõ tấp nập của các tàu thuyền buôn bán quốc tế ra vào Thái Lan thuở bấy giờ. Nhóm thứ ba có nguồn gốc từ đảo Java nhập cư vào Thái Lan từ thời vua Chulalongkorn vào nửa cuối thế kỷ 19.
Những người Hồi giáo từ Indonesia tìm đến Vuong quéc Xiêm để kiếm việc làm, bởi mức thu nhập ở đây cao gấp ba lần so với ở đảo Java. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, quân 14 đội Nhật Bản đã đem tù binh từ Java tới Thái Lan và xây dựng nên tuyến đường sắt bắc qua sông Kwai nối giữa Thái Lan và Myanmar. Sau khi quân đội Thái Lan bại trận, những người Java đã ở lại Thái Lan. Ngày nay, người Hồi giáo gốc Java sống chủ yếu ở Bangkok và là nhóm người Hồi giáo lớn thứ hai ở Thái Lan, chỉ sau nhóm gốc Mã Lai.
Nhóm thứ tư có nguồn sốc từ Nam Á, chủ yếu là người An Độ, Bangladesh, Pakistan va Afghanistan. Theo Chuleeporn Virunha trong bài bao “Past Perception of Local Identity in the Upper Peninsular Area: A Comparative Study of Thai and Malay Historical Literatures” tại Hội nghị Quéc tế Dai hoc Walailak (ngày 5-7/2/2004) (tam dịch: Nhận thức trong quá khứ về bản sắc địa phương ở khu vực thượng bán đảo: Nghiên cứu so sánh văn học lịch sử Thái Lan và Mã Lai), một số lượng tầng lớp thương nhân giàu có người Hồi giáo An Độ đã được hình thành dưới triều đại Ayutthaya và nhanh chóng mở rộng ra khắp cả nước. Ngoài ra, còn một nhóm nhỏ hơn là những người Hồi giáo nhập cư trái phép vào Thái Lan qua đường biên giới với Trung Quốc, định cư ở các tỉnh Chiang Rai, Chiang Mai, Lamphun và Mae Hong Son từ thời vua Chulalongkorn khoảng 100 năm về trước. Hau hết người Hồi giáo tại miền Nam nói tiếng Thái, cho con cái theo học trường học của Chính phủ và làm các công việc như người Thái bản địa.
Tuy nhiên, họ vẫn giữ văn hóa gốc, trong các nhóm người Hồi giáo, văn hóa Mã Lai nổi trội hơn cả. Người theo đạo Hồi vẫn nói tiếng Mã Lai, ăn mặc, sinh hoạt theo phong tục cổ truyền của người Mã Lai. Theo nghiên cứu “Chính sách của Thái Lan với dân tộc thiểu số”, Thái Lan vào năm 2019 có 23 dân tộc.