Đặt vấn đề Nước ta là một nước nông nghiệp với cơ cấu khoảng 70% dân số làm nghề nông nghiệp. Bên cạnh ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi có vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp, đóng góp 15-22% GDP vào nền kinh tế. Nói đến ngành chăn nuôi chúng ta phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân. Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu thập và là cơ hội làm giàu cho nông dân.
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta có nhiều chuyển biến rõ rệt tăng cả về số lượng và chất lượng. Song việc chăn nuôi đang gặp nhiều khó khăn. Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng chủ yếu đến hiệu quả chăn nuôi đó là dịch bệnh. Để chăn nuôi lợn có hiệu quả, ngoài việc thực hiện tốt quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng thì vấn đề vệ sinh phòng bệnh cần được đặc biệt quan tâm.
Bởi dịch bệnh xảy ra là nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống, sự sinh sản, sinh trưởng và phát triển của đàn lợn .Ngoài các bệnh truyền nhiễm thì hội chứng tiêu chảy ở lợn cũng rất đáng lo ngại, làm ảnh hưởng đáng kể tới tỉ lệ nuôi sống và sức sinh trưởng của lợn. Đã có nhiều công trình nghiên cứu phòng trị bệnh nhưng vì tính chất phức tạp của nguyên nhân gây bệnh đã có nhiều loại kháng sinh và hóa dược được sử dụng để phòng và trị bệnh nhưng các kết quả thu được lại không như mong muốn, lợn khỏi bệnh thường còi cọc, chậm lớn…làm tăng chi phí trong chăn nuôi… ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế người chăn nuôi. h 2 Xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất đó, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:“Thực hiện quy trình chăn nuôi và theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn nuôi thịt và biện pháp điều trị tại trại chăn nuôi Quân Dung, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên” 1. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1.
Mục tiêu - Học hỏi, nắm bắt và thực hiện tốt quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị bệnh trên đàn lợn nuôi thịt tại trại chăn nuôi Quân Dung – Thịnh Đức – Thái Nguyên 1. Yều cầu của chuyên đề - Thực hiện tốt quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị bệnh trên đàn lợn ngoại nuôi thịt tại cơ sở. - Theo dõi, xác định được tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết do hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn thịt nuôi tại cơ sở. - Thử nghiệm và từ đó đề xuất phác đồ điều trị hiệu quả nhất cho lợn mắc hội chứng tiêu chảy tại trang trại.
h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Quân Dung 2. Quá trình thành lập Trang trại chăn nuôi lợn Quân Dung nằm trên địa phận thôn Cây Thị, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên.
Trại được thành lập năm 2016, là trại lợn gia công của công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam). Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty cung cấp giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do anh Dương Văn Quân làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của công ty chăn nuôi CP Việt Nam do anh Phạm Văn Mạnh chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại. Cơ sở vật chất của trang trại * Trại lợn có khoảng 2 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, sinh viên, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân-sinh viên và các hoạt động khác của trại.
* Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí, xây dựng hệ thống như sau: - Hệ thống chuồng trại cho 600 lợn Landrace lai Yorkshire nuôi thịt bao gồm: 1 chuồng có 12 ô, kích thước 800m2. Một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng ở sinh viên, bể nước…. - Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió gồm 4 quạt to và 2 quạt nhỏ.
Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm. Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng. h 4 - Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước được bơm lên 4 bể, gồm 2 bể xây và 2 téc 2000 lít, các ống nước cho lợn uống và xả máng phân được đặt dọc tường bên ngoài chuồng.
trước khi đưa vào. Cơ cấu tổ chức nhân sự của trang trại Cơ cấu của trại được tổ chức như sau: 1 chủ trại 1 quản lý kỹ thuật. 2 sinh viên thực tập. Tình hình sản xuất của trang trại * Công tác chăn nuôi - Nhiệm vụ chính của trang trại là nuôi lợn thịt và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật.
- Thức ăn cho lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp cho từng đối tượng lợn của trại. * Công tác thú y: Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty chăn nuôi CP Việt Nam. - Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Hàng ngày luôn có sinh viên quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, chất thải trong quá trình sản xuất, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định.
Chủ trại, kỹ sư, SVTT, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động. - Công tác phòng bệnh: hành lang và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại h 5 cổng vào. Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho tiêm phòng vắc xin đầy đủ. - Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật.
Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn. Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%. - Công tác điều trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 – 90% trong một thời gian ngắn. Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn.
Thuận lợi và khó khăn 2. Thuận lợi - Được sự quan tâm của Uỷ ban nhân dân xã tạo điều kiện cho sự phát triển của trại. - Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông. - Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và SVTT.
- Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất. - Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại. Khó khăn - Dịch bệnh diễn biến phức tạp, nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng phát triển của lợn. h 6 - Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị xuống cấp, hư hỏng làm ảnh hưởng đến công tác sản xuất.
- Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm tiêu hóa của lợn giai đoạn sau cai sữa Sau cai sữa thức ăn của lợn con chuyển chủ yếu từ sữa mẹ sang thức ăn hỗn hợp do đó mà hệ tiêu hóa của lợn cũng có sự thay đổi để thích ứng với điều này. Lợn là loài động vật ăn tạp, bất cứ loại thực phẩm nào dù sống hay chín đều có thể ăn được.
Lợn nặng 90 – 100kg có dung tích dạ dày 5 – 6 lít và có chiều dài ruột non dài gấp 14 lần thân của nó, vì thế lợn tiêu hóa và đồng hóa thức ăn tốt. Tuy nhiên, lợn con có bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện, nhưng tốc độ sinh trưởng cao, do đó ta cần có chế độ ăn uống thích hợp cho chúng. Theo Đỗ Văn Chiến (2010) [2], bộ máy tiêu hóa của lợn có sự phát triển ở tốc độ khác nhau và dần hoàn thiện, sau cai sữa 10 ngày dạ dày sẽ dần phát triển, có dung tích lớn hơn, lượng men tiêu hóa tiết nhiều đặc biệt là men pepsinogen và axit HCl. Để dạ dày lợn hoàn thiện sớm thì cần phải cho lợn tập ăn càng sớm càng tốt.
Sau cai sữa ruột non phát triển chậm lại, độ sâu của khe bờ vi nhung mao thành ruột phải lơn hơn để thích nghi với sự thay đổi thức ăn. Bù lại với sự phát triển chậm của ruột non thì ruột già ở lợn con lại phát triên rất mạnh giúp cho lợn con sống độc lập sau cai sữa. Lúc bú sữa, lợn con tiết ra dịch vị khoảng 31% (vào ban ngày) và 69% (ban đêm), do đó cũng thường bú nhiều vào ban đêm. Lợn trưởng thành thì ngược lại, vào ban ngày dịch vị của nó tiết ra 62%, lúc đên chỉ còn 38%.
Đối với lợn chăn nuôi trang trại quy mô công nghiệp, lợn con sau 21-28 ngày tuổi bắt đầu chuyển sang nuôi thịt thương phẩm. Lợn con sau cai sữa h 7 đến 60 ngày tuổi hệ tiêu hóa còn chưa hoàn thiện đầy đủ rất dễ mắc các bệnh đường tiêu hóa.