Khóa luận đánh giá ảnh hưởng hoạt động khai thác quặng đến môi trường Mỏ Sắt Trại Cau - Huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên

Nghiên cứu chuyên sâu về tác động môi trường từ hoạt động khai thác quặng sắt tại Mỏ Sắt Trại Cau, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Phân tích chi tiết ảnh

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

63
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá tác động khai thác quặng sắt đến môi trường tại Trại Cau

Mỏ sắt Trại Cau nằm tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, là một trong những khu vực khai thác khoáng sản trọng điểm của vùng Đông Bắc Bộ. Hoạt động khai thác quặng sắt tại đây đã diễn ra trong nhiều năm, phục vụ nhu cầu sản xuất công nghiệp và phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, quá trình khai thác, vận chuyển và tuyển rửa quặng sắt gây ra những tác động đáng kể đến chất lượng môi trường xung quanh. Các nghiên cứu quan trắc môi trường tại mỏ sắt Trại Cau cho thấy sự ảnh hưởng đến ba thành phần môi trường chính: không khí, nước và đất. Nồng độ bụi tổng số, khí SO2, NOx trong không khí có thời điểm vượt quy chuẩn cho phép. Chất lượng nước mặt trên suối Ngàn Me và nước ngầm cũng bị ảnh hưởng bởi các hoạt động khai thác. Hàm lượng kim loại nặng như sắt, mangan trong nước thải sản xuất có dấu hiệu tăng cao. Việc đánh giá toàn diện tác động môi trường giúp xác định mức độ ô nhiễm, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý và giảm thiểu phù hợp, đảm bảo phát triển bền vững cho khu vực.

1.1. Vị trí địa lý và quy mô khai thác mỏ sắt Trại Cau

Mỏ sắt Trại Cau tọa lạc tại thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Đây là khu vực có trữ lượng quặng sắt đáng kể, được khai thác phục vụ nhu cầu sản xuất thép và vật liệu xây dựng. Quy trình khai thác bao gồm các công đoạn chính: nổ mìn phá đá, xúc bốc quặng, vận chuyển đến khu vực tuyển rửa và xử lý. Khu vực khai trường trải rộng với nhiều tầng khai thác sâu, cùng các bãi thải quy mô lớn. Hệ thống đường vận chuyển quặng kết nối trực tiếp với khu vực tuyển rửa, tạo thành chuỗi hoạt động khai thác liên tục. Quy mô sản lượng khai thác tăng qua các năm, đặt ra thách thức lớn trong việc kiểm soát tác động môi trường.

1.2. Mục tiêu đánh giá tác động môi trường tại mỏ sắt

Đánh giá tác động môi trường tại mỏ sắt Trại Cau nhằm đạt được nhiều mục tiêu cụ thể. Thứ nhất, xác định mức độ ô nhiễm không khí, nước và đất do hoạt động khai thác gây ra. Thứ hai, so sánh các chỉ tiêu quan trắc với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành như QCVN 05:2013/BTNMT cho không khí, QCVN 08-MT:2015 cho nước mặt và QCVN 40:2011/BTNMT cho nước thải. Thứ ba, nhận diện các nguồn gây ô nhiễm chính trong quy trình khai thác và tuyển rửa quặng. Thứ tư, đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Việc đánh giá dựa trên số liệu quan trắc thực tế qua nhiều đợt, đảm bảo tính chính xác và đại diện cho hiện trạng môi trường khu vực.

II. Phân tích hiện trạng ô nhiễm môi trường do khai thác quặng sắt tại Trại Cau

Kết quả quan trắc chất lượng môi trường tại mỏ sắt Trại Cau qua các đợt năm 2017 và 2018 cho thấy nhiều vấn đề đáng lo ngại. Về môi trường không khí, nồng độ bụi tổng số tại một số vị trí gần khu vực khai trường và đường vận chuyển vượt quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT. Các chỉ tiêu SO2 và NOx tuy nằm trong giới hạn cho phép nhưng có xu hướng tăng tại các khu vực gần nguồn phát thải. Về môi trường nước, kết quả phân tích mẫu nước mặt trên suối Ngàn Me cho thấy một số chỉ tiêu như TSS, hàm lượng sắt có thời điểm vượt ngưỡng. Nước thải sản xuất tại khu vực tuyển rửa quặng chứa hàm lượng kim loại nặng cao, đặc biệt là sắt và mangan. Mẫu nước ngầm tại một số vị trí gần khu vực khai thác cũng ghi nhận sự gia tăng hàm lượng kim loại. Chất lượng đất trong khu vực bị ảnh hưởng bởi bụi quặng và nước thải chứa kim loại nặng lắng đọng. Các chỉ tiêu coliform trong nước thải có thời điểm vượt quy chuẩn, phản ánh nguy cơ ô nhiễm vi sinh.

2.1. Ô nhiễm không khí từ bụi và khí thải tại khu vực mỏ

Hoạt động khai thác quặng sắt tại Trại Cau phát sinh nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí chính. Các nguồn bao gồm: bụi từ nổ mìn phá đá, bụi từ quá trình xúc bốc và vận chuyển quặng, khí thải từ máy móc thiết bị hoạt động, bụi từ khu vực bãi thải. Kết quả quan trắc tại bảy điểm mẫu khí cho thấy nồng độ bụi tổng số dao động đáng kể giữa các vị trí. Tại các điểm gần khu vực khai trường tầng sâu và đường vận chuyển, nồng độ bụi thường cao hơn so với khu vực xa. Chỉ tiêu SO2 và NOx được ghi nhận ở mức an toàn theo QCVN 05:2013/BTNMT nhưng vẫn cần theo dõi liên tục.

2.2. Ô nhiễm nguồn nước mặt nước ngầm và nước thải sản xuất

Nước mặt trên suối Ngàn Me chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hoạt động khai thác và tuyển rửa quặng sắt. Kết quả phân tích tại hai điểm mẫu NM.1 và NM.2 cho thấy sự khác biệt về chất lượng nước trước và sau khu vực công trường. Các chỉ tiêu TSS, hàm lượng sắt và mangan có xu hướng tăng tại điểm sau công trường. Nước thải sản xuất từ quá trình tuyển rửa chứa nhiều kim loại nặng, đặc biệt hàm lượng kẽm có thời điểm đạt 1,21 mg/l, gần ngưỡng giới hạn 3 mg/l theo QCVN 40:2011. Nước ngầm tại các vị trí gần khu vực khai thác cũng ghi nhận hàm lượng sắt tăng, cho thấy sự thấm nhiễm từ hoạt động bề mặt.

III. Giải pháp giảm thiểu tác động khai thác quặng sắt đến môi trường tại Trại Cau

Để giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động khai thác quặng sắt đến môi trường tại mỏ sắt Trại Cau, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Giải pháp kỹ thuật bao gồm xây dựng hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn trước khi xả ra môi trường, sử dụng công nghệ phun sương dập bụi tại khu vực khai trường và đường vận chuyển. Hệ thống che chắn và trồng cây xanh xung quanh khu vực bãi thải giúp giảm phát tán bụi. Giải pháp quản lý bao gồm tăng cường tần suất quan trắc môi trường, giám sát chặt chẽ quy trình xả thải. Việc lập kế hoạch cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác cần được thực hiện song song với quá trình sản xuất. Đào tạo nhận thức cho công nhân về bảo vệ môi trường cũng là yếu tố quan trọng. Các giải pháp cần được đầu tư kinh phí thỏa đáng và có sự phối hợp giữa doanh nghiệp, chính quyền địa phương và cơ quan quản lý môi trường để đạt hiệu quả tối ưu.

3.1. Biện pháp kỹ thuật xử lý ô nhiễm và giảm thiểu bụi

Các biện pháp kỹ thuật xử lý ô nhiễm tại mỏ sắt Trại Cau cần tập trung vào ba lĩnh vực chính. Đối với ô nhiễm không khí, hệ thống phun nước dập bụi cần được lắp đặt tại các vị trí nổ mìn, khu vực xúc bốc và dọc đường vận chuyển quặng. Xe vận chuyển phải được che phủ bạt kín và rửa bánh trước khi ra khỏi công trường. Đối với ô nhiễm nước, hệ thống hồ lắng và bể xử lý hóa lý cần được đầu tư để xử lý nước thải tuyển rửa trước khi tái sử dụng hoặc thải ra môi trường. Mương thu gom nước mưa chảy tràn cần được xây dựng để ngăn nước ô nhiễm lan rộng.

3.2. Giải pháp quản lý và giám sát chất lượng môi trường

Giải pháp quản lý đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát ô nhiễm tại mỏ sắt Trại Cau. Doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001. Tần suất quan trắc môi trường cần được tăng lên, đặc biệt tại các vị trí nhạy cảm gần khu dân cư và nguồn nước sinh hoạt. Báo cáo giám sát môi trường định kỳ phải được gửi đến cơ quan chức năng đúng quy định. Chính quyền địa phương cần tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm quy định về bảo vệ môi trường. Kế hoạch cải tạo phục hồi môi trường phải được lập ngay từ giai đoạn khai thác.

IV. Kết luận và ứng dụng đánh giá tác động môi trường khai thác quặng sắt Trại Cau

Nghiên cứu đánh giá tác động của hoạt động khai thác quặng sắt đến chất lượng môi trường tại mỏ sắt Trại Cau đã cung cấp bức tranh toàn diện về hiện trạng ô nhiễm khu vực. Kết quả cho thấy hoạt động khai thác gây ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng không khí, nước và đất. Nồng độ bụi tổng số tại một số vị trí vượt quy chuẩn, hàm lượng kim loại nặng trong nước thải và nước ngầm có dấu hiệu tăng. Tuy nhiên, nhiều chỉ tiêu khác vẫn nằm trong giới hạn cho phép, phản ánh mức độ ô nhiễm chưa ở mức nghiêm trọng. Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc cảnh báo sớm và định hướng các giải pháp quản lý kịp thời. Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng làm tài liệu tham khảo cho việc đánh giá tác động môi trường tại các mỏ khoáng sản tương tự trong vùng. Đồng thời, dữ liệu quan trắc thu thập được hỗ trợ cơ quan quản lý trong việc ban hành chính sách bảo vệ môi trường phù hợp với đặc thù địa phương.

4.1. Tổng hợp kết quả đánh giá và mức độ ảnh hưởng

Tổng hợp kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ ảnh hưởng đến môi trường không khí ở mức trung bình, với bụi tổng số là chỉ tiêu đáng quan ngại nhất. Môi trường nước chịu ảnh hưởng rõ nét hơn, đặc biệt nước thải sản xuất từ khu vực tuyển rửa quặng chứa hàm lượng kim loại nặng cao. Hàm lượng sắt trong nước thải đạt 0,932 mg/l, mangan đạt 0,83 mg/l ở một số thời điểm. Chỉ tiêu coliform trong nước thải có đợt vượt quy chuẩn, đạt 6100 vi khuẩn/100ml so với giới hạn 5000. Mức độ ảnh hưởng giảm dần theo khoảng cách từ khu vực khai thác, cho thấy nguồn ô nhiễm chủ yếu từ hoạt động sản xuất tại chỗ.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu cho phát triển bền vững

Kết quả nghiên cứu đánh giá tác động môi trường tại mỏ sắt Trại Cau có nhiều ứng dụng thực tiễn. Dữ liệu quan trắc cung cấp cơ sở khoa học cho việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của dự án. Các chỉ tiêu vượt quy chuẩn được xác định rõ ràng giúp doanh nghiệp ưu tiên đầu tư công nghệ xử lý phù hợp. Kết quả nghiên cứu cũng hỗ trợ chính quyền huyện Đồng Hỷ và tỉnh Thái Nguyên trong quy hoạch sử dụng đất, bảo vệ nguồn nước sinh hoạt cho khu dân cư. Mô hình đánh giá có thể nhân rộng áp dụng cho các mỏ khoáng sản khác trong khu vực Đông Bắc Bộ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Khóa luận đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác quặng đến chất lượng môi trường tại mỏ sắt trại cau huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I của Luật Bảo vệ môi trường năm Việt Nam 2014) Ô nhiễm môi trường nước: Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi theo chiều tiêu cực của các tính chất vật lý - hóa học - sinh học của nước, với sự xuất hiện của các chất lạ 5 ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc lại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng các sinh vật trong nước. Ô nhiễm môi trường đất: Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn cảu các quần xã sống trong đất. Ô nhiễm môi trường không khí: Ô nhiễm không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí, chủ yếu do khói, bụi, hơi hoặc các khí lạ được đưa vào không khí, có sự tỏa mùi, làm giảm tầm nhìn xa, gây biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và cũng có thể gây hại cho các sinh vật khác như động vật và cây lương thực, và có thể làm hỏng môi trường tự nhiên hoặc xây dựng.

Hoạt động của con người và các quá trình tự nhiên có thể gây ra ô nhiễm không khí. Cơ sở pháp lý - Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014; - Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của chính phủ v/v Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. - Thông tư số 24/2017/TT-BTNMT ngày 01/09/2011 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường. - Các tiêu chuẩn, quy chuẩn áp dụng: + Các tiêu chuẩn vệ sinh lao động ban hành theo Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế (bao gồm: 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 5 nguyên tắc và 7 thông số vệ sinh lao động) và các tiêu chuẩn môi trường lao động khác có liên quan.

+ QCVN 24/2016/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn - Mức tiếp xúc cho phép tiếng ồn tại nơi làm việc. + QCVN 06:2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh. 6 + QCVN 26:2010/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về tiếng ồn; + QCVN 27:2010/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về độ rung. + QCVN 05:2013/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về không khí xung quanh; + QCVN 08 - MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt; + QCVN 09 - MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ngầm; + QCVN 14:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải sinh hoạt; + QCVN 40:2011/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải công nghiệp; + QCVN 03 - MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về giới hạn cho phép của một số kim loại nặng trong đất.

Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 2. Tình hình khai thác khoáng sản trên thế giới Hoạt động khai thác khoáng sản đã phát triển mạnh từ thập kỷ trước ở nhiều quốc gia giàu tài nguyên như Nga, Mỹ, Australia, Campuchia… nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng nguyên liệu khoáng sản của thế giới như quặng sắt, chì, thiếc, sắt, than đá,… Mặc dù đây là nguồn thu quan trọng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia nhưng ngành này cũng gây ảnh hưởng và tác động đến môi trường và xã hội nghiệm trọng. Con người hiện nay đang sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản với một tốc độ nhanh hơn tốc độ tái tạo và cung cấp của trái đất đến 20%. Trong vòng 40 năm, từ năm 1961 đến 2001, mức tiêu thụ nguồn nguyên liệu khai thác từ lòng đất như than, khí đốt và dầu hỏa đã tăng với tỷ lệ 700%.

Trong đó, trái đất không có đủ thời gian để hấp thụ hết một lượng khí CO2 khổng lồ tạo ra từ 7 những hoạt động sản xuất và khai thác của con người. Hậu quả là lượng khí thải không được hấp thụ đó đã dần hủy hoại tầng ozon bảo vệ trái đất. Trong sự phát triển của nền kinh tế hiện đại, những kim loại có nhu cầu lớn và có nhiều trong vỏ trái đất như nhôm, sắt và cả những kim loại có ít hơn như đồng, chì, kẽm,. đều bị khai thác triệt để, tất nhiên chỉ khai thác được chúng khi chúng tập trung thành quặng, mỏ.

Những kim loại hiếm như thiếc, thủy ngân, titan,. và các kim loại quý như vàng, bạc, bạch kim,. có trữ lượng rất ít và phân tán nên khó xác định được chính xác. Trong những chỉ số về phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, người ta thường quan tâm đến ba chỉ số: Tăng trưởng dân số, tăng trưởng sản xuất công nghiệp và tăng tổng sản lượng thu hoạch; vì sự gia tăng các chỉ số này luôn gắn liền với nhu cầu ngày càng cao về năng lượng và khoáng sản.

Làm cơ sở cho sự phát triển công nghiệp hiện nay bao gồm một số kim loại chủ yếu như sắt, đồng, nhôm, chì, kẽm,. Ở nhiều quốc gia có nền công nghiệp phát triển thì nhu cầu về các kim loại này chiếm tỉ lệ 80% - 90% tổng lượng kim loại sử dụng trên thế giới. Ngoài ra, nhu cầu về khoáng sản phi kim loại cũng tăng lên, chủ yếu được sử dụng để làm phân bón, sử dụng trong xây dựng và dùng làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp. Sau đây là một số khoáng sản kim loại chủ yếu được khai thác sử dụng trên thế giới: - Quặng sắt: Ðây là loại khoáng sản thường gặp và khá phổ biến trong vỏ trái đất, gồm bốn loại quặng có tầm quan trọng trong thương mại là: Fe3O4 (Magnetit), Fe2O3 (Hematit), FeO2 (Limonit) và FeCO3 (Siderit).

Các loại quặng này có chứa khá nhiều tạp chất nên tỷ lệ kim loại trong quặng giảm. Vùng Siberia (Liên Xô cũ) là vùng có trữ lượng sắt được xem như lớn nhất thế giới. - Quặng đồng: Mặc dù trữ lượng đồng trên thế giới ít hơn nhưng nhu cầu sử dụng cũng gia tăng. Năm 1965 sản xuất đồng trên toàn thế giới là 6,6 triệu tấn và với nhịp điệu gia tăng hàng năm từ 3,4% - 5,8%.

Vấn đề đặt ra 8 hiện nay trong công nghiệp đồng là nhu cầu về đồng càng tăng trong khi đó phẩm chất của quặng lại giảm nên giá thành của sản xuất đồng càng ngày càng tăng lên. Vì thế những công cụ truyền thống vốn làm bằng đồng dần dần được thay thế bằng nhôm hoặc bằng chất dẻo. Tình hình khai thác khoáng sản tại Việt Nam Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú với gần 5.000 mỏ và điểm quặng của khoảng 60 loại khoáng sản khác nhau. Những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do tình trạng hoạt động khai thác khoáng sản đang là vấn đề bức xúc diễn ra trên khắp cả nước.

Một thực tế không thể phủ nhận rằng, không dễ dàng kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội với BVMT, khai thác và sử dụng một cách hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, nhất là đối với nước ta, trong giai đoạn đầu của thời kỳ CNH - HĐH, khi mà nền kinh tế về cơ bản vẫn phải dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn có hạn. Từ khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, công tác điều tra địa chất và tìm kiếm thăm dò khoáng sản mới được triển khai trên quy mô toàn lãnh thổ Việt Nam. Trong công tác điều tra cơ bản, bằng việc lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1/50.000, đã phát hiện thêm nhiều vùng, điểm mỏ có triển vọng lớn. Theo kết quả của công tác điều tra, khảo sát, thăm dò địa chất cho thấy, Việt Nam có tiềm năng khoáng sản khá phong phú, đa dạng.

Nhiều khoáng sản có trữ lượng lớn như bôxit, quặng sắt, đất hiếm, apatit,… chủng loại khoáng sản đa dạng. Hiện trạng khai thác và chế biến một số khoáng sản kim loại chính: * Quặng sắt: Ở Việt Nam hiện nay đã phát hiện và khoanh định được trên 216 vị trí có quặng sắt, có 13 mỏ trữ lượng trên 2 triệu tấn, phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc. 9 Trong tất cả các mỏ quặng sắt của Việt Nam, đáng chú ý nhất là có hai mỏ lớn đó là mỏ sắt Quý Xa ở Lào Cai và mỏ sắt Thạch Khê ở Hà Tĩnh. Năng lực khai thác quặng sắt hiện nay có thể đáp ứng sản lượng là 500.

Theo quy hoạch phát triển ngành công nghiệp khai thác quặng sắt nước ta đã được Chính phủ phê duyệt, để đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế quốc dân giai đoạn đến năm 2025. Ngoài các mỏ sắt lộ thiên hiện đang khai thác như: Trại Cau, Nà Lũng, Ngườm Tráng. nhiều mỏ lộ thiên sẽ được đầu tư đưa vào khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế quốc dân và xuất khẩu. Hiện nay và những năm tới sản lượng quặng sắt của Việt Nam chủ yếu khai thác bằng công nghệ lộ thiên.

Các mỏ quặng sắt lộ thiên của Việt Nam đều có cấu trúc địa chất phức tạp. Địa tầng phía trên gồm trầm tích Đệ tứ, Neogen và các tàn tích, đây là các loại đất yếu, độ bão hoà thấp. Địa tầng phía dưới thường là các loại đá vôi, đá gabro, các loại đá này do hoạt động của nước ngầm thường hình thành các hang cacstơ. Đây là nguyên nhân tạo nên dòng chảy ngầm vào các khai trường khi khai thác xuống sâu rất lớn và ảnh hưởng đến quá trình khai thác mỏ.

Các mỏ phải khai thác xuống sâu dưới mức thoát nước tự chảy, điều kiện địa chất thuỷ văn (ĐCTV), địa chất công trình (ĐCCT) của các mỏ phức tạp, khai trường chật hẹp. Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên về mùa mưa lượng bùn và nước đổ xuống đáy mỏ rất lớn, điều kiện khai thác, vận tải, xử lý bùn và thoát nước ngày càng phức tạp. Hàng năm công tác khai thác quặng chủ yếu tập trung vào 6 tháng mùa khô. * Bôxít: Nước ta có tiềm năng rất lớn về quặng bôxít với tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo đạt khoảng 5,5 tỷ tấn, phân bố chủ yếu ở tỉnh Đắc Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Bình Phước,… Nhìn chung, nước ta có trữ lượng tài nguyên bôxít lớn, chất lượng tương đối tốt, phân bố tập trung, điều kiện khai thác thuận lợi.

Mặt khác, thị 10 trường cung - cầu sản phẩm alumin trên thị trường thế giới hiện nay rất thuận lợi cho phát triển ngành công nghiệp nhôm ở nước ta.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ