Luận văn thạc sĩ về quản lý thực vật xâm hại tại Lạng Sơn

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý thực vật xâm hại trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn. Phân tích các biện pháp bảo vệ môi trường và

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

115
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu thực vật xâm hại

Thực vật xâm hại là những loài thực vật ngoại lai có khả năng sinh trưởng mạnh, lan rộng nhanh và gây ra những tác động tiêu cực đến hệ sinh thái bản địa. Nghiên cứu thực trạng quản lý thực vật xâm hại đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững. Trên phạm vi toàn cầu, thực vật xâm hại đã trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với các hệ sinh thái tự nhiên. Tại Việt Nam, nhiều loài thực vật ngoại lai xâm hại đã được ghi nhận, trong đó huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề. Các loài như cỏ lào (Chromolaena odorata), cỏ phấn (Ageratum conyzoides) và mai dương (Mimosa pigra) đã xâm chiếm nhiều diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp. Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, mức độ phân bố và tác động của các loài này là cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược quản lý hiệu quả. Luận văn của Nguyễn Thị Quỳnh (2019) tại Trường Đại học Lâm nghiệp đã cung cấp dữ liệu quan trọng về thực trạng này tại huyện Văn Quan.

1.1. Khái niệm và đặc điểm sinh học của thực vật ngoại lai xâm hại

Sinh vật ngoại lai xâm hại (Invasive Alien Species – IAS) là những loài sinh vật được con người đưa ra ngoài vùng phân bố tự nhiên của chúng, có khả năng sinh sản và lan rộng mạnh trong môi trường mới. Thực vật ngoại lai xâm hại sở hữu nhiều đặc điểm sinh học ưu việt như khả năng sinh sản vô tính mạnh, tốc độ tăng trưởng nhanh, chịu đựng tốt trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Các loài này thường có cơ chế phát tán hạt giống hiệu quả nhờ gió, nước hoặc động vật. Tại huyện Văn Quan, các loài thực vật xâm hại chủ yếu thuộc các họ Asteraceae, Fabaceae và Poaceae, phân bố rộng rãi ở vùng đất trống, đồi núi và ven suối.

1.2. Tình hình thực vật xâm hại trên thế giới và tại Việt Nam

Trên thế giới, thực vật xâm hại gây thiệt hại hàng tỷ đô la mỗi năm cho nền kinh tế toàn cầu. Tại khu vực Châu Úc – Thái Bình Dương, nhiều quốc gia đã phải triển khai chương trình kiểm soát quy mô lớn đối với các loài như lục bình, cỏ lào. Khu vực Nam và Đông Nam Á cũng chịu ảnh hưởng nặng nề do điều kiện khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho sự phát triển của thực vật xâm hại. Tại Việt Nam, theo Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, công tác quản lý và kiểm soát sinh vật lạ xâm lấn được xác định là nội dung trọng tâm trong kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020.

II. Phân tích thực trạng quản lý thực vật xâm hại

Thực trạng quản lý thực vật xâm hại tại huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn cho thấy nhiều thách thức đáng quan ngại. Kết quả điều tra tại khu vực nghiên cứu ghi nhận sự hiện diện của nhiều loài thực vật xâm hại nguy hiểm. Cỏ lào (Chromolaena odorata) là loài phổ biến nhất, mọc thành bụi cao hơn 2 mét, xâm chiếm mạnh đất nông nghiệp và lâm nghiệp. Loài này sinh sản vô tính cực kỳ mạnh, ngọn non chỉ cần một tuần là mọc rễ mới, chặt sát gốc càng đâm chồi dữ dội. Ngoài ra, các loài khác như cỏ phấn, mai dương, cỏ tranh cũng gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng. Quản lý thực vật xâm hại hiện nay còn manh mún, thiếu đồng bộ. Phần lớn người dân chưa nhận thức đầy đủ về mức độ nguy hại của các loài này. Công tác diệt trừ chủ yếu dựa vào phương pháp thủ công, tốn nhiều nhân lực nhưng hiệu quả không cao. Ngân sách đầu tư cho công tác quản lý còn hạn chế, thiếu trang thiết bị chuyên dụng và nguồn nhân lực có chuyên môn.

2.1. Các loài thực vật xâm hại chính tại huyện Văn Quan

Nghiên cứu tại huyện Văn Quan xác định được nhiều loài thực vật xâm hại nguy hiểm. Cỏ lào (Chromolaena odorata) thuộc họ Cúc, là cây ưa sáng, chịu hạn tốt, lá mọc đối hình quả trám lệch, hoa đầu hình trụ màu trắng, quả có túm lông phát tán xa nhờ gió. Cỏ phấn (Ageratum conyzoides) thuộc họ Cúc, mọc thành đám dày trên đất ẩm. Mai dương (Mimosa pigra) thuộc họ Đậu, có gai và khả năng sinh trưởng nhanh. Các loài này phân bố chủ yếu ở đất trống đồi núi, nương rẫy bỏ hoang và ven suối, gây cạnh tranh nghiêm trọng với thực vật bản địa.

2.2. Tác động của thực vật xâm hại đến hệ sinh thái và đời sống

Thực vật xâm hại gây ra những tác động đa chiều đến hệ sinh thái và đời sống người dân huyện Văn Quan. Về mặt sinh thái, chúng cạnh tranh quyết liệt với loài bản địa về ánh sáng, nước và dinh dưỡng, làm giảm đa dạng sinh học. Thực vật xâm hại còn thay đổi cấu trúc và thành phần quần xã thực vật, ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn. Về kinh tế, chúng xâm chiếm đất canh tác, giảm năng suất cây trồng, tăng chi phí sản xuất. Môi trường sống của các loài động vật hoang dã cũng bị thu hẹp đáng kể. Ngoài ra, một số loài còn gây cháy rừng vào mùa khô hạn.

III. Giải pháp quản lý và kiểm soát thực vật xâm hại

Quản lý thực vật xâm hại đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa nhiều phương pháp và giải pháp khác nhau. Phương pháp cơ học bao gồm cắt bỏ, nhổ bỏ và đốt cháy là cách phổ biến nhất hiện nay tại huyện Văn Quan. Tuy nhiên, phương pháp này tốn nhiều nhân lực và chỉ mang tính tạm thời nếu không được duy trì thường xuyên. Phương pháp sinh học sử dụng các loài thiên địch để kiểm soát sự phát triển của thực vật xâm hại đang được nghiên cứu áp dụng. Phương pháp hóa học sử dụng thuốc diệt cỏ cần được thực hiện cẩn thận để tránh ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người. Giải pháp quản lý thực vật xâm hại hiệu quả nhất là tích hợp nhiều phương pháp, kết hợp giữa phòng ngừa, kiểm soát và phục hồi hệ sinh thái. Cần xây dựng hệ thống giám sát thường xuyên, nâng cao nhận thức cộng đồng và tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác quản lý.

3.1. Biện pháp phòng ngừa và kiểm soát sinh học thực vật xâm hại

Biện pháp phòng ngừa là yếu tố then chốt trong quản lý thực vật xâm hại. Cần kiểm soát nghiêm ngặt việc nhập khẩu và di chuyển các loài thực vật ngoại lai qua biên giới. Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm để phát hiện kịp thời sự xâm nhập của loài mới. Kiểm soát sinh học sử dụng sâu bệnh tự nhiên, nấm ký sinh để hạn chế sự phát triển của thực vật xâm hại. Tại huyện Văn Quan, việc trồng phủ xanh đất trống bằng các loài cây bản địa có khả năng cạnh tranh cao là giải pháp phòng ngừa hiệu quả. Đồng thời, cần tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân về tác hại và cách nhận biết các loài thực vật xâm hại nguy hiểm.

3.2. Cơ chế chính sách và vai trò của pháp luật trong quản lý thực vật xâm hại

Khung pháp lý đóng vai trò nền tảng trong công tác quản lý thực vật xâm hại. Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã xác định quản lý và kiểm soát sinh vật lạ xâm lấn là nội dung trọng tâm. Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đa dạng sinh học được Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Chính phủ năm 2011. Cần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tăng cường chế tài xử phạt đối với hành vi cố ý phát tán loài xâm hại. Phân định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành và địa phương trong công tác quản lý. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, đảm bảo nguồn lực tài chính và nhân lực cho các chương trình kiểm soát.

IV. Kết luận và ứng dụng trong quản lý thực vật xâm hại

Nghiên cứu thực trạng quản lý thực vật xâm hại tại huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn đã cung cấp những kết quả quan trọng. Kết quả điều tra xác định được 10 loài thực vật xâm hại chính thuộc nhiều họ thực vật khác nhau như Asteraceae, Fabaceae, Poaceae. Cỏ lào (Chromolaena odorata) là loài phổ biến nhất và gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất. Thực trạng quản lý hiện nay còn nhiều hạn chế về nhận thức cộng đồng, nguồn lực và phương pháp. Đề xuất giải pháp tích hợp bao gồm kết hợp phương pháp cơ học, sinh học và hóa học. Cần xây dựng hệ thống giám sát thường xuyên, nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý. Nghiên cứu này là cơ sở khoa học để các cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch hành động cụ thể. Kết quả cũng có thể áp dụng cho các khu vực tương tự tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội giống huyện Văn Quan.

4.1. Kết quả nghiên cứu chính về thực trạng quản lý thực vật xâm hại

Nghiên cứu đã ghi nhận 10 loài thực vật xâm hại thuộc 6 bộ và 5 họ thực vật tại huyện Văn Quan. Trong đó có 2 loài thuộc bộ Asterales họ Asteraceae, 2 loài thuộc bộ Poales họ Poaceae, 3 loài thuộc bộ Fabales họ Fabaceae. Đặc điểm sinh học của từng loài được mô tả chi tiết, đặc biệt cỏ lào có khả năng sinh sản vô tính mạnh, mọc rễ chỉ sau một tuần. Thực trạng quản lý cho thấy việc diệt trừ chủ yếu bằng phương pháp thủ công, chưa có kế hoạch tổng thể. Nhận thức của người dân về tác hại của thực vật xâm hại còn thấp, thiếu kiến thức về cách nhận biết và xử lý hiệu quả.

4.2. Ứng dụng và định hướng phát triển bền vững

Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác quản lý thực vật xâm hại tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Định hướng phát triển bao gồm xây dựng bản đồ phân bố thực vật xâm hại phục vụ quy hoạch sử dụng đất. Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế sinh học và khả năng cạnh tranh của từng loài để tìm phương pháp kiểm soát tối ưu. Phát triển mô hình quản lý tích hợp cộng đồng, gắn liền với phát triển kinh tế địa phương. Tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và chia sẻ kinh nghiệm quản lý. Đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu về quản lý sinh vật ngoại lai xâm hại tại các trường đại học và viện nghiên cứu.

28/05/2026
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý thực vật xâm hại trên địa bàn huyện văn quan tỉnh lạng sơn

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Sự suy giảm đa dạng sinh học đã và đang là mối lo chung của toàn nhân loại. Trong nhiều nguyên nhân gây tổn thất đa dạng sinh học thì các loài SVNLXH đƣợc coi là một trong những mối đe dọa nguy hiểm nhất. Chúng đang ngày càng mở rộng khu phân bố, cạnh tranh gay gắt đến mức hủy diệt các loài bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tự nhiên. Các loài SVNLXH có mặt trong hầu hết các nhóm sinh vật, từ vi sinh vật, nấm, thực vật bậc cao đến các loài động vật.

Trong các loài ngoại lai xâm hại thì thực vật ngoại lai là một trong những nhóm có mức nguy hại lớn do chúng có khả năng phát tán nhanh chóng và gây xâm lấn, hủy diệt các loài bản địa. Việt Nam đƣợc đánh giá là một trong 15 nƣớc có đa dạng sinh học (ÐDSH) cao trên thế giới. Nhƣng do tác động của nhiều yếu tố tự nhiên, ô nhiễm môi trƣờng, sinh vật ngoại lai xâm nhập, nhất là tác động của con ngƣời qua các hình thức nhƣ phá rừng, khai thác quá mức. đƣợc coi là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy giảm ÐDSH ngày một gia tăng.

Thống kê cho thấy, cả nƣớc hiện có hơn 21 nghìn loài thực vật; gần 16 nghìn loài động vật; 3.000 loài vi sinh vật và nấm tập trung chủ yếu tại một số khu vực có ÐDSH cao, nhƣ: Dãy núi Hoàng Liên Sơn, Bắc Trƣờng Sơn, Tây Nguyên, vùng Ðông Nam Bộ. Tuy nhiên, Việt Nam cũng nhƣ nhiều nƣớc trên thế giới, đang phải đối mặt tình trạng suy giảm trầm trọng các hệ sinh thái giàu ÐDSH. Tổng số các loài động vật, thực vật hoang dã trong thiên nhiên của nƣớc ta đang bị đe dọa hiện nay là 882 loài (đƣợc ghi trong Sách Ðỏ năm 2007), tăng 161 loài so với lần xuất bản Sách Ðỏ trƣớc đây (năm 1992 - 1996). Ðáng lo ngại, hiện có chín loài động vật (tê giác hai sừng, bò xám, heo vòi, cầy rái cá, cá chép gốc, cá chình Nhật, cá lợ thân thấp, hƣơu sao, cá sấu hoa cà) và hai loài lan hài đƣợc xem là đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên.

PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 2 Số liệu thống kê của Cục Bảo tồn ÐDSH (Tổng cục Môi trƣờng) cho thấy: Có 94 loài thực vật và 48 loài động vật thủy sinh ngoại lai xâm hại. Ðặc biệt, có những loài thủy sinh vật ngoại lai vào Việt Nam với số lƣợng lớn, nhƣ Ốc bƣơu vàng, loài Mai dƣơng., do không đƣợc kiểm soát, kiểm tra chặt chẽ cho nên đã xảy ra tình trạng bùng phát trong tự nhiên. Hậu quả, các loài ngoại lai này lấn át, làm suy giảm các loài sinh vật, nguồn gien, phá vỡ cấu trúc, chức năng của hệ sinh thái. Phá hại mùa màng, giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, thậm chí ảnh hƣởng sức khỏe con ngƣời.

Văn Quan là một huyện miền núi nằm ở phía tây cách thành phố Lạng Sơn 30 km trên trục đƣờng quốc lộ 1B từ Lạng Sơn đi Thái Nguyên. Diện tích rừng chiếm phần lớn với nhiều loài cây gỗ quý nhƣ: Đinh, Nghiến, Lát…Tuy nhiên trong những năm gần đây sự phát triển nhanh chóng của thực vật ngoại lai đã có ảnh hƣởng không nhỏ đến các loài thực vật bản địa, gây suy giảm đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái. Xuất phát từ những lý do đó, đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý thực vật xâm hại trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn” đƣợc thực hiện nhằm đánh giá sơ bộ đƣợc thực trạng về tình hình phát triển, những ảnh hƣởng của các loài thực vật xâm hại đến đa dạng thực vật và đề xuất quản lý thực vật xâm hại trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn góp phần hạn chế sự phát triển của thực vật xâm hại, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Tổng quan về sinh vật ngoại lai – Thực vật ngoại lai xâm hại Khái niệm về sinh vật ngoại lai xâm hại (Invasive Alien Species) đã đƣợc nhiều tác giả định ngh a và sử dụng với nhiều tên gọi khác nhau nhƣ sinh vật ngoại lai xâm hại, sinh vật gây hại lạ 21. Sinh vật xâm hại trƣớc hết nó là loài sinh vật ngoại lai đƣợc du nhập tới hệ sinh thái nhất định, gây ra những tổn hại về kinh tế, môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời[27]. Sinh vật ngoại lai: Trong một hệ sinh thái nhất định, bất kể một loài nào dù là cây con, trứng, bào tử hoặc cơ quan sinh dƣỡng của loài đó mà không có nguồn gốc tự nhiên từ hệ sinh thái đó 27. Nhƣ vậy, thực vật ngoại lai xâm hại có thể đƣợc định ngh a nhƣ sau: Trƣớc hết nó là loài thực vật ngoại lai đƣợc du nhập tới hệ sinh thái mới, gây ra những tổn hại về kinh tế, môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời.

Khái niệm này đã đƣợc quy định tại Luật Đa dạng sinh học năm 2008 nhƣ sau: Loài ngoại lai là loài sinh vật xuất hiện và phát triển ở khu vực vốn không phải là môi trƣờng sống tự nhiên của chúng. Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Ngoài ra, các khái niệm trên cũng đã đƣợc Công ƣớc Đa dạng sinh học (CBD) đề cập nhƣ sau: Sinh vật ngoại lai là loài, phân loài hay đơn vị phân loại thấp hơn đƣợc đƣa ra khỏi vùng phân bố tự nhiên của chúng, kể cả các bộ phận bất kỳ của sinh vật nhƣ các giao tử (gametes), hạt thực vật, trứng động vật hay chồi mầm PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 của những loài này có thể sống sót và sau đó sinh sản đƣợc. SVNLXH là loài sinh vật ngoại lai đã tạo lập đƣợc quần thể và phát tán, đe dọa các hệ sinh thái, nơi ở hoặc loài sinh vật khác, gây ra những tác hại về kinh tế và môi trƣờng [31].

Tất cả các nhóm sinh vật (virus, nấm, tảo, rêu, dƣơng xỉ, thực vật bậc cao, động vật không xƣơng sống, cá, lƣỡng cƣ, b sát, chim, thú) đều có nguy cơ trở thành sinh vật ngoại lai xâm hại 31. Phần lớn sinh vật xâm hại là loài ngoại lai nhƣng không phải loài ngoại lai nào cũng trở thành loài xâm hại. Nhiều loài sinh vật ngoại lai đang là nguồn lƣơng thực cần thiết trong đời sống của chúng ta (thí dụ nhƣ khoai tây, ngô,…). Mặt khác, loài bản địa cũng có thể trở thành loài xâm hại trong những điều kiện có sự thay đổi của môi trƣờng (nhƣ sự chăn thả quá mức, cháy rừng, thay đổi chế độ dinh dƣỡng, sự chiếm nơi ở của một số loài xâm hại,.

Thí dụ, loài keo bản địa của Uganda là Acacia học trở thành loài xâm hại ở nhiều vùng đồng cỏ sau sự giảm số lƣợng các động vật lớn là những tác nhân tự nhiên kìm hãm loài keo này 27. Theo số liệu của Chƣơng trình sinh vật ngoại lai xâm hại toàn cầu (GISP), trên thế giới có khoảng 22.000 loài thực vật xâm hại trên tổng số 250.000 loài thực vật, có ngh a là chiếm tỷ lệ hơn 11%. Theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế - IUCN, 2001: SVNLXH là một loài sinh vật ngoại lai đã thích nghi và phát triển trong một hệ sinh thái hoặc nơi sống tự nhiên hoặc nửa tự nhiên mới là nguyên nhân gây ra sự thay đổi và đe dọa đa dạng sinh học bản địa. Ở Việt Nam hiện tƣợng loài ngoại lai xâm hại đã xuất hiện từ những năm 1990 và gây những hậu quả nghiêm trọng.

Điều 8, khoản 8 của Công ƣớc Đa dạng sinh học đã kêu gọi các bên cùng tham gia công ƣớc: “Ngăn chặn sự du nhập, kiểm soát hoặc diệt trừ các loài ngoại PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 lai gây hại cho các hệ sinh thái, nơi sống hoặc các loài sinh vật bản địa”. Điển hình nhƣ loài Mai dƣơng (Mimosa pigra) xâm lấn dày đặc, tạo thành những vùng tập trung với diện tích khá lớn, mật độ dày ở nhiều vùng đất bán ngập dọc các đƣờng lộ hay các mƣơng nƣớc tại khu vực đồng bằng ven biển phía Nam tỉnh Thừa Thiên Huế. Loài Mai dƣơng còn cạnh trạnh với các loại thực vật bản địa về chỗ ở và thức ăn nên dẫn đến nguy cơ làm thay đổi thành phần của thảm thực vật bản địa, giảm sút tính đa dạng sinh học, thậm chí tiêu diệt các loài bản địa. Nơi loài cây này phát triển thì mật độ các loài chim, bò sát, thực vật thân thảo… giảm nhiều so với thảm thực vật bản địa.

Bên cạnh đó, loài Mai dƣơng có chứa độc tố minosine với hàm lƣợng 0,2% so với trọng lƣợng khô của lá, có thể gây nguy hiểm cho động vật bản địa. Đặc điểm chung của các SVNLXH *Loài SVNLXH là tác nhân chính gây ra những xáo động trong các hệ sinh thái Thành phần các loài sinh vật của một hệ sinh thái (HST) cụ thể tại bất cứ mọi địa điểm và từng thời gian nhất định sẽ tùy thuộc vào điều kiện hiện tại của môi trƣờng, vào mức độ và dạng xáo động đang xảy ra, sự xuất hiện và biến mất của các loài sinh vật trong HST đó và vào thành phần của nguồn cung cấp các loài sinh vật trong khu vực. Con ngƣời thƣờng có nhiều tác động và gây ra những biến đổi trong các HST trong việc thúc đẩy sự tạo thành của các loài SVNLXH các tác động của con ngƣời thể hiện trên các phƣơng diện: - Đẩy nhanh sự thay đổi môi trƣờng sống, các điều kiện tồn tại của các loài sinh vật. - Tăng trƣởng mạnh mẽ việc vận chuyển có chủ định và không có chủ định các loài sinh vật trên khắp thế giới.

PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 - Làm tăng các loài sinh vật ở các khu vực, đồng thời làm giảm loài bản địa và dẫn đến làm giảm số lƣợng các loài trên thế giới. Sự tổ hợp tác động của các nhân tố trên đây tạo nên những biến đổi cơ bản trong các HST. Những loài sinh vật có đặc điểm phù hợp giành đƣợc lợi thế từ những xáo động trong HST, thƣờng có đƣợc khả năng tồn tại và phát triển mạnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ